LThongTinKHPL: Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo pháp luật Việt Nam
Title:
Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo pháp luật Việt Nam
LAuthor:
LCapDoMat:
LTrangThaiKhaiThac:
Khai thác
TLChuyenNganh:
TLKhaiThacToanVan:
No
TLKieuFileDinhKem:
TLKieuFileDK:
TLMaSoQuanLy:
TLMucTieuPhamVi:
TLNamXB:
2006
TLNamXuatBan:
TLNhungNguoiDongGop:
TLNoiDungChiTiet:
TLNoiDungNghienCuu:
TLNoiLuuTru:
Trung tâm Thông tin - Thư viện khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý
TLPhuongPhapNC:
TLSoLanDoc:
642
TLSoLanDownload:
0
TLSoLuong:
2
TLTinhCapThiet:
TLTrangThaiXuatBan:
1
TLTuKhoa:
EnableView:
No
NoiDungToanVan:
<table align="left" cellpadding="0" cellspacing="0" height="105" hspace="0" vspace="0" width="613">
<tbody>
<tr>
<td align="left" height="105">
<p style="text-align: center;">
<strong>CHƯƠNG I</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhằm nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật hiện nay, trong chương này chúng tôi phân tích các khái niệm vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính; đặc điểm, bản chất của các biện pháp xử lý hành chính khác và mối quan hệ với xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật hình sự cũng như quá trình hình thành, phát triển các quy định pháp luật về các biện pháp này để làm cơ sở trong việc nghiên cứu các chương tiếp theo.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Khái quát về vi phạm hành chính</strong><strong>I. KHÁI QUÁT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.1 Định nghĩa vi phạm hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Tùy theo khách thể vi phạm pháp luật, mức độ và tính chất nguy hiểm cho xã hội do vi phạm gây ra, các nhà luật học đã phân chia vi phạm pháp luật thành các loại cơ bản sau: vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật; trong đó vi phạm hành chính là vi phạm pháp luật rất đa dạng xảy ra thường xuyên trong đời sống kinh tế - xã hội. Trong thời gian từ 1945 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để xác định và xử lý các hành vi vi phạm hành chính, trong đó phải kể đến những văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Nghị định số 143/CP ngày 25/7/1977 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về phạt vi cảnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 của Hội đồng Nhà nước (Pháp lệnh năm 1989)</p>
<p style="text-align: justify;">
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Pháp lệnh năm 1995).</p>
<p style="text-align: justify;">
- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/7/2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Pháp lệnh năm 2002).</p>
<p style="text-align: justify;">
Định nghĩa về vi phạm hành chính được khẳng định trong văn bản quy phạm pháp luật bắt đầu từ Pháp lệnh năm 1989. Điều 1 của Pháp lệnh này khẳng định: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính". Theo định nghĩa này, các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính bao gồm: tính trái pháp luật của hành vi; tính có lỗi của hành vi; hành vi đó bị xử phạt hành chính. Như vậy là, đối những hành vi vi phạm pháp luật, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác (giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính) thì Pháp lệnh năm 1989 chưa khẳng định rõ ràng đó là vi phạm hành chính và toàn bộ các vấn đề về nguyên tắc xử lý, thẩm quyền, trình tự thủ tục xử lý (hành chính),... đối với những chủ thể bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác được điều chỉnh rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh năm 1989.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cho đến Pháp lệnh năm 1995, Pháp lệnh này không đưa ra khái niệm trực tiếp vi phạm hành chính, mà chỉ đưa ra định nghĩa xử phạt vi phạm hành chính: "Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" (Điều 1). Tuy nhiên, điểm mới tại văn bản này xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt và các biện pháp xử lý hành chính khác. Như vậy, lần đầu tiên pháp luật Việt Nam đã quy định các biện pháp xử lý hành chính khác cùng với xử phạt vi phạm hành chính hợp thành một hệ thống các biện pháp hoàn chỉnh nhằm đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Mặc dù có thay đổi một số từ ngữ về cách diễn đạt, song trong Pháp lệnh năm 2002, xử lý vi phạm hành chính vẫn giữ nguyên bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác như trong Pháp lệnh năm 1995.</p>
<p style="text-align: justify;">
Qua phân tích, có thể nói khiếm khuyết trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành là vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về vi phạm hành chính. Hành vi "Xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước" không phải chỉ khách thể của vi phạm hành chính mà là biểu hiện tính trái pháp luật của hành vi; bởi lẽ thực hiện tội phạm, thực hiện hành vi vi phạm kỷ luật,... cũng là xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước. Trên cơ sở định nghĩa vi phạm hành chính theo Pháp lệnh năm 1989, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa vi phạm hành chính như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
"Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hay vô ý, xâm phạm đến những quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác".</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.2. Dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Cũng như các vi phạm pháp luật khác, vi phạm hành chính có những dấu hiệu pháp lý cơ bản như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
i) Trước hết vi phạm hành chính luôn là hành vi xác định của con người. Pháp luật đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, không điều chỉnh những suy nghĩ, tư tưởng nhận thức nếu nó chưa biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật hành chính, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính điều chỉnh và bảo vệ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Hành vi trái pháp luật là hành vi do chủ thể thực hiện không phù hợp với quy định pháp luật hành chính, thể hiện bằng hành động như: gây hư hại đến các công trình công cộng, công trình an ninh trật tự hoặc không hành động như: không thực hiện đúng quy định về khai báo những thay đổi trong nhân hộ khẩu gia đình.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tất nhiên, những quy định này phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật, nhằm tránh sự tùy tiện khi xử lý vi phạm hoặc hành chính hóa các quan hệ pháp luật khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Lỗi là yếu tố để xác định vi phạm pháp luật, là trạng thái, tâm lý, thái độ của người vi phạm đối với hành vi vi phạm, cũng như đối với hậu quả của hành vi tại thời điểm thực hiện. Do vậy, một hành vi trái pháp luật nhưng không có yếu tố lỗi thì không phải là vi phạm pháp luật, nên người thực hiện hành vi ấy không thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý nói chung hay trách nhiệm hành chính nói riêng. Việc đánh giá, chứng minh yếu tố lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý vi phạm hành chính một cách đúng đắn, bảo đảm tính giáo dục, phòng ngừa vi phạm pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Vi phạm hành chính là hành vi theo quy định pháp luật bị xử lý vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Xử lý các hành vi vi phạm hành chính là hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tác động vào quyền nhân thân, tài sản của cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm. Do vậy, xác định và quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính là vấn đề cần thiết. Bên cạnh ấy, cũng cần phân biệt với các hành vi vi phạm hình sự, dân sự, kỷ luật,... để có cơ sở áp dụng chính xác, tránh lạm dụng, tùy tiện làm ảnh hưởng quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, khi pháp luật không quy định hành vi thực tế là hành vi vi phạm hành chính thì người thực hiện hành vi đó không bị xử lý hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Các dấu hiệu pháp lý cơ bản trên là cơ sở để xác định hành vi vi phạm hành chính. Nếu không hội đủ các yếu tố đó, thì hành vi của các cá nhân, tổ chức không bị coi là vi phạm hành chính và sẽ không bị xử lý theo quy định pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.3 Cấu thành vi phạm hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Cũng như các vi phạm pháp luật khác, cấu thành vi phạm hành chính là tổng hợp các yếu tố pháp lý đặc trưng của những vi phạm hành chính cụ thể được pháp luật hành chính quy định bao gồm các yếu tố: Mặt khách thể, khách quan, chủ thể, chủ quan.</p>
<p style="text-align: justify;">
i) Khách thể của vi phạm hành chính</p>
<p style="text-align: justify;">
Có thể thấy khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm hành chính xâm hại, là cái mà pháp luật hướng tới để bảo vệ khỏi sự xâm hại. Đó là các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ. Khách thể của vi phạm hành chính rất đa dạng: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu nhà nước, quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, cá nhân. Như vậy, khách thể của vi phạm hành chính không phải là trật tự quản lý nếu hiểu theo nghĩa hẹp, nhưng cũng không phải là toàn bộ các quan hệ quản lý nhà nước là khách thể của vi phạm hành chính, mà chỉ là những quan hệ được bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngoài ra, các biện pháp trách nhiệm hành chính không chỉ được áp dụng để bảo vệ các quan hệ xã hội do pháp luật hành chính điều chỉnh, mà còn bảo vệ các quan hệ xã hội khác như: đất đai, lao động, tài chính,... do các ngành luật đất đai, lao động, tài chính,... điều chỉnh. Do vậy, khách thể của vi phạm hành chinh còn là các quan hệ pháp luật đất đai, lao động, tài chính,... hoặc là các quan hệ pháp luật hình sự do có những hành vi có dấu hiệu của tội phạm, nhưng chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, mà theo pháp luật hành chính thì phải xử lý hành vi vi phạm pháp luật đó bằng biện pháp xử lý hành chính khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Mặt khách quan của vi phạm hành chính</p>
<p style="text-align: justify;">
Mặt khách quan của vi phạm hành chính bao gồm toàn bộ những dấu hiệu bên ngoài của nó. Con người chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình và thông qua hành vi để đánh giá con người. Hành vi có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Hành vi của vi phạm hành chính là những tác động của cá nhân, tổ chức tới các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ, gây tác hại đến sự phát triển của trật tự quản lý với sự trợ giúp của công cụ, phương tiện trong một số trường hợp. Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại là yêu cầu đầu tiên để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhằm để phân biệt tội phạm với vi phạm khác, trong đó có vi phạm hành chính. Ví dụ hành vi xâm phạm vào tính mạng của con người bao giờ cũng là tội phạm, còn hành vi không khai báo sự thay đổi nhân khẩu trong gia đình bao giờ cũng là vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bên cạnh đó, khi xử lý vi phạm hành chính cũng cần tính đến hậu quả sự thiệt hại vật chất của vi phạm hành chính để áp dụng mức xử phạt thích hợp hoặc có thể áp dụng biện pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do bị vi phạm hành chính gây ra. Ngoài ra trong một số trường hợp, khi xem xét mặt khách quan của vi phạm hành chính còn phải xét đến thời gian, không gian, địa điểm, phương tiện, công cụ, thủ đoạn, phương pháp để thực hiện hành vi vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Chủ thể của vi phạm hành chính</p>
<p style="text-align: justify;">
Chủ thể vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành (Điều 1, Điều 6 Pháp lệnh năm 2002) là cá nhân, tổ chức. Cá nhân chịu trách nhiệm hành chính là người có năng lực hành vi. Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Theo Điều 6 của Pháp lệnh năm 2002 thì các chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý, người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo quy định pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chủ thể vi phạm hành chính bị xử lý bằng biện pháp xử lý hành chính khác sẽ được trình bày trong Chương II của chuyên đề này. Nhưng cũng lưu ý rằng các biện pháp xử lý hành chính khác không áp dụng đối với nước ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, khác với pháp luật hình sự, xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân, thì pháp luật hành chính đã xác định chủ thể của vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
iv) Mặt chủ quan của vi phạm hành chính</p>
<p style="text-align: justify;">
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là diễn biến nội tâm, phản ánh trạng thái tâm lý của người thực hiện hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của hành vi đó, được đặc trưng bởi yếu tố lỗi và có liên quan đến yếu tố lỗi là động cơ, mục đích của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Về mặt chủ quan, yếu tố lỗi luôn là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm hành chính cũng như các vi phạm pháp luật khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
Có hai hình thức lỗi: lỗi cố ý và lỗi vô ý.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính thể hiện ở việc người thực hiện hành vi vi phạm nhận thức thức được tính chất của hành vi nhưng vẫn thực hiện hoặc nhận thức được nghĩa vụ pháp lý nhưng xem thường, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính thể hiện ở việc người thực hiện hành vi vi phạm không biết và không nhận thức được hành vi vi phạm của mình là trái pháp luật, mặc dù họ cần phải biết và nhận thức được điều đó, hoặc trường hợp một người thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình hoặc thiếu thận trọng mà không thực hiện những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo nghĩa vụ đó .</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngoài ra, mục đích, động cơ cũng là những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của vi phạm hành chính, nhưng các dấu hiệu này không có ý nghĩa quyết định như dấu hiệu lỗi, không được xem là dấu hiệu bắt buộc của mọi cấu thành vi phạm hành chính, trừ một số trường hợp vi phạm hành chính mà tính chất nguy hại cho xã hội tăng lên sẽ trở thành tội phạm (đánh người gây thương tích, ...) thì ngoài dấu hiệu lỗi còn cần phải xác định các yếu tố khác có liên quan, đó là động cơ, mục đích của người thực hiện vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Xử lý vi phạm hành chính</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Như trên đã trình bày, kể từ năm 1945 cho đến trước khi ban hành Pháp lệnh năm 1995, thuật ngữ "Xử lý vi phạm hành chính" chưa được đề cập đến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đã quy định "Xử lý vi phạm hành chính nói trong Pháp lệnh này bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác". Sau đó, theo Pháp lệnh năm 2002 thì xử lý vi phạm hành chính vẫn giữ nguyên các nội dung nêu trên như trong Pháp lệnh năm 1995.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>II. BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC </strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Bản chất, đặc điểm của các biện pháp xử lý hành chính khác - biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Pháp luật nước ta từ lâu đã quy định hình thức cưỡng chế hành chính đặc biệt. Hình thức này khác với cưỡng chế tư pháp ở chỗ nó được áp dụng không thông qua cơ quan xét xử mà được áp dụng bởi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền bằng quyết định hành chính. Cưỡng chế hành chính đặc biệt, khác với cưỡng chế kỷ luật vì người bị áp dụng biện pháp này không có quan hệ công vụ, quan hệ trực thuộc với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế.</p>
<p style="text-align: justify;">
Mặt khác, biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt khác với các biện pháp cưỡng chế hành chính thông thường ở mức độ khắc nghiệt, thực chất là hạn chế quyền tự do cá nhân trong một giai đoạn nhất định. Hình thức thể hiện là tập trung giáo dục cải tạo và quản chế; sau này khi Pháp lệnh năm 1995 ra đời thì các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt được xếp vào nhóm biện pháp xử lý hành chính khác, gồm các biện pháp sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào trường giáo dưỡng;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào cơ sở giáo dục;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quản chế hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo Điều 1 Pháp lệnh năm 2002 thì xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp xử lý hành chính khác, là hệ thống biện pháp nhằm đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính. Khác với xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với tất cả các cá nhân, tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật thì bị xử phạt vi phạm hành chính; còn biện pháp xử lý hành chính khác chỉ được áp dụng đối với cá nhân là người Việt Nam, có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, bản chất của biện pháp xử lý hành chính khác là biện pháp cưỡng chế hành chính, và là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt; so với xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
i) Về đối tượng bị xử lý:</p>
<p style="text-align: justify;">
Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức; còn biện pháp xử lý hành chính khác chỉ được áp dụng đối với cá nhân là người Việt nam.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Về thẩm quyền áp dụng:</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 hiện hành, có đến 71 chức danh có thẩm quyền xử phạt hành chính, trong khi đó, chỉ có 3 chức danh thuộc cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác, đó là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Xử phạt vi phạm hành chính:</p>
<p style="text-align: justify;">
Tuy phải tuân theo những quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự thủ tục xử phạt, nhưng so với biện pháp xử lý hành chính khác thì trình tự thủ tục xử phạt hành chính được áp dụng thủ tục đơn giản hơn. Thậm chí trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng thì người có thẩm quyền có quyền ra quyết định xử phạt tại chỗ (Điều 54, Pháp lệnh năm 2002). Mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan cũng hẹp hơn (chủ yếu chỉ xoay quanh hai chủ thể là người có thẩm quyền xử phạt và cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt).</p>
<p style="text-align: justify;">
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo trình tự, thủ tục phức tạp hơn, do nhiều tổ chức, người có thẩm quyền tham gia vào quá trình xét duyệt hồ sơ để tiến hành quyết định áp dụng biện pháp tương ứng với hành vi vi phạm, đặc biệt là có sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Về hậu quả pháp lý:</p>
<p style="text-align: justify;">
Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền; đồng thời tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm thì các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt bổ sung như: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Ngoài các hình thức xử phạt chính, các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hay nhiều biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3, Điều 12 Pháp lệnh năm 2002. Như vậy về hậu quả pháp lý của các hình thức xử phạt mặc dù có tác động đến tâm lý, tư tưởng của tổ chức cá nhân vi phạm hành chính, song chủ yếu là điểu chỉnh tác động đến quan hệ tài sản, hạn chế quyền kinh doanh của đối tượng vi phạm, nhưng chưa hạn chế đến quyền nhân thân, ngoại trừ trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính. Còn việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, một số quyền cơ bản của công dân bị hạn chế, thể hiện ở các điểm sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Mặc dù biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được xem như là biện pháp xử lý hành chính khác “nhẹ nhất”, thể hiện việc giáo dục được tham gia của cộng đồng dân cư và các tổ chức xã hội. Đối tượng được sinh sống, lao động, học tập tại nơi cư trú, song một số quyền tự do vẫn bị hạn chế như trường hợp có lý do chính đáng thì được vắng mặt, nhưng mỗi lần vắng mặt không được quá ba mươi ngày, và tổng số thời gian vắng mặt không được quá một phần ba thời gian giáo dục tại cấp xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Đối với việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh thể hiện mức độ nghiêm khắc đối với việc hạn chế một số quyền công dân như các đối tượng phải lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự quản lý của các cơ sở, việc lao động phải hoàn thành theo định mức quy định; hạn chế gặp ngưòi thân, gửi thư, nhận quà; không được về thăm gia đình trong thời gian chấp hành quyết định,... Đối tượng bị áp dụng biện pháp quản chế hành chính phải cư trú, làm ăn, sinh sống tại một địa phương nhất định và chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương.</p>
<p style="text-align: justify;">
Do vậy, với những điểm đã phân tích nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng tuy việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác là biện pháp cưỡng chế hành chính, theo trình tự, thủ tục pháp luật hành chính quy định, do cơ quan hành chính, người có thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định áp dụng, song việc chấp hành các biện pháp xử lý hành chính khác mang đậm dấu ấn của biện pháp tư pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Cưỡng chế hành chính</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.1. Đặc điểm cơ bản của cưỡng chế hành chính </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
i) Việc áp dụng cưỡng chế hành chính nằm ngoài trình tự thủ tục xét xử của cơ quan Tòa án, do người có thẩm quyền của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước áp dụng như: Uỷ ban nhân dân các cấp, Kiểm lâm, Công an, Hải quan,... Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng có quyền áp dụng cưỡng chế hành chính được quy định tại Điều 40 Pháp lệnh năm 2002 đối với những hành vi gây rối trật tự phiên tòa, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Có tác giả cho rằng, ở nghĩa rộng, cưỡng chế hành chính bao hàm cả việc áp dụng các chế tài kỷ luật đối với công chức, viên chức nhà nước do người có chức vụ có thẩm quyền áp dụng cho những vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ. Tuy vậy, khi xét đến đặc trưng cơ bản của cưỡng chế hành chính là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính và tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính bị cưỡng chế không có quan hệ trực thuộc về mặt tổ chức, mà chỉ có quan hệ kiểm tra, giám sát. Bên cạnh đó, nó còn khác với biện pháp cưỡng chế kỷ luật ở chế tài, trình tự áp dụng.</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Chỉ có cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo pháp luật quy định có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mới được áp dụng cưỡng chế hành chính. Ví dụ: Đối với các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính như tạm giữ người, tạm giữ tang vật, phương tiện và vi phạm hành chính; khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; bảo lãnh hành chính,… thì chỉ có những người có thẩm quyền được quy định từ Điều 45 đến Điều 52 của Pháp lệnh năm 2002 mới được áp dụng (như Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp huyên; Hạt trưởng Hạt kiểm lâm, Chi Cục trưởng Hải quan,…). Như vậy, có thể thấy sự khác với cưỡng chế hình sự, cưỡng chế hành chính do nhiều cơ quan nhà nước thi hành.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Cưỡng chế hành chính là sự cưỡng bức, bắt buộc công dân, cá nhân, tổ chức, người có chức vụ phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý được quy định bởi pháp luật hành chính và nằm ngoài phạm vi, nội bộ của cơ quan, ngành.</p>
<p style="text-align: justify;">
iv) Cưỡng chế hành chính được áp dụng để:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Ngăn chặn những vi phạm pháp luật;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trừng phạt người vi phạm theo trình tự xử lý hành chính;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đảm bảo trật tự trong các trường hợp khẩn cấp khi chưa xảy ra vi phạm pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
v) Cưỡng chế hành chính được áp dụng theo trình tự do các quy phạm thủ tục của pháp luật hành chính quy định. Việc áp dụng cũng đơn giản hơn so với trình tự áp dụng cưỡng chế hình sự và kỷ luật <strong><sup>(<a href="#_ftn1" name="_ftnref1" title="">1</a>)</sup></strong>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.2. Các loại biện pháp cưỡng chế hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Có thể phân loại biện pháp cưỡng chế hành chính theo các nhóm như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Nhóm biện pháp phòng ngừa hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Là các biện pháp do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng để ngăn ngừa những hiểm họa xảy ra đối với tính mạng, tài sản của nhân dân trong các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh,... Biện pháp này được áp dụng không liên quan đến vi phạm pháp luật và ngăn ngừa các vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước. Tính chất cưỡng chế của các biện pháp phòng ngừa thể hiện ở chỗ chúng do cơ quan nhà nước, người có chức vụ có thẩm quyền áp dụng và không cần sự đồng ý của cá nhân, tổ chức có liên quan và mọi quyết định buộc phải được chấp hành vô điều kiện. Các biện pháp phòng ngừa hành chính bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Kiểm tra các loại tài liệu, giấy tờ, văn bằng.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Kiểm tra hộ tịch, hộ khẩu tại nhà ở của công dân khi có những nghi ngờ về việc vi phạm chế độ đăng ký tạm trú.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Kiểm tra hàng hóa, hành lý và cá nhân do các cơ quan hải quan thực hiện nhằm ngăn chặn các vụ buôn lậu qua biên giới, trốn thuế hàng hóa nhập, xuất,...</p>
<p style="text-align: justify;">
- Hạn chế hoặc cấm các phương tiện giao thông đi lại trên tuyến đường có nguy cơ mất an toàn xã hội và an toàn giao thông;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Ngăn cấm vào khu vực có dịch bệnh, bệnh truyền nhiễm.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Kiểm tra bắt buộc sức khỏe định kỳ của những người làm công việc liên quan đến thực phẩm, y tế, dễ gây ra dịch bệnh cho người tiêu dùng, bệnh nhân,...</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quản chế hành chính đối với những người do pháp luật quy định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trưng dụng bắt buộc tài sản công dân trong một thời gian nhất định để ngăn ngừa hậu quả thiên tai, bão lụt.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Nhóm biện pháp ngăn chặn</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Là các biện pháp được các cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cần thiết để ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật đang xảy ra hoặc ngăn chặn thiệt hại do chúng gây ra, gồm các biện pháp sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đình chỉ những vi phạm pháp luật bởi các cơ quan và người có thẩm quyền;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Áp dụng vũ lực, vũ khí khi có hành vi chống đối việc thi hành công vụ hoặc trốn tránh trách nhiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tạm giữ người theo thủ tục hành chính đối với người vi phạm pháp luật;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chữa bệnh bắt buộc đối với những người mắc những bệnh do pháp luật quy định;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các biện pháp cưỡng bức khác. Ví dụ, cưỡng chế người xây nhà, lấn chiếm nhà ở trái phép ra khỏi nhà xây dựng và lấn chiếm phi pháp đó <sup>(<a href="#_ftn2" name="_ftnref2" title="">2</a>)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Trách nhiệm hành chính có những đặc điểm riêng khác với những dạng trách nhiệm pháp lý khác, đó là:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm hành chính. Không có vi phạm hành chính thì không có trách nhiệm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các biện pháp trách nhiệm hành chính không đồng nhất với các biện pháp cưỡng chế hành chính nói chung, vì các biện pháp trách nhiệm hành chính chỉ được áp dụng trên cơ sở quyết định xử phạt, tức là căn cứ pháp lý ghi nhận chính thức vi phạm đã xảy ra; còn các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (biện pháp phòng ngừa, vi phạm hành chính) được áp dụng hoặc chưa có vi phạm pháp luật, hoặc khi có vi phạm xảy ra rồi nhưng chưa có quyết định xử phạt, trừ trường hợp việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính kèm theo với biện pháp xử phạt.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trách nhiệm hành chính cũng như các biện pháp cưỡng chế hành chính khác được áp dụng chủ yếu bỡi các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, người có thẩm quyền, tức là ngoài trình tự xét xử của toà án. Bên cạnh đó, khác với trách nhiệm kỷ luật thì đối tượng bị xử phạt hành chính, cũng như đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính khác nói chung với cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp đó không tồn tại quan hệ trực thuộc <sup>(<a href="#_ftn3" name="_ftnref3" title="">3</a>)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>3. Mối quan hệ giữa biện pháp xử lý hành chính </strong><strong>khác với xử phạt vi phạm hành chính và với hình phạt</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>3.1</strong>. Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Pháp lệnh năm 2002: “Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh này”. Như vậy, để áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác, cá nhân phải có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hành vi vi phạm pháp luật đó chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm và theo quy định pháp luật thì cá nhân ấy phải bị xử lý hành chính bằng biện pháp xử lý hành chính khác. Các hành vi vi phạm về an ninh trật tự an toàn xã hội được điều chỉnh bởi Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ; trong đó có các hành vi:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Gây thiệt hại đến tài sản của người khác;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Vi phạm các quy định về phòng, chống, kiểm soát ma tuý;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Mại dâm;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đánh bạc;...</p>
<p style="text-align: justify;">
Đồng thời, các cá nhân thực hiện hành vi đó nhiều lần, đã bị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp xử phạt và để đảm bảo trật tự xã hội, các cá nhân ấy phải bị xử lý tiếp theo bằng biện pháp xử lý hành chính khác. Như vậy, xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là một trong những căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác, ngoài trường hợp đối tượng không phải do địa phương phát hiện, xử lý mà lại do các cơ quan công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp điều tra trong khi trực tiếp điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật mà hành vi ấy chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây cũng là các đối tượng để Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp xem xét và quyết định áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính khác như đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục,....</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>3.2</strong>. Hành vi vi phạm hành chính đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác là cơ sở để áp dụng pháp luật hình sự trong trường hợp đối tượng còn tiếp tục vi phạm. Điều đó có thể nhận thấy qua một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “<em>Người nào sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, đã được giáo dục nhiều lần và đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc mà còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai tháng đến ba năm</em>”. Như vậy, cũng là hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng khi đã xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp xử lý hành chính khác mà còn vi phạm thì chuyển hoá thành tội phạm hình sự với mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Vi phạm hành chính cũng chuyển hoá thành tội phạm hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 62 của Pháp lệnh năm 2002: “Khi xem xét vi phạm để quyết định xử phạt, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền... Đối với trường hợp đã ra quyết định xử phạt, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử phạt phải huỷ quyết định đó và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày huỷ quyết định xử phạt, phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngược lại, khi các cơ quan công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp điều tra trong khi trực tiếp điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật mà hành vi ấy chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự, thì chuyển sang cơ quan có thẩm quyền để xử lý hành chính bằng biện pháp xử lý hành chính khác. Như vậy, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung, biện pháp xử lý hành chính khác nói riêng với pháp luật hình sự có mối quan hệ khăng khít, thể hiện sự chuyển hoá qua lại trong từng trường hợp cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>III. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Ngay từ khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản về áp dụng thực hiện các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt (sau này là biện pháp xử lý hành chính khác) để quản lý đối với các đối tượng vi phạm pháp luật. Trong thời kỳ này, để ổn định tình hình an ninh trật tự ở các vùng mới giải phóng; đồng thời giáo dục, cải tạo những phần tử đã phạm tội với cách mạng, nhưng chưa đáng phạt tù; các đối tượng lưu manh chuyên sinh sống bằng nghề trộm cắp..., Nhà nước ta đã quy định các hình thức cưỡng chế hành chính có tính chất hạn chế quyền tự do của công dân như: quản chế, cải tạo tại chỗ, tập trung cải tạo. Với mục đích ngăn ngừa việc hoạt động trái phép, cải tạo những phần tử vi phạm pháp luật thành người tốt, tại Sắc lệnh số 175/SL ngày 18/8/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Nghị định số 289/TTg ngày 18/8/1953 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định các đối tượng bị quản chế gồm địa chủ, cường hào có tội nhẹ; bọn đã làm gián điệp, đã tham gia đảng phái phản động, làm tay sai cho địch nhưng tội nhẹ chưa thực sự hối cải; bọn lưu manh chuyên sinh sống bằng trộm cắp; kẻ đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải. Thẩm quyền quyết định được giao cho các cơ quan: Toà án nhân dân (thường) tỉnh, khu; Toà án nhân dân đặc biệt và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh. Thời hạn quản chế từ một năm đến ba năm; nếu đối tượng tích cực sửa chữa thì thời hạn quản chế có thể giảm; nếu không chịu sửa chữa thì thời hạn có thể tăng từ 6 tháng đến 3 năm. Công an có trách nhiệm thi hành quyết định quản chế dưới sự lãnh đạo, kiểm soát trực tiếp của Uỷ ban kháng chiến hành chính cấp tương đương; nhân dân có trách nhiệm theo dõi, giáo dục, giúp đỡ kẻ bị quản chế sửa chữa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy trong thời gian này, quản chế vừa là biện pháp cưỡng chế tư pháp (vì do Tòa án nhân dân (thường) tỉnh, khu quyết định), vừa là biện pháp cưỡng chế hành chính (vì do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định). Thẩm quyền tăng hay giảm thời hạn quản chế, pháp luật giao cho Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong giai đoạn này, đất nước ta vừa tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tập trung sức ngưòi, sức của để tiến hành công cuộc cách mạng giải phóng Miền Nam. Nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường công tác bảo vệ an ninh trật tự và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.1</em></strong>. Các văn bản quy định việc áp dụng biện pháp tập trung cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội, gồm có: Nghị quyết số 49/NQ-TVQH của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 20/6/1961; Thông tư số 121/CP ngày 09/8/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội. Theo các văn bản nói trên thì đối tượng được đưa đi giáo dục, cải tạo là những phần tử từ 18 tuổi trở lên, có hành động nguy hại cho xã hội, đã được giáo dục nhiều lần mà không hối cải, nhưng xét thấy không cần thiết phải đưa ra Toà án xét xử, bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thứ nhất</em>, những phần tử phản cách mạng ngoan cố có hành động phương hại đến an ninh chung như:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Gián điệp, chỉ điểm, mật thám cũ, ngụy quân ngụy quyền cũ, phỉ, biệt kích cũ trước đây có nhiều tội ác, đã được Chính phủ khoan hồng nhưng qua giáo dục nhiều lần vẫn ngoan cố không chịu cải tạo, vẫn có hành động phương hại đến an ninh chung;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những phần tử cốt cán trong các tổ chức đảng phái phản động cũ, có nhiều tội ác, được Chính phủ khoan hồng, qua giáo dục nhiều lần vẫn ngoan cố không chịu cải tạo, vẫn có phương hại đến an ninh chung;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những phần tử ngoan cố trong các giai cấp bóc lột cũ và những phần tử phản cách mạng khác căm thù sâu sắc chế độ ta, luôn có hành động chống đối;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những phần tử phản cách mạng nguy hiểm đã hết hạn tù nhưng không chịu cải tạo.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thứ hai</em>, những phần tử lưu manh chuyên nghiệp, bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên cầm đầu lưu manh và những tên chuyên sống bằng nghề oa trữ và tiêu thụ những thứ trộm cắp của người khác, đã qua nhiều lần giáo dục mà vẫn không chịu sửa chữa;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên cầm đầu lưu manh trộm cắp đã tái phạm nhiều lần và không có nghề nghiệp, hoặc chỉ có nghề “ngụy trang” chuyên sống bằng trộm cắp, lừa đảo và những tên chủ chứa bọn gái điếm hiện đang hoạt động;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên tuy có nghề nghiệp nhưng quen thói trộm cắp đã nhiều lần được nhân dân phê bình giáo dục hoặc chính quyền cảnh cáo mà vẫn không chịu sửa chữa;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên luôn phá rối trật tự trị an, có hành động côn đồ, ngang ngược, không tôn trọng pháp luật nhà nước, qua nhiều lần nhân dân giáo dục hoặc chính quyền cảnh cáo mà vẫn không chịu sửa chữa;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên luôn luôn phá rối trật tự trị an, có hành động côn đồ, ngang ngược, không tôn trọng pháp luật nhà nước, qua nhiều lần nhân dân giáo dục và chính quyền cảnh cáo vẫn không chịu sửa chữa;</p>
<p style="text-align: justify;">
Những tên đã bị quản chế nhưng ngoan cố không chịu tuân theo kỷ luật quản chế;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Những tên lưu manh đã hết hạn tù nhưng chưa chịu cải tạo.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời hạn tập trung giáo dục cải tạo là 3 năm. Nếu đối tượng thật sự chịu cải tạo sẽ được về sớm, hoặc sẽ bị kéo dài thời hạn nếu không chịu cải tạo. Thẩm quyền quyết định được giao cho Uỷ ban hành chính khu tự trị, thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương theo từng loại đối tượng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.2.</em></strong> Các văn bản quản lý, giáo dục trẻ em hư hỏng, có hành vi trái pháp luật và một số đối tượng khác, gồm có: Thông tư số 68/TTg-VG ngày 13/07/1964 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 948/QĐ-BCA ngày 20/12/1967 của Bộ Công an. Theo các văn bản này, các loại đối tượng cần quản lý tại địa phương bao gồm: những thiếu niên chuyên tổ chức số thiếu niên khác trộm cắp, đánh nhau, sống sa đoạ, trụy lạc đã được gia đình, đoàn thể nhà trường và chính quyền địa phương giáo dục nhiều lần nhưng vẫn không chịu sửa chữa; những thiếu niên hư là con của đối tượng lưu manh, gái điếm, buôn lậu, nghiện hút do cha mẹ dung túng cho con đi trộm cắp đã bị bắt nhiều lần; những thiếu niên mồ côi lang thang trộm cắp đã bị bắt giữ nhiều lần; những thiếu niên có bố, mẹ, gia đình nhưng đã bỏ đi lang thang, trộm cắp hành động như bọn lưu manh chuyên nghiệp đã được gia đình, đoàn thể, nhà trường và chính quyền giáo dục nhiều lần nhưng vẫn không chịu sửa chữa.</p>
<p style="text-align: justify;">
Do yêu cầu phải tăng cường quản lý trật tự trị an, quản lý lao động xã hội, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 154/CP ngày 01/10/1973 quy định một số loại đối tượng gái mại dâm, người có sức lao động, trong độ tuổi lao động nhưng không chịu lao động được coi là phần tử lưu manh chuyên nghiệp để bổ sung cho Thông tư số 121/CP ngày 09/8/1961 của Chính phủ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>3. Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi Pháp lệnh năm 2002 có hiệu lực pháp luật </strong></p>
<p style="text-align: justify;">
i) Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, để thực hiện các Chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18/4/1975 và Chỉ thị số 219/CT-TW ngày 19/4/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã đưa vào tập trung dài hạn và ngắn hạn đối với các đối tượng đã từng phục vụ cho bộ máy chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Những phần tử đã bị tập trung cải tạo dài hạn đưa về địa phương phải chịu quản chế, giám sát, giáo dục tại chỗ.</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Ngày 12/3/1979, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 85/TTg. Liên Bộ Lao động và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã có Thông tư liên bộ số 02/LB ngày 01/10/1980 quy định về việc quản lý, giáo dục, cải tạo đối với những người trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng không chịu lao động (từ 18 tuổi đến hết tuổi lao động) hiện không theo học văn hoá, nghiệp vụ, kỹ thuật mà không chịu lao động có ích cho xã hội, sống lêu lổng, du đãng, làm ăn phi pháp, gây rối trật tự trị an nhưng chưa đến mức phải đưa vào diện truy tố hoặc tập trung cải tạo; những loại đối tượng trên phải bắt buộc lao động từ 6 tháng đến 2 năm tại các cơ sở bắt buộc lao động tập trung, bắt buộc lao động tại chỗ.</p>
<p style="text-align: justify;">
iii) Sau Bộ luật Hình sự năm 1989 được ban hành, yêu cầu cần thiết phải xác định lại đối tượng cần tập trung cải tạo cho phù hợp. Bộ Nội vụ đã ra Chỉ thị số 17/BNV ngày 09/8/1989 quy định loại đối tượng cần tập trung cải tạo trong phạm vi hẹp hơn: những phần tử xâm hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia; những phần tử xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
iv) Với sự ra đời của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 6/7/1995, các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt được tập hợp và pháp điển hoá lần đầu tiên tại Pháp lệnh này với tên gọi là các biện pháp xử lý hành chính khác, bao gồm các biện pháp: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính mới được quy định trong pháp luật nước ta, xuất phát từ thực tiễn đấu tranh, phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật; phòng ngừa tội phạm; giáo dục người vi phạm sửa chữa lỗi lầm, tạo điều kiện cho họ trở thành người có ích cho xã hội với sự tham gia đông đảo của cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị xã hội. Biện pháp này được áp dụng đối với người nhiều lần vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục; người nghiện ma tuý nhưng chưa đến mức đưa vào cơ sở chữa bệnh. Là biện pháp có tính nghiêm khắc hơn xử lý vi phạm hành chính bằng cách phạt cảnh cáo hay phạt tiền vì bắt buộc người bị xử lý phải tuân thủ một số yêu cầu của chính quyền địa phương, mà thực chất là hạn chế quyền tự do đi lại. Do vậy, khi áp dụng phải tuân thủ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp buộc người vi phạm pháp luật phải học văn hoá, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý của trường trong thời gian từ sáu tháng đến hai năm. Biện pháp này được áp dụng đối với các đối tượng: người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có các dấu hiệu một tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có các dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa. Trong thời gian ở trường, họ chịu sự quản lý, kiểm tra chặt chẽ của trường và bị hạn chế một số quyền nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục trong thời gian từ sáu tháng đến hai năm. Biện pháp này được áp dụng đối với các đối tượng: người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm tài sản của Nhà nước, tài sản của các tổ chức kinh tế xã hội, tài sản của các tổ chức nước ngoài, tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài và vi phạm trật tự an toàn xã hội có tính chất thường xuyên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa; không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18 tuổi, nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải chữa bệnh, học tập và lao động trong thời hạn từ ba tháng đến một năm. Biện pháp này được áp dụng đối với các đối tượng: người nghiện ma tuý, người mại dâm có tính chất thường xuyên, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa. Pháp luật cũng quy định không đưa vào cơ sở chữa bệnh người chưa đủ 18 tuổi, nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quản chế hành chính là biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật phải cư trú, làm ăn sinh sống ở một địa phương nhất định và chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương trong thời hạn từ sáu tháng đến hai năm. Đối tượng bị áp dụng biện pháp này là người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến lợi ích quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; không áp dụng biện pháp quản chế hành chính đối với người dưới 18 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, tuỳ theo từng giai đoạn, tên gọi các biện pháp xử lý hành chính khác nêu trên có khác nhau, song có điểm chung là biện pháp này được áp dụng đối với các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật hành chính quy định và người bị áp dụng các biện pháp đó bị hạn chế một số quyền công dân <sup>(<a href="#_ftn4" name="_ftnref4" title="">4</a>)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
Như đã trình bày ở chương I thì xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật hiện hành bao gồm xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác. Trên cơ sở của Pháp lệnh năm 1995, Pháp lệnh năm 2002 đã sửa đổi, bổ sung nhằm giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế; đồng thời phải phù hợp với những vấn đề có liên quan của các Luật khác đã được ban hành; phân cấp thẩm quyền từ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện; đơn giản hoá thủ tục và rút ngắn thời hạn xét duyệt hồ sơ;... Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng được sửa đổi theo hướng nhân đạo hơn trong một số quy định, nhằm tạo điều kiện cho người vi phạm sớm hoà nhập cộng đồng. Sau đây là những nét chính về thực trạng pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác.</p>
<table align="left" cellpadding="0" cellspacing="0" height="129" hspace="0" vspace="0" width="622">
<tbody>
<tr>
<td align="left" height="129">
<p style="text-align: center;">
<strong>CHƯƠNG II</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC </strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<div style="clear: both; text-align: justify;">
</div>
<p style="text-align: justify;">
<strong>I. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TẠI XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Thực trạng pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) là một trong các biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật có nơi cư trú nhất định nhằm quản lý, giáo dục họ tại nơi cư trú từ ba đến sáu tháng. Giáo dục tại xã là biện pháp ra đời từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh năm 1995, và được quy định cụ thể trong Pháp lệnh năm 2002. Đây là biện pháp giáo dục với sự tham gia của cả hệ thống chính trị cơ sở, của cả cộng đồng khu dân cư, thu hút đông đảo lực lượng cùng tham gia đấu tranh với mọi hành vi vi phạm pháp luật hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.1. Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phải là công dân Việt Nam, có nơi cư trú nhất định, từ đủ 12 tuổi trở lên, có hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
a. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự;</p>
<p style="text-align: justify;">
b. Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, gây rối trật tự công cộng;</p>
<p style="text-align: justify;">
c. Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên;</p>
<p style="text-align: justify;">
d. Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên có nơi cư trú nhất định;</p>
<p style="text-align: justify;">
đ. Người có một trong các hành vi vi phạm pháp luật từ 2 lần trở lên trong 1 năm, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tổ chức môi giới mại dâm;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chống người thi hành công vụ;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các hành vi khác xâm phạm về trật tự an toàn xã hội;</p>
<p style="text-align: justify;">
e) Người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng áp dụng đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, so với Pháp lệnh năm 1995, Pháp lệnh năm 2002 đã quy định rõ về độ tuổi và các hành vi vi phạm của các đối tượng bị áp dụng biện pháp gíáo dục tại cấp xã mà trước đây chỉ được quy định ở Nghị định 19/CP ngày 06/4/1996 của Chính phủ, nay đã được ghi nhận trong Pháp lệnh giúp cho cơ quan có thẩm quyền dựa trên những căn cứ pháp lý đầy đủ, rõ ràng quyết định áp dụng biện pháp này một cách nhanh chóng, chính xác. Yêu cầu sửa đổi cũng nhằm phù hợp với Bộ Luật Hình sự năm 1999, Luật Phòng chống ma tuý. Về đối tượng trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam do họ đã quá tuổi để đưa vào cơ sở giáo dục, do vậy Pháp lệnh năm 2002 đã bổ sung vào để giúp họ sửa chữa sai phạm, trở thành người có ích, giáo dục họ tuân theo pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.2. Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục, thi hành quyết định giáo dục tại cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Thời hiệu áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã là sáu tháng kể từ khi thực hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự; hoặc kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, gây rối trật tự công cộng; nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên; bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên có nơi cư trú nhất định; hoặc có một trong các hành vi vi phạm pháp luật từ 2 lần vi phạm trở lên trong 1 năm, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Pháp luật cũng quy định nếu trong thời hạn nói trên, nếu người có hành vi phạm cố tình trốn tránh thì thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quyết định giáo dục tại cấp xã hết thời hiệu thi hành sau 06 tháng kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp người được giáo dục cố tình trốn tránh thi hành quyết định, thì việc tổ chức thi hành quyết định được thực hiện khi người được giáo dục có mặt tại nơi cư trú. Thời gian người được giáo dục trốn tránh thi hành quyết định không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định, và thời hiệu nêu trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">
Đây là quy định mới so với Pháp lệnh năm 1995, nhằm bảo đảm tính minh bạch của quy định pháp luật, góp phần giải quyết vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.3. Thủ tục áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo các quy định pháp luật hiện hành thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú tự mình quyết định hoặc theo đề nghị của một trong các cơ quan, tổ chức sau: Trưởng Công an cấp xã; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã; đại diện cơ quan, tổ chức ở cơ sở hoặc đại diện, đơn vị dân cư ở cơ sở để quyết định đưa đối tượng giáo dục tại xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cũng có thể quyết định giáo dục tại cấp xã trên cơ sở hồ sơ biên bản về hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng do cơ quan Công an trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật hoặc hồ sơ của những đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng đã trên 55 tuổi đối với nữ, trên 60 tuổi đối với nam do cơ quan Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện chuyển đến. Trong trường hợp này, khi nhận được hồ sơ của các cơ quan nói trên chuyển đến thì Chủ tịch Uỷ ban nhân cấp xã phải chuyển ngay hồ sơ đó đến Trưởng Công an cấp xã trong thời hạn 02 ngày. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, báo cáo tóm tắt hồ sơ và những vi phạm pháp luật của người được đề nghị áp dụng giáo dục tại cấp xã, những biện pháp giúp đỡ, giáo dục đã áp dụng đối với người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Trình tự, thủ tục xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã như sau:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Tổ chức họp tư vấn cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã: trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Trưởng Công an cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, đại diện của một trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở hoặc nhận được hồ sơ của cơ quan Công an chuyển đến, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải triệu tập và chủ trì cuộc họp để xem xét, quyết định. Thành phần cuộc họp bao gồm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, Trưởng Công an cấp xã, đại diện Ban Tư pháp, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan, tổ chức đề nghị, đại diện đơn vị dân cư ở cơ sở và đại diện gia đình của đối tượng. Ngoài ra, tuỳ theo từng đối tượng cụ thể, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể mời thêm đại diện nhà trường, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Ban Giáo dục, Ban Dân số Gia đình vả Trẻ em, Thanh tra nhân dân , Tổ hoà giải ở cơ sở tham dự cuộc họp. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã giao cho Trưởng Công an cùng cấp xác minh, làm rõ những hành vi vi phạm pháp luật hoặc độ tuổi của người được đề nghị giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sau khi làm rõ các nội dung nói trên, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tổ chức lại cuộc họp, nhưng không được quá 15 ngày, kể từ lần họp trước.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Áp dụng thủ tục khác: trong trường hợp vì lý do đặc biệt hoặc vì lý do khác mà không thể triệu tập được cuộc họp, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lấy ý kiến của Trưởng Công an cấp xã, đại diện Ban Tư pháp, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, cơ quan tổ chức đề nghị, đại diện đơn vị dân cư ở cơ sở về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với người được đề nghị. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm tập hợp các ý kiến của đại diện các cơ quan, tổ chức nêu trên và báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Trình tự, thủ tục ra quyết định giáo dục tại cấp xã như sau:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc cuộc họp hoặc kể từ ngày nhận được báo cáo của Trưởng Công an cấp xã trong trường hợp không triệu tập được cuộc họp, căn cứ vào biên bản cuộc họp hoặc báo cáo của Trưởng Công an cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải xem xét, ban hành quyết định giáo dục tại cấp xã đối với người được đề nghị.</p>
<p style="text-align: justify;">
* Trình tự, thủ tục thi hành quyết định giáo dục tại cấp xã:</p>
<p style="text-align: justify;">
Tổ chức họp: trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực, tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục người được giáo dục phải chủ trì, phối hợp với Công an cấp xã tổ chức cuộc họp tại đơn vị dân cư ở cơ sở, nơi người được giáo dục cư trú để thi hành quyết định đối với họ. Cuộc họp chỉ được tiến hành khi có mặt của người được giáo dục. Trong buổi họp công bố thi hành quyết định, đối tượng phải viết và tự mình đọc bản kiểm điểm, bản cam kết sửa chữa sai phạm. Các đại biểu tham dự cuộc họp phát biểu ý kiến, phân tích những sai phạm, nguyên nhân dẫn đến sai phạm của người được giáo dục và ý kiến giúp đỡ họ sửa chữa sai phạm để tiến bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tuỳ từng đối tượng giáo dục, tổ chức được giao quản lý, giáo dục có thể mời đại diện của các cơ quan, tổ chức hữu quan ở cơ sở như: Mặt trận Tổ quốc, Công an, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, đơn vị dân cư, đại diện gia đình, dòng họ, những người láng giềng,... tham dự cuộc họp kiểm điểm người được giáo dục. Nội dung cuộc họp phải được ghi thành biên bản.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tổ chức được giao quản lý, giáo dục có trách nhiệm phân công người trực tiếp giúp đỡ người được giáo dục và báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã. Người được phân công giúp đỡ đối tượng phải có kế hoạch, biện pháp quản lý, giáo dục, giúp đỡ tìm kiếm việc làm hoặc đề xuất với Uỷ ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện, tìm kiếm việc làm cho người được giáo dục; giúp họ làm bản kiểm điểm và cam kết sửa chữa sai phạm; theo dõi việc thực hiện quyết định giáo dục tại cấp xã của người được giáo dục. Trong trường hợp người được phân công giúp đỡ không còn điều kiện hoàn thành nhiệm vụ giúp đỡ đối tượng thì tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục đối tượng phải kịp thời phân công người khác thay thế và báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Mỗi tháng một lần, tổ chức được giao quản lý, giáo dục có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã về việc thi hành quyết định. Nếu người được giáo dục đã chấp hành một nửa thời gian giáo dục tại cấp xã, có tiến bộ rõ rệt thì tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục làm văn bản đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại cấp xã. Trong thời gian 02 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải chuyển ngay đề nghị đó đến Trưởng Công an cấp xã. Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của cơ quan, tổ chức có liên quan, đề xuất ý kiến của mình bằng văn bản và chuyển toàn bộ văn bản nêu trên đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại cấp xã đối với người được giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp đối tượng quản lý, giáo dục không thực sự tiến bộ, thì tổ chức được giao quản lý, giáo dục phải tổ chức cuộc họp tại đơn vị dân cư để tiếp tục kiểm điểm người được giáo dục và có biện pháp giúp đỡ, quản lý gíáo dục phù hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">
Điểm mới của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002 so với Pháp lệnh năm 1995 là: trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày người được giáo dục chấp hành xong quyết định, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải cấp “Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại cấp xã” cho họ, lưu một bản vào hồ sơ, đồng thời thông báo cho tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục và gia đình người được giáo dục biết.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.4. Chuyển hồ sơ của đối tượng có dấu hiệu phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, nếu xét thấy các hành vi vi phạm pháp luật của người đó có dấu hiệu tội phạm, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải làm văn bản và chuyển ngay hồ sơ đến cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp phát hiện hành vi vi phạm của đối tượng mà cơ quan tiến hành tố tụng đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc Toà án tuyên họ không phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển lại hồ sơ của đối tượng đó cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với đối tượng, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người được giáo dục có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải huỷ bỏ quyết định đó và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cấp có thẩm quyền để điều tra làm rõ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Đối với trường hợp đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với đối tượng, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của đối tượng có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì huỷ bỏ quyết định đó và trong thời hạn ba ngày kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự cấp có thẩm quyền; nhưng trong trường hợp này mà đối tượng bị tạm giam, tạm giữ thì thời hạn tạm giam, tạm giữ được tính vào thời hạn chấp hành quyết định giáo dục tại cấp xã; một ngày tạm giam hoặc tạm giữ được tính bằng ba ngày chấp hành biện pháp giáo dục tại cấp xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.5. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định giáo dục tại cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp phát hiện người có quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định giáo dục tại cấp xã đối với người đó và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày đình chỉ thi hành quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu sau đó cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc Toà án tuyên không phạm tội, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển lại hồ sơ của đối tượng đó cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã để tiếp tục thi hành quyết định giáo dục tại cấp xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, Toà án tuyên không phạm tội hoặc hình phạt áp dụng không phải là hình phạt tù, cải tạo không giam giữ, nhưng đối tượng bị tạm giam, tạm giữ thì thời hạn tạm giam, tạm giữ được tính vào thời hạn chấp hành quyết định giáo dục tại cấp xã. Ba ngày chấp hành biện pháp giáo dục tại cấp xã được tính bằng một ngày bị tạm giam hoặc tạm giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.6. Xử lý vi phạm trong công tác quản lý, giáo dục đối tượng tại cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối với người có thẩm quyền trong việc quyết định, thi hành biện pháp giáo dục tại cấp xã mà dung túng, bao che, xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người được giáo dục hoặc vi phạm các quy định khác về giáo dục đối tượng tại cấp xã thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại cấp xã, nếu người được giáo dục tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.7. Việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với một số đơn vị hành chính cấp huyện không có cấp xã</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Do đặc thù phân cấp hành chính, một số đơn vị cấp huyện không có (hoặc chưa có) cấp xã, do vậy chính quyền cấp huyện ở những nơi này ngoài việc có các thẩm quyền theo quy định pháp luật đối với chính quyền cấp huyện, còn thực hiện những thẩm quyền mà pháp luật trao cho chính quyền cấp xã. Vì vậy, để thi hành biện pháp giáo dục tại cấp xã theo đúng quy định của pháp luật, ở những đơn vị cấp huyện không có cấp xã, thì việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã đối với những đối tượng nêu trên do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định. Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định, thi hành biện pháp giáo dục tại cấp xã được thực hiện như đối với cấp xã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính <a href="#_ftn5" name="_ftnref5" title=""><sup>(</sup></a><sup>5)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đây là biện pháp giáo dục mang tính cộng đồng, với sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức chính trị - xã hội, nhằm giáo dục các đối tượng vi phạm pháp luật hành chính tại địa phương, góp phần tích cực trong việc giúp cho người vi phạm tiến bộ bằng hình thức vận động tuyên truyền, động viên, tạo việc làm để họ đảm bảo cuộc sống. Nếu được các địa phương triển khai, tổ chức thực hiện tốt công tác giáo dục tại xã thì việc áp dụng các biện pháp khác như: đưa vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh sẽ giảm rõ rệt. Tuy vậy, tại một số tỉnh, thành phố, việc áp dụng biện pháp này chưa đạt hiệu quả cao do chưa coi trọng các bước triển khai, phân công tổ chức, cá nhân, xây dựng kế hoạch,... giúp đỡ đối tượng. Việc thực hiện còn mang tính hình thức, dẫn đến buông lỏng người được giáo dục; việc quản lý, giám sát, giáo dục đạt kết quả chưa đáp ứng với yêu cầu mong muốn, trong thực tế chỉ giáo dục lần đầu; sau đó, không thường xuyên liên lạc lại để giáo dục người vi phạm; hoặc việc lập hồ sơ chỉ mang tính hình thức để có cơ sở theo quy định pháp luật áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác tiếp theo. Các thông tin từ kết quả đợt khảo sát thực tế của Bộ Tư pháp về thực tế thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính tại một số địa phương trong cả nước (như Uỷ ban nhân dân thị xã Bắc Ninh, tỉnh Tiền Giang, thành phố Cần Thơ) cho thấy sự phối hợp của các ngành, đoàn thể trong việc thực hiện công tác này chưa được coi trọng, chủ yếu là ngành Công an tham gia từ khâu lập hồ sơ, đến thời gian theo dõi việc chấp hành quyết định, còn các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh thì phối hợp không thường xuyên. Tâm lý nhiều địa phương cấp xã cho rằng thủ tục thi hành biện pháp này còn quá rườm rà, phức tạp; vai trò của các đoàn thể chưa được phát huy do tâm lý xã hội còn nặng nề, ngại dây dưa với người nghiện. Bên cạnh đó, yếu tố tình làng nghĩa xóm, ngại va chạm cũng tạo nên tâm lý ngại áp dụng biện pháp giáo dục tại xã <a href="#_ftn6" name="_ftnref6" title=""><sup>(</sup></a><sup>6)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
Vấn đề đặt ra là cần quy định cụ thể hơn trách nhiệm, quyền lợi của các tổ chức, cá nhân khi tham gia giúp đỡ đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, khó khăn từ nguồn kinh phí cũng là trở ngại cho quá trình tổ chức thực hiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc xác định kinh phí áp dụng biện pháp giáo dục chủ yếu từ nguồn ngân sách xã <a href="#_ftn7" name="_ftnref7" title=""><sup>(</sup></a><sup>7)</sup>, trong khi đó, đa số nguồn thu của cấp xã trên thực tế lại không đủ cho chi thường xuyên. Do vậy, công tác vận động, giáo dục phụ thuộc vào sự nhiệt tình của các tổ chức, cá nhân được giao mà chưa có biện pháp kinh tế đảm bảo.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>II. BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quyết định đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính từ sáu tháng đến hai năm để học văn hoá, giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý giáo dục của trường. Việc giao thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện (thay vì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh như trước đây) là quy định mới mang tính cải cách, thể hiện sự mạnh dạn phân cấp cho chính quyền cơ sở, nhằm giảm bớt công việc cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tập trung vào những vấn đề lớn lao của địa phương.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Thực trạng pháp luật hiện hành về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/11/2003 quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, thì đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng gồm:</p>
<p style="text-align: justify;">
a) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự;</p>
<p style="text-align: justify;">
b) Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;</p>
<p style="text-align: justify;">
c) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu vào thời điểm ký quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà đối tượng đã đủ 18 tuổi trở lên thì không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mà xem xét, lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục nếu thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp này.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp người chưa thành niên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Cơ quan thụ lý hồ sơ có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ về người đó cho Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh để tiến hành các thủ tục tiếp theo theo quy định pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
Biện pháp này không được áp dụng đối với người nước ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">
Việc phân chia đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng ra làm ba loại trên cơ sở độ tuổi, tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện xuất phát từ việc sửa đổi, phân loại tội phạm và chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự 1999. Điều này thể hiện tính nhất quán trong chính sách xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật từ biện pháp xử lý hành chính đến biện pháp xử lý hình sự, tạo điều kiện cho họ được học tập, cách ly với môi trường mà họ có thể tiếp tục gây ra hành vi vi phạm pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.2. Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
* Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Một năm kể từ khi người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Sáu tháng kể từ khi người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; hoặc kể từ khi người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện lần cuối một trong những hành vi vi phạm như: nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu trong thời hạn quy định nêu trên, người có hành vi vi phạm cố tình trốn tránh việc truy cứu trách nhiệm hành chính, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu này được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
* Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu nói trên được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Quy định về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là điểm mới được bổ sung so với Pháp lệnh năm 1995. Như vậy, thì sau khi hết một năm hoặc sáu tháng kể từ khi người chưa thành niên vi phạm pháp luật thì tuỳ trường hợp cụ thể, người có thẩm quyền không được quyết định áp dụng biện pháp này đối với họ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.3. Thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Lập hồ sơ đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp cần đưa người có nơi cư trú nhất định vào trường giáo dưỡng thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp cần đưa người chưa thành niên không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có hành vi vi phạm pháp luật lập biên bản, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người vi phạm chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng thì cơ quan Công an đang thụ lý phải xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xét duyệt đưa vào trường giáo dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cơ quan Công an có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị đưa người vào trường giáo dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hoặc biên bản đề nghị thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giao cho Trưởng Công an cùng cấp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra, thu thập tài liệu, hoàn thành hồ sơ và gửi đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Hồ sơ cũng được gửi cho Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy việc lập hồ sơ đưa vào trường giáo dưỡng cơ bản vẫn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thực hiện; đối với người không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật có trách nhiệm lập biên bản, báo cáo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Do Pháp lệnh năm 1995 quy định việc lập hồ sơ theo một chiều, tức là lập hồ sơ từ cấp cơ sở; tuy vậy, trong thực tế lại phát sinh đối tượng không phải do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phát hiện mà lại do các cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp điều tra trong khi trực tiếp điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật. Điều này đã được bổ sung trong Pháp lệnh năm 2002, trong đó quy định cơ quan Công an có trách nhiệm xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện đối với các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 75).</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Hội đồng tư vấn về việc đưa vào trường giáo dưỡng do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện (theo Pháp lệnh năm 1995 quy định Hội đồng tư vấn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập) thành lập để giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xét duyệt hồ sơ đưa đối tượng vào trường giáo dưỡng. Hội đồng tư vấn gồm Trưởng Công an, Trưởng phòng Tư pháp, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số. Gia đình và Trẻ em cấp huyện; trưởng Công an là thường trực Hội đồng tư vấn. Đối với những quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nếu không có Phòng Tư pháp thì Thủ trưởng cơ quan trực tiếp phụ trách công tác tư pháp cấp huyện là thành viên Hội đồng tư vấn. Thành viên Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm cấp kinh phí cho Hội đồng tư vấn hoạt động.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn bảy ngày (rút ngắn mười ba ngày so với quy định cũ), kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ và tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ. Thường trực Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chuẩn bị tài liệu, tổ chức và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng tư vấn. Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ tập thể; họp, xét duyệt và biểu quyết từng đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng. Căn cứ vào các ý kiến và số phiếu biểu quyết của các thành viên trong cuộc họp Hội đồng tư vấn, thường trực Hội đồng tư vấn kết luận theo đa số phiếu về từng đối tượng. Cuộc họp của Hội đồng tư vấn phải được ghi biên bản. Các ý kiến khác nhau phải được ghi vào biên bản cuộc họp gửi kèm theo báo cáo do thường trực Hội đồng tư vấn trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Đại diện thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện được mời tham dự phiên họp của Hội đồng tư vấn. Ý kiến phát biểu của đại diện thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện được ghi vào biên bản cuộc họp, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn năm ngày (rút ngắn được năm ngày so với quy định cũ), kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc đưa vào trường giáo dưỡng. Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người bị đưa vào trường giáo dưỡng, cha mẹ hoặc người giám hộ của người đó, cơ quan Công an cấp huyện, Hội đồng nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với gia đình hoặc người giám hộ đưa người phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng. Khi nhận được quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú có trách nhiệm chỉ đạo công an cùng cấp có kế hoạch quản lý, giám sát người được đưa vào trường giáo dưỡng, đồng thời phối hợp với cơ quan Công an cấp huyện trong việc tổ chức thi hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp cần phải có thời gian để tiến hành các thủ tục cần thiết trước khi đưa người có quyết định vào trường giáo dưỡng thì Trưởng Công an cấp huyện ra quyết định quản lý họ tại cơ quan Công an cấp huyện trong thời gian không quá năm ngày để tiến hành các thủ tục cần thiết và tổ chức đưa đi trường giáo dưỡng theo hướng dẫn của Bộ Công an. Thời gian quản lý người đó tại cơ quan Công an cấp huyện được tính vào thời hạn chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng. Chế độ ăn, ở của người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong thời gian bị quản lý tại Công an cấp huyện được hưởng như chế độ ăn, ở của học sinh trong trường giáo dưỡng. Cơ quan Công an cấp huyện phải bố trí nơi dành riêng cho việc quản lý ngưòi đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong thời gian họ bị quản lý tại Công an cấp huyện. Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng được tính từ ngày người phải chấp hành quyết định được đưa đi trường giáo dưỡng. Có thể thấy, quy định hiện hành về thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng có sự thay đổi về cách tính thời hạn thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng theo hướng có lợi cho đối tượng bị áp dụng (trong khi đó Pháp lệnh năm 1995 quy định đối tượng bắt đầu chấp hành tại trường giáo dưỡng).</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng nếu không tự giác chấp hành quyết định hoặc chống đối thì cơ quan Công an cấp huyện áp dụng những biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế cần thiết theo quy định pháp luật và theo hướng dẫn của Bộ Công an để buộc người đó phải chấp hành. Trường hợp hành vi chống đối có dấu hiệu của tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật Hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nếu xét thấy các hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm, thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án vì hành vi vi phạm của người đó chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, thì người có thẩm quyền đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án phải chuyển quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án kèm theo hồ sơ của đối tượng đó cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối với trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự, thì giải quyết như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp chưa chấp hành quyết định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện huỷ quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền. Nếu sau đó, hành vi này của đối tượng có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc được Toà án tuyên không phạm tội, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển lại hồ sơ cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện để xem xét, ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp người đó đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó, đồng thời chuyển hồ sơ và đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Nếu sau đó, đối tượng bị Toà án xử phạt tù thì thời hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Hai ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được tính bằng một ngày chấp hành hình phạt tù. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phải ra quyết định huỷ quyết định tạm đình chỉ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng do mình ban hành và thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa họ vào trường giáo dưỡng biết để huỷ quyết định đó. Trường hợp hành vi này có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc được Toà án tuyên không phạm tội, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải đưa đối tượng trở lại trường giáo dưỡng để họ tiếp tục chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng. Khi tiếp nhận đối tượng trở lại trường giáo dưỡng thì Hiệu trưởng trường ra quyết định huỷ quyết định tạm đình chỉ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mà mình đã ban hành đối với đối tượng đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.4. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp phát hiện người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định thì giải quyết như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp chưa chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra quyết định, phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp đối tượng đang chấp hành quyết định tại trường giáo dưỡng, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định đối với người đó, đồng thời chuyển hồ sơ và đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền và thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa họ vào trường giáo dưỡng biết. Nếu sau đó, đối tượng bị Toà án xử phạt tù thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.5. Truy tìm người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng trong trường hợp bỏ trốn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng bỏ trốn trước khi được đưa vào trường giáo dưỡng, thì Trưởng Công an cấp huyện nơi người đó cư trú ra quyết định truy tìm đối tượng. Đối với người không có nơi cư trú nhất định thì Trưởng Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng bỏ trốn thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ra quyết định truy tìm đối tượng. Thời gian trốn khỏi trường giáo dưỡng không được tính vào thời gian thi hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cơ quan Công an cấp huyện hoặc trường giáo dưỡng đã ra quyết định truy tìm có trách nhiệm tổ chức truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. Khi bắt giữ mà đối tượng có hành vi chống đối thì được áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Công an để buộc đối tượng phải chấp hành.</p>
<p style="text-align: justify;">
Uỷ ban nhân dân và cơ quan Công an các cấp có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ các cơ quan trong việc truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. Khi phát hiện đối tượng, người có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất hoặc bắt và dẫn giải ngay đối tượng đến các cơ quan nói trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.6. Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, nhưng chưa được đưa đi trường giáo dưỡng được hoãn chấp hành trong các trường hợp: đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên; gia đình đang có khó khăn đặc biệt có đơn đề nghị, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.</p>
<p style="text-align: justify;">
Người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, nhưng chưa được đưa đi, được miễn chấp hành trong các trường hợp: đang mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên; đang có thai có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có đơn đề nghị miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, trong đơn có xác nhận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Đối với trường hợp phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi không có nơi cư trú nhất định, có đơn đề nghị miễn chấp hành gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, nhưng không có xác nhận của Chủ tich Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện cử công an xác minh, xem xét từng trường hợp cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng được sửa đổi theo hướng nhân đạo hơn. Đối với trường hợp được hoãn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng cơ bản như trước đây; còn việc miễn thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, Pháp lệnh năm 2002 đã bổ sung thêm các trường hợp được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng nhưng mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng (đây là trường hợp cá biệt nhưng đã xảy ra trong thực tế); trong khi đó Pháp lệnh năm 1995 chỉ quy định miễn thi hành quyết định trong trường hợp nếu trong thời gian hoãn mà người đó tiến bộ rõ rệt trong việc thi hành pháp luật hoặc lập công.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.7. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Quy định này ở Pháp lệnh năm 2002 được sửa đổi theo hướng nhân đạo hơn Pháp lệnh năm 1995, thể hiện quy định những người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng mà ốm nặng được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ thi hành quyết định và thời gian điều trị cũng được tính vào thời gian chấp hành. Nếu sau khi sức khoẻ phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 6 tháng trở lên thì người đó phải chấp hành. Trong trường hợp người đã vào trường giáo dưỡng mà bị mắc bệnh hiểm nghèo hoặc có thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại <a href="#_ftn8" name="_ftnref8" title=""><sup>(</sup></a><sup>8)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đây là biện pháp xử lý hành chính chỉ áp dụng đối với những người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật. Một trong những căn cứ pháp luật để đưa các em vào trường giáo dưỡng là:</p>
<p style="text-align: justify;">
“- Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định;” (Điểm b, điểm c; Khoản 2; Điều 2 Nghị định 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính Phủ quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng). Chính vì yếu tố “đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn” là căn cứ để tiến hành áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nên thực tế xảy ra là có địa phương không tiến hành giáo dục các em tại địa phương trước khi đưa vào trường giáo dưỡng mà hợp pháp hoá hồ sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo thống kê tại Trường Giáo dưỡng số 1 ở Hà Nội cho thấy hơn 50% các em chưa được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trước khi áp dụng biện pháp này vì chính quyền địa phương muốn nhanh chóng đưa các em vào trường giáo dưỡng để làm “trong sạch” địa bàn họ quản lý <a href="#_ftn9" name="_ftnref9" title=""><sup>(</sup></a><sup>9)</sup>. Theo thống kê của Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, trong 3 năm (từ 2003-2005), số lượng học sinh tại các trường giáo dưỡng như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>Biểu 1</em></strong><strong>.</strong> <strong>Số liệu học sinh trường giáo dưỡng</strong></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Năm</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Các địa phương đưa vào</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Hết hạn ra trường</strong></p>
</td>
<td style="width:95px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Tổng số có mặt đến 20/11 của năm đó</strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2003</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2208</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
1727</p>
</td>
<td style="width:95px;">
<p style="text-align: justify;">
3436</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2004</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2276</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
1831</p>
</td>
<td style="width:95px;">
<p style="text-align: justify;">
3833</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2005</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2294</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
2269</p>
</td>
<td style="width:95px;">
<p style="text-align: justify;">
3799</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cộng</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>6678</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>5827</strong></p>
</td>
<td style="width:95px;">
<p style="text-align: justify;">
</p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Biểu 2.</strong> <strong>Số liệu học sinh trường giáo dưỡng được giảm thời hạn</strong></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Năm</strong></p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Tổng số được giảm</strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2003</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
965</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2004</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
1194</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2005</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
1364</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cộng</strong></p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>5931</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
Qua số liệu trên cho thấy số lượng học sinh được đưa vào trường giáo dưỡng có chiều hướng tăng. So với năm 2003, số lượng học sinh năm 2004 tăng 3%, số lượng học sinh năm 2005 tăng 3,8%. Số liệu này chưa phản ảnh thực trạng vi phạm pháp luật hành chính của người chưa thành niên. Bước đầu, chúng tôi suy nghĩ có thể do Điều 113 Pháp lệnh năm 2002 quy định trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Đồng thời qua Biểu 2, chúng ta có thể thấy số lượng học sinh được giảm thời hạn chấp hành biện pháp giáo dưỡng qua các năm chiếm tỷ trọng rất lớn so với tổng số học sinh hết hạn ra trường (năm 2003: 58,7%; năm 2004: 65,2%; năm 2005: 60,1%). Điều này cho thấy do việc thay đổi thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành phần còn lại tại trường giáo dưỡng theo Pháp lệnh năm 2002 bước đầu có tác dụng tích cực.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>III. BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với người có hành vi vi phạm pháp luật theo quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính từ sáu tháng đến hai năm nhằm giúp đỡ, giáo dục, tạo điều kiện họ học văn hoá, học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục để sửa chữa lỗi lầm, sớm trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>3.1. Thực trạng pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Đối tượng bị áp dụng biện pháp này cơ bản vẫn giữ nguyên như Điều 23 Pháp lệnh năm 1995 và Nghị định số 32/CP ngày 14/04/1997 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế về cơ sở giáo dục. Tuy nhiên, khoản 1 của Điều 23 cũ được tách thành hai khoản mới quy định rõ thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (trước đây nội dung này được quy định tại Nghị định 32/CP nói trên) tại Khoản 1 và cụ thể hoá điều kiện để đưa người vi phạm vào cơ sở giáo dục ở khoản 2 Điều 25 Pháp lệnh năm 2002, trong đó quy định người vi phạm đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, hoặc chưa áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định. Quy định này rõ ràng dễ áp dụng so với quy định cũ trong Pháp lệnh năm 1995 là: “đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa”.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bao gồm những người có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau có tính chất thường xuyên, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định:</p>
<p style="text-align: justify;">
a. Xâm phạm sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài;</p>
<p style="text-align: justify;">
b. Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài;</p>
<p style="text-align: justify;">
c. Đánh bạc dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hoặc hiện vật;</p>
<p style="text-align: justify;">
d. Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc;</p>
<p style="text-align: justify;">
đ. Tổ chức môi giới, mại dâm;</p>
<p style="text-align: justify;">
e. Gây rối trật tự công cộng; chống người thi hành công vụ;</p>
<p style="text-align: justify;">
g. Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;</p>
<p style="text-align: justify;">
h. Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép;</p>
<p style="text-align: justify;">
i. Các hành vi khác vi phạm về trật tự an toàn, xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục phải có đủ các điều kiện quy định theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong trường hợp hành vi vi phạm lần sau cùng đã được cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng sau khi xem xét, không đủ điều kiện để đề nghị áp dụng biện pháp này hoặc đã đề nghị nhưng không được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thì phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xử phạt theo quy định của pháp luật; trong trường hợp này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là ba tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được hồ sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn nêu trên, nếu người đó lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định nêu trên mà thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính sẽ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp một người thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong trường hợp cơ quan Công an đã thụ lý hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục mà phát hiện người đó thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì phải chuyển ngay hồ sơ đó cho cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quy định của pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối với trường hợp đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng mà bỏ trốn, đến khi bị bắt lại mà người đó đã đủ 18 tuổi trở lên thì Trưởng Công an cấp huyện làm văn bản đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp huỷ quyết định đưa vào trường giáo dưỡng và lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục theo thủ tục chung, mà không cần phải có điều kiện là đã bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thời hiệu áp dụng biện pháp và thi hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là một năm (đây là điểm mới so với Pháp lệnh năm 1995) kể từ khi đối tượng bị áp dụng biện pháp này thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm nêu từ điểm a đến i nêu trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu trong thời hạn một năm, người có hành vi vi phạm cố tình trốn tránh thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp người bị đưa vào cơ sở giáo dục cố tình trốn tránh việc thi hành thì thời hiệu nêu trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh được chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục là điểm mới so với Pháp lệnh năm 1995. Như vậy, theo quy định trên thì sau khi hết một năm kể từ khi người có hành vi vi phạm pháp luật tuỳ theo trường hợp cụ thể thì người có thẩm quyền không được quyết định áp dụng biện pháp này đối với họ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thủ tục đưa người vào cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
+ Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối với người thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, có nơi cư trú nhất định và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xem xét, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đối với người thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng không có nơi cư trú nhất định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập biên bản, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp huyện, cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục thì Cơ quan Công an đang thụ lý phải xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp để đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an cùng cấp tổ chức quản lý chặt chẽ các đối tượng trong thời gian lập hồ sơ đưa họ vào cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải giao hồ sơ cho cơ quan Công an cùng cấp để xác minh, thẩm tra hồ sơ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm xác minh, thẩm tra hồ sơ, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo xác minh, thẩm tra của cơ quan Công an, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải gửi hồ sơ, kèm theo văn bản đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp đối tượng do cơ quan Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, thụ lý, điều tra trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục thì cơ quan Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh thủ tục, hồ sơ gửi Hội đồng tư vấn để xem xét, giải quyết theo thủ tục chung quy định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục tương tự như đối với biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Về thủ tục lập hồ sơ đưa vào cơ sở giáo dục được bổ sung thêm đối tượng do cơ quan Công an ấp tỉnh, cấp huyện trực tiếp điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, thì cơ quan Công an đang thụ lý phải xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Hội đồng tư vấn việc đưa vào cơ sở giáo dục</p>
<p style="text-align: justify;">
- Hội đồng tư vấn về việc đưa người vào cơ sở giáo dục (Điều 85) do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm Giám đốc Sở Công an, Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, trong dó Giám đốc Sở Công an là thường trực Hội đồng tư vấn. Thường trực Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chuẩn bị tài liệu, tổ chức và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng. Điểm khác biệt so với Pháp lệnh năm 1995 là các chức danh tham gia Hội đồng tư vấn đều là cấp trưởng của các cơ quan, tổ chức; trong khi Pháp lệnh năm 1995 chỉ quy định các chức danh tham gia là đại diện của các cơ quan này. Việc sửa đổi như vậy là nhằm tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan này trong việc xem xét, đề xuất việc áp dụng biện pháp này đúng người, đúng đối tượng, tránh trường hợp tuỳ tiện có thể xảy ra.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ (rút ngắn 15 ngày so với Pháp lệnh năm 1995), Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xem xét hồ sơ và tổ chức cuộc họp đề xét duyệt hồ sơ, làm báo cáo trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ tập thể, kết luận theo đa số. Trường hợp các ý kiến biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo ý kiến có biểu quyết của thường trực Hội đồng tư vấn. Các ý kiến khác nhau phải được ghi vào biên bản cuộc họp gửi kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đại diện Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được mời tham dự phiên họp của Hội đồng tư vấn.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Tthi hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn (rút ngắn được 3 ngày so với Pháp lệnh năm 1995).</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho Công an cấp tỉnh, Hội đồng tư vấn cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và giao cho người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trước khi thi hành.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày ra quyết định, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở giáo dục. Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp này được đưa đi cơ sở giáo dục. Quy định này được sửa đổi theo hướng có lợi cho đối tượng bị áp dụng; trong khi Pháp lệnh năm 1995 (Điều 70) quy định thời hạn chấp hành đưa vào cơ sở giáo dục được tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp đó bắt đầu chấp hành tại cơ sở.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khi nhận được quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, Công an cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Công an cấp tỉnh trong việc đảm bảo thi hành quyết định đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp cần phải có thời gian để tiến hành các thủ tục trước khi đưa người có quyết định vào cơ sở giáo dục thì Công an cấp tỉnh ra quyết định quản lý họ tại Công an cấp tỉnh trong thời hạn không quá 05 ngày để tiến hành các thủ tục cần thiết. Thời gian bị quản lý được tính vào thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, nếu không tự giác chấp hành hoặc có hành vi chống đối thì có thể bị khoá tay, áp giải hoặc bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết khác theo quy định pháp luật và hướng dẫn của Bộ Công an để buộc người đó phải chấp hành quyết định. Trường hợp hành vi chống đối có dấu hiệu của tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Truy tìm và bắt giữ đối tượng đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bỏ trốn</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục mà bỏ trốn trước khi được đưa vào cơ sở thì Trưởng Công an cấp huyện nơi người đó cư trú hoặc nơi đã lập hồ sơ ra quyết định truy tìm. Trường hợp trại viên cơ sở giáo dục bỏ trốn thì Giám đốc cơ sở giáo dục quyết định truy tìm. Thời gian trốn khỏi cơ sở giáo dục không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Cơ quan đã ra quyết định truy tìm có trách nhiệm tổ chức truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. Khi tiến hành bắt giữ, nếu đối tượng có hành vi chống đối thì được áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định pháp luật để buộc người đó phải chấp hành. Uỷ ban nhân dân và Công an các cấp có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ các cơ quan nói trên trong việc truy tìm, bắt giữ đối tượng bỏ trốn. Khi phát hiện có đối tượng truy tìm, mọi người đều có trách nhiệm báo ngay cho cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất hoặc bắt và dẫn giải ngay đối tượng đến các cơ quan nói trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục, được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau: Đang ốm nặng có chứng nhận của Trung tâm y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên; đang mang thai có chứng nhận của Trung tâm y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, có đơn đề nghị và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khi hết thời hạn được hoãn hoặc khi điều kiện hoãn không còn thì quyết định đưa vào cơ sở giáo dục được tiếp tục thi hành ngay.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục nhưng chưa đến chấp hành tại cơ sở giáo dục, được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau: Đang mắc bệnh hiểm nghèo, có chứng nhận của bệnh viện hoặc Trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội; có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công trong thời gian được hoãn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đề nghị của người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục. Ttrường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân giao Giám đốc Công an cùng cấp thẩm tra, xác minh các trường hợp cụ thể nêu trên trước khi ra quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, việc hoãn hoặc miễn chấp hành đưa vào cơ sở giáo dục được sửa đổi theo hướng nhân đạo hơn, phù hợp với chính sách chung về xử lý vi phạm hành chính của Nhà nước ta. Theo đó, người đang ốm nặng, phụ nữ có thai có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên, phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi có đơn đề nghị được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thì được xem xét, hoãn việc chấp hành quyết định. Việc miễn chấp hành quyết định được áp dụng trong các trưòng hợp: người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục mà mắc bệnh hiểm nghèo và không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc người được hoãn chấp hành quyết định mà trong thời gian hoãn có tiến bộ rõ rệt trong việc thi hành pháp luật hoặc lập công.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Trích xuất trại viên</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Trích xuất trại viên là việc tạm thời đưa trại viên ra khỏi cơ sở giáo dục theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền để họ tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó, thời hạn trích xuất trại viên được tính vào thời hạn chấp hành tại cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Khi có yêu cầu trích xuất, Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có công văn gửi Giám đốc cơ sở giáo dục, trong đó ghi rõ họ, tên người cần trích xuất, lý do và thời hạn trích xuất, căn cứ vào đó Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định trích xuất trại viên. Quyết định trích xuất trại viên phải ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của người được trích xuất; cơ quan yêu cầu trích xuất; mục đích và thời hạn trích xuất, cấp bậc và chức vụ của người ký trích xuất.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cơ quan yêu cầu trích xuất chịu trách nhiệm đưa người có quyết định trích xuất đi và trả lại cho cơ sở giáo dục theo đúng thời hạn ghi trong quyết định. Khi giao nhận người theo quyết định trích xuất phải lập biên bản theo đúng quy định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
+ Trường hợp người có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục mà sau đó phát hiện hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp chưa chấp hành quyết định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh huỷ quyết định đưa vào cơ sở giáo dục và trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày huỷ quyết định, phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Nếu sau đó hành vi của đối tượng có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc Toà án tuyên không phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển lại hồ sơ đối tượng cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để xem xét, ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp người đó đang chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã ra quyết định đưa họ vào cơ sở giáo dục để biết.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu sau đó hành vi của đối tượng có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc Toà án tuyên không phạm tội thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chuyển lại hồ sơ của đối tượng cho cơ sở giáo dục để họ tiếp tục chấp hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Trường hợp phát hiện người đã có quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định thì giải quyết như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp chưa chấp hành quyết định thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp người đó đang chấp hành quyết định tại cơ sở giáo dục thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Giám đốc cơ sở giáo dục ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Nếu sau đó, đối tượng bị áp dụng hình phạt tù thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời hạn còn lại tại cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Quy định này được sửa đổi theo hướng nhân đạo hơn. Theo đó, người đang chấp hành tại cơ sở giáo dục mà ốm nặng được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ thi hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành; nếu sau khi sức khoẻ được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ ba tháng trở lên thì phải tiếp tục chấp hành. Đối với phụ nữ có thai thì được tạm đình chỉ thi hành quyết định cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại <a href="#_ftn10" name="_ftnref10" title=""><sup>(</sup></a><sup>10)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đưa vào cơ sở giáo dục là biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định được áp dụng đối với người thực hiện hành vi vi phạm hành chính có tính chất thường xuyên, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người vi phạm pháp luật không có nơi cư trú nhất định. Hơn ba năm tổ chức hiện biện pháp này theo Pháp lệnh năm 2002 đã tạo điều kiện cho người vi phạm pháp luật được lao động, học văn hoá, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục, để khi hết thời hạn chấp hành quyết định đưa váo cơ sở giáo dục, họ có thể hoà nhập cộng đồng, có nghề nghiệp để lao động sinh sống, đảm bảo cuộc sống. Theo thống kê của Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, trong ba năm (2003-2005), số liệu trại viên cơ sở giáo dục như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Biểu 3. Số lượng trại viên đưa vào, ra cơ sở giáo dục</strong></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Năm</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Các địa phương đưa vào</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Hết hạn ra cơ sở giáo dục</strong></p>
</td>
<td style="width:113px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Tổng số có mặt đến 20/11 của năm đó</strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="text-align: justify;">
2003</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
5627</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
5253</p>
</td>
<td style="width:113px;">
<p style="text-align: justify;">
9519</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="text-align: justify;">
2004</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
4373</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
5570</p>
</td>
<td style="width:113px;">
<p style="text-align: justify;">
7902</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="text-align: justify;">
2005</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
3533</p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
4978</p>
</td>
<td style="width:113px;">
<p style="text-align: justify;">
6248</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cộng</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>13533</strong></p>
</td>
<td style="width:66px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>15801</strong></p>
</td>
<td style="width:113px;">
<p style="text-align: justify;">
</p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Biểu 4. Số lượng trại viên cơ sở giáo dục được giảm thời hạn</strong></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Năm</strong></p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Tổng số được giảm</strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2003</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
3832</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2004</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
2771</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
2005</p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
2864</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:84px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cộng</strong></p>
</td>
<td style="width:209px;">
<p style="text-align: justify;">
<strong>9467</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
Qua số liệu trên, chúng ta có thể thấy số lượng trại viên của các địa phương đưa vào cơ sở giáo dục giảm dần theo hàng năm. So với năm 2003, số lượng trại viên năm 2004 giảm 22,2%; số lượng trại viên năm 2005 giảm 37,2%. Như đã đặt vấn đề ở trên, điều này có thể lý giải do Điều 113 Pháp lệnh năm 2002 quy định trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, nên số lượng trại viên giảm từ 22,2% đến 37,2% qua hai năm. Ngoài ra, trên thực tế xảy ra, có đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật lẽ ra thuộc diện đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng cố tình nghiện ma tuý để sau khi các cơ quan hữu quan xét nghiệm trong quá trình lập hồ sơ sẽ đề nghị chuyển qua biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh <a href="#_ftn11" name="_ftnref11" title=""><sup>(</sup></a><sup>11)</sup>. Cũng tương tự biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, do thay đổi quy định về thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành tại cơ sở giáo dục nên số lượng trại viên được giảm thời hạn chấp hành chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng số trại viên hết hạn ra cơ sở giáo dục (năm 2003: 72,9%; năm 2004: 49,74%; năm 2005: 57,5%).</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>IV. BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CHỮA BỆNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Đưa vào cơ sở chữa bệnh là biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính từ ba tháng đến hai năm để lao động, học văn hoá, học nghề và chữa bệnh dưới sự quản lý của cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>4.1. Thực trạng pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh</em></p>
<p style="text-align: justify;">
a) Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị xử phạt vi phạm hành chính về việc sử dụng trái phép chất ma tuý mà vẫn còn nghiện; đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc người nghiện ma tuý không có nơi cư trú nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma tuý từ một năm đến hai năm;</p>
<p style="text-align: justify;">
b) Người bán dâm từ đủ 16 tuổi trở lên đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đã bị đưa vào cơ sở chữa bệnh nhưng tái phạm; người bán dâm có tính chất thường xuyên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có nơi cư trú nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm từ ba tháng đến mười tám tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh những đối tượng sau: Người nghiện ma tuý chưa đủ 18 tuổi, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên trong thời hạn hai năm lại tái nghiện kể từ ngày đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh; người bán dâm chưa đủ 16 tuổi hoặc trên 55 tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thời hiệu áp dụng</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là sáu tháng, kể từ khi đối tượng thực hiện lần cuối hành vi từ điểm a và b nêu trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nếu sau ba tháng kể từ khi thực hiện lần cuối hành vi vi phạm mà người vi phạm không có hành vi sử dụng ma tuý hoặc bán dâm thì không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh hết thời hiệu thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp người bị đưa vào cơ sở chữa bệnh cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu nói trên được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Thủ tục áp dụng </em></p>
<p style="text-align: justify;">
+ Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người có nơi cư trú nhất định</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (chung là cấp xã) nơi người đó cư trú, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có trách nhiệm lấy ý kiến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giao cho Thủ trưởng cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Thủ trưởng cơ quan Công an cùng cấp thẩm tra hồ sơ, thu thập tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ và gửi đến thành viên của Hội đồng Tư vấn.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Hội đồng Tư vấn về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh</p>
<p style="text-align: justify;">
Hội đồng tư vấn về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thành lập để xét, duyệt hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh (theo Pháp lệnh năm 1995 là ở cấp tỉnh). Hội đồng tư vấn gồm: Thủ trưởng cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội là Thường trực Hội đồng, Thủ trưởng các cơ quan: Tư pháp, Công an và Chủ tịch Hội Phụ nữ là thành viên của Hội đồng. Trường hợp người được đưa vào cơ sở chữa bệnh là người chưa thành niên thì Chủ nhiệm Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em cấp huyện tham gia Hội đồng tư vấn. Thường trực Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chuẩn bị, tổ chức, chủ trì phiên họp và làm văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ (rút ngắn 23 ngày so với Pháp lệnh năm 1995), Hội đồng tư vấn có trách nhiệm xét duyệt xong hồ sơ. Hội đồng tư vấn làm việc theo chế độ tập thể, xem xét và biểu quyết từng trường hợp cụ thể, kết luận theo đa số. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Thường trực Hội đồng tư vấn là ý kiến quyết định. Biên bản họp Hội đồng tư vấn phải ghi rõ ý kiến phát biểu của từng thành viên tham dự kèm theo báo cáo trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Quyết định, thi hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng tư vấn (rút ngắn 5 ngày so với Pháp lệnh năm 1995), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc đưa vào cơ sở chữa bệnh. Quyết định được được gửi cho người bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, gia đình người đó, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an, Hội đồng nhân dân huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Trường hợp đối tượng là người chưa thành niên thì quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh phải được gửi cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Khi nhận được quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ đạo Công an cùng cấp có kế hoạch quản lý người có quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, đồng thời phối hợp với cơ quan Công an cấp huyện trong việc thi hành quyết định. Đối với người được bảo lãnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được bảo lãnh cư trú chỉ đạo Công an cùng cấp có kế hoạch phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, cha, mẹ hoặc người giám hộ (trường hợp là người chưa thành niên) để quản lý, giám sát.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tổ chức xã hội, cha, mẹ hoặc người giám hộ, người được giao trách nhiệm bảo lãnh có trách nhiệm không để đối tượng tiếp tục vi phạm pháp luật và đảm bảo sự có mặt của đối tượng tại nơi cư trú khi được yêu cầu.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp huyện có trách nhiệm đưa người phải chấp hành vào cơ sở chữa bệnh. Thời hạn chấp hành quyết định được tính từ ngày đối tượng được đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh nếu không tự giác thi hành thì cơ quan Công an áp dụng những biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật để buộc người đó phải chấp hành quyết định. </p>
<p style="text-align: justify;">
+ Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người không có nơi cư trú nhất định</p>
<p style="text-align: justify;">
Đối với người không có nơi cư trú nhất định, tại Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005, Chính phủ đã quy định trình tự, thủ tục đưa đối tượng trên vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh trong thời gian chờ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh là biện pháp ngăn chặn và bảo đảm áp dụng xử lý vi phạm hành chính do Trưởng cơ quan Công an cấp huyện quyết định buộc các đối tượng sau phải lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh trong thời gian tiến hành thủ tục xem xét, quyết định áp dụng đưa vào cơ sở chữa bệnh: Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên bị bắt quả tang sử dụng trái phép chất ma túy mà không có nơi cư trú nhất định; người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi bị bắt quả tang thực hiện hành vi bán dâm hoặc người bán dâm có tính chất thường xuyên mà không có nơi cư trú nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Lực lượng Công an khi phát hiện đối tượng nêu trên thì lập biên bản theo quy định pháp luật. Trường hợp đối tượng do Công an cấp xã, cấp huyện trực tiếp phát hiện thì lập biên bản và hồ sơ báo cáo Trưởng công an cấp huyện. Trường hợp đối tượng do Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện thì lập biên bản và hồ sơ chuyển cho công an cấp huyện nơi đối tượng có hành vi vi phạm để Trưởng Công an cấp huyện xem xét, quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Thời hạn xem xét quyết định việc đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh không quá 12 giờ, trường hợp cần thiết thời hạn này có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ; đối với vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu tạm giữ người vi phạm, Trưởng Công an cấp huyện phải ra quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh đối với đối tượng vi phạm.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cơ quan công an cấp huyện nơi đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật có trách nhiệm đưa đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh. Thời hạn chấp hành quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh được tính từ ngày đối tượng bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Khi người bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh có quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ sở chữa bệnh chuyển người đó ra khỏi khu vực lưu trú tạm thời để thực hiện quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh. Nếu hết thời hạn lưu trú tạm thời mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ra quyết định đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh thì Trưởng Công an cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa đối tượng vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh quyết định đối tượng trở về cộng đồng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Truy tìm và bắt giữ người đã có quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bỏ trốn</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp người đã có quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh mà bỏ trốn thì cơ quan Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ ra quyết định truy tìm.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp người đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh mà bỏ trốn thì Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội phải lập biên bản, thông báo ngay cho Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và cơ quan Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ, thẩm tra hồ sơ biết. Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội ra quyết định truy tìm người bỏ trốn. Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội đóng trụ sở có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an cùng cấp phối hợp với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục -Lao động xã hội trong việc truy tìm, tổ chức đưa người đó trở lại Trung tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức phát hiện người bị đưa vào cơ sở chữa bệnh đang bỏ trốn có trách nhiệm báo cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân phải lập biên bản và đưa họ trở lại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội nơi họ đang lao động, học tập và chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Việc tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội để phục vụ cho công tác điều tra, xét xử được thực hiện theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội quyết định việc tạm thời đang chấp hành quyết định ra khỏi Trung tâm để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Cơ quan có yêu cầu đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội chịu trách nhiệm đưa đối tượng đi và trả lại Trung tâm đúng thời hạn đã ghi trong quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi Trung tâm. Khi giao, nhận đối tượng phải lập biên bản theo quy định. Thời gian tạm thời đưa ra khỏi Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội được tính vào thời hạn chấp hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, nếu xét thấy hành vi vi phạm của đối tượng có dấu hiệu tội phạm thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trường hợp đã ra quyết định đưa vào cơ sở chưa bệnh, sau đó mới phát hiện hành vi vi phạm của đối tượng có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải huỷ quyết định đó; trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Trong trường hợp đối tượng bị Toà án xử phạt tù thì thời gian chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Hai ngày chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh được tính bằng một ngày chấp hành hình phạt tù.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời hạn chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh </em></p>
<p style="text-align: justify;">
Trường hợp phát hiện người đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền yêu cầu Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định và chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh. Toà án nơi đã ra quyết định phải thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh để ra quyết định miễn chấp hành thời gian còn lại và Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội để thực hiện việc miễn chấp hành; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh </em></p>
<p style="text-align: justify;">
Đây là quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh năm 1995 qua việc áp dụng biện pháp này trong thực tiễn và thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Nhà nước, cụ thể như sau: </p>
<p style="text-align: justify;">
- Người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh được hoãn thi hành quyết định trong các trường hợp sau: Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; phụ nữ đang có thai có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên hoặc phụ nữ đang nuôi con nhỏ dưới ba mươi sáu tháng tuổi, có đơn đề nghị được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc nơi người đó bị phát hiện hành vi vi phạm pháp luật xác nhận.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khi hết thời hạn hoãn chấp hành ghi trong quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đối tượng cư trú thì các đối tượng trên phải tiếp tục thi hành quyết định. Trường hợp không tự nguyện thi hành quyết định thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau: Đang mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên; trong thời gian hoãn chấp hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật của Nhà nước hoặc lập công được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận thì có thể được miễn chấp hành quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh. Trong trường hợp một trong những điều kiện trên cần phải được xác minh, làm rõ thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện giao cho Thủ trưởng cơ quan lao động - Thương binh và xã hội cùng cấp phối hợp với Trưởng cơ quan Công an cấp huyện thẩm tra từng trường hợp cụ thể trước khi quyết định. Quyết định hoãn hoặc miễn chấp hành phải được gửi cho người được hoãn hoặc miễn chấp hành, gia đình người đó, cơ quan Lao động - Thương binh và xã hội, cơ quan Công an cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú <a href="#_ftn12" name="_ftnref12" title=""><sup>(</sup></a><sup>12)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>4.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh năm 2002 đã có nhiều thay đổi so với Pháp lệnh năm 1995 về thẩm quyền quyết định áp dụng, thẩm quyền thành lập và quản lý cơ sở chữa bệnh, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương trong việc quản lý, nâng cao hiệu quả biện pháp này trong tổ chức thực hiện. Theo thống kê của Bộ lao động Thương binh và Xã hội (Niên giám thống kê của Bộ) trong các năm 2001-2004 số liệu về các đối tượng mại dâm, ma tuý như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Biểu 5. Số liệu học viên được đưa vào cơ sở chữa bệnh</strong></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0">
<tbody>
<tr>
<td rowspan="2" style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
</p>
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>Năm</strong></p>
</td>
<td colspan="3" style="width:132px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>Số đối tượng bị phát hiện</strong></p>
</td>
<td colspan="3" style="width:123px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>Số học viên được đưa vào cơ sở chữa bệnh trong số bị phát hiện</strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Tổng số</em></strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Mại dâm</em></strong></p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Ma tuý</em></strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Tổng số</em></strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Mại dâm</em></strong></p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong><em>Ma tuý</em></strong></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
2001</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
54391</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
4396</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
49995</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
41877</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
3467</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
38410</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
2002</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
53394</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
4396</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
48998</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
39157</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
3123</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
36034</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
2003</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
42695</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
4126</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
38569</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
29653</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
3725</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
25928</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
2004</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
35358</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
4795</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
30563</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
23357</p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
3694</p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
19663</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>Cộng</strong></p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>185838</strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>17713</strong></p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>168125</strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>134044</strong></p>
</td>
<td style="width:38px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>14009</strong></p>
</td>
<td style="width:47px;">
<p style="margin-left: -5.4pt; text-align: justify;">
<strong>120035</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">
Qua số liệu trên có thể nhận thấy số học viên được đưa vào cơ sở chữa bệnh giảm dần qua các năm (năm 2001: 76,9%; năm 2002:73,3%; năm 2003: 69,4%; năm 2004: 66,0%); trong đó đối với các đối tượng mại dâm biến động không đều (năm 2001: 78,8%; năm 2002: 71,0%; năm 2003: 90,2%; năm 2004: 77%), còn đối với đối tượng ma tuý, số lượng học viên so với tổng số bị phát hiện giảm dần qua các năm (năm 2001: 76,8%; năm 2002: 73,5%; năm 2003: 67,2%; năm 2004: 64,3%). Điều này cho thấy mặc dù việc áp dụng Điều 113 của Pháp lệnh năm 2002 cho đối tượng vừa thuộc diện đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc diện đưa vào cơ sở chữa bệnh thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, nhưng tỷ trọng số học viên so với tổng số bị phát hiện vẫn không tăng, có thể do các địa phương tăng cường biện pháp cai nghiện tại cộng đồng.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thực tế cho thấy việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm rất khó khăn do việc theo dõi quản lý số đối tượng này còn nhiều bất cập, nên việc chứng minh họ “mại dâm thường xuyên” để áp dụng biện pháp này bị hạn chế. Do vậy, các địa phương thường xử lý bằng hình thức phạt tiền rồi cho đối tượng về, dẫn đến hiệu quả của biện pháp này chưa cao.</p>
<p style="text-align: justify;">
Việc quy định tuỳ nghi đối với đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh có thể có bệnh án hoặc không, dẫn đến khó khăn cho việc quản lý phòng ngừa các bệnh lây nhiễm giữa các đối tượng, do thực tế số đối tượng này thường có sức khoẻ yếu khi vào cơ sở chữa bệnh, mang trong người nhiều bệnh xã hội dễ lây nhiễm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bên cạnh đó, do việc thay đổi thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục từ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chuyển nhiệm vụ cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, nên xuất hiện tình trạng muốn làm “trong sạch” địa bàn quản lý, lạm dụng việc áp dụng biện pháp này dẫn đến nhiều trưòng hợp áp dụng chưa đúng đối tượng; điều này không kích thích địa phương áp dụng biện pháp cai nghiện cộng đồng và gia đình. Mặc dù Pháp lệnh năm 2002 quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập Hội đồng tư vấn; song có địa phương như thành phố Hồ chí Minh vẫn áp dụng quy định Hội đồng tư vấn cấp tỉnh với lý do tiến hành như vậy cho “bảo đảm hơn, chính xác hơn”; đồng thời để tránh việc quá tải đối với một số cơ sở chữa bệnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không có thông tin về số lượng học viên ở các cơ sở, dẫn đến quyết định không trên cơ sở năng lực của các cơ sở chữa bệnh <a href="#_ftn13" name="_ftnref13" title=""><sup>(</sup></a><sup>13)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>V. BIỆN PHÁP QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>5.1. Thực trạng pháp luật về biện pháp quản chế hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Quản chế hành chính là biện pháp xử lý hành chính khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với người có hành vi vi phạm pháp luật từ 18 tuổi trở lên làm phương hại đến an ninh quốc gia, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc họ phải cư trú, làm ăn, sinh sống tại một địa phương nhất định và chịu sự quản lý, giáo dục của của chính quyền, nhân dân địa phương với thời gian từ 6 tháng đến 2 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">
+<em>Thủ tục lập hồ sơ đề nghị quản chế hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đối tượng bị quản chế hành chính cư trú có trách nhiệm xem xét, lập hồ sơ gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Hồ sơ gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài liệu về các vi phạm pháp luật của người đó, nhận xét của cơ quan công an cấp huyện, ý kiến của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và ý kiến của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Cơ quan Công an cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc thu thập tài liệu để lập hồ sơ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện chuyển đến, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao hồ sơ cho Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ và gửi hồ sơ đến các thành viên Hội đồng tư vấn. Việc giao cho Giám đốc Công an cấp tỉnh thẩm tra là một điểm mới trong thủ tục quản chế hành chính nhằm xác định rõ ràng các tình tiết liên quan đến hành vi của đối tượng đề nghị quản chế trước khi trình Hội đồng tư vấn với thời gian thẩm tra hồ sơ tối đa là 20 ngày.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Hội đồng tư vấn về quản chế hành chính </em></p>
<p style="text-align: justify;">
Hội đồng tư vấn về quản chế hành chính do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm Giám đốc Công an là thường trực Hội đồng tư vấn và Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh. Việc quy định rõ các chức danh tham gia Hội đồng tư vấn là Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, trong khi Pháp lệnh năm 1995 chỉ quy định thành viên Hội đồng tư vấn chỉ gồm đại diện các cơ quan nói trên xuất phát từ thực tiễn áp dụng biện pháp quản chế hành chính, vì đây là một biện pháp liên quan đến an ninh chính trị, an ninh quốc gia nên việc xem xét, quyết định hết sức thận trọng. Thời hạn Hội đồng tư vấn tổ chức cuộc họp để xét duyệt hồ sơ tối đa là 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ (rút ngắn 15 ngày so với Pháp lệnh năm 1995).</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Trình tự, thủ tục ra quyết định quản chế hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc quản chế hành chính trong thời hạn bảy ngày (rút ngắn ba ngày so với trước đây), kể từ ngày nhận được báo cáo của Hội đồng tư vấn. Quyết định quản chế hành chính có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và phải được gửi ngay cho người bị quản chế hành chính, Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi lập hồ sơ, Hội đồng nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và nơi thi hành quyết định quản chế.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Trình tự, thủ tục tổ chức thi hành quyết định quản chế hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Pháp lệnh năm 1995 không quy định rõ cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định quản chế hành chính; do vậy, tại Điều 105 Pháp lệnh năm 2002 đã được bổ sung quy định: “trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm thi hành quyết định quản chế hành chính”. Khái niệm thi hành ở đây có nghĩa là cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm đưa người bị quản chế đến nơi người đó phải cư trú, làm ăn sinh sống trong thời gian bị quản chế.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>+ Về giảm thời hạn quản chế hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Người bị quản chế hành chính đã chấp hành được một nửa thời hạn quản chế, nếu có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công thì có thể được xét giảm thời hạn quản chế. Quy định về cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn quản chế là có sự sửa đổi; theo đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi người bị quản chế đang chấp hành quyết định có quyền đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét việc giảm thời hạn quản chế (theo quy định của Pháp lệnh năm 1995 thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi lập hồ sơ đề nghị có quyền này).</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>5.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp quản chế hành chính </em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Quản chế hành chính là biện pháp xử lý hành chính có lịch sử ra đời lâu nhất trong nhóm các biện pháp xử lý hành chính khác. Từ năm 1953, tại Sắc lệnh số 175/SL ngày 18/08/1953, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quy định: “Quản chế là dùng quyền lực của chính quyền và của nhân dân để xử trí những phần tử đã phạm tội với cách mạng, với nhân dân những tội chưa đáng phạt tù, hoặc đã mãn hạn tù nhưng chưa thực sự hối cải”; về sau, quản chế đã được đề cập trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác, nhưng về nội dung, cách quản chế đối với người vi phạm pháp luật cơ bản không thay đổi đáng kể. Do đối tượng bị áp dụng là người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến an ninh quốc gia, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; cho nên xem xét các quy định pháp luật từ khâu lập hồ sơ, ban hành quyết định quản chế hành chính, quản lý đối tượng..., thiên về “biện pháp tư pháp” hơn là “biện pháp hành chính”, mặc dù thẩm quyền thuộc cơ quan, người có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sau hai mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới, với những thành tựu trong cải cách kinh tế, tình hình an ninh chính trị ổn định; cho nên việc áp dụng biện pháp này không nhiều. Tuy vậy, theo cách nhìn của các cơ quan hữu quan, quản chế hành chính là biện pháp có liên quan đến an ninh quốc gia, nên việc tiếp cận các số liệu, hồ sơ để nghiên cứu, cung cấp thông tin từ phía cơ quan có thẩm quyền hạn chế. Bên cạnh đó, đến nay Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành biện pháp quản chế hành chính theo Pháp lệnh năm 2002; qua tham khảo, các địa phương vẫn áp dụng những quy định pháp luật còn phù hợp của Nghị định số 31/CP ngày 14/4/1997 của Chính phủ ban hành Quy chế quản chế hành chính. Đây là vấn đề bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện của các địa phương, chúng tôi đề nghị Chính phủ sớm ban hành quy chế để các cơ quan hữu quan áp dụng <a href="#_ftn14" name="_ftnref14" title=""><sup>(</sup></a><sup>14)</sup>.</p>
<table align="left" cellpadding="0" cellspacing="0" height="125" hspace="0" vspace="0" width="622">
<tbody>
<tr>
<td align="left" height="125">
<p style="text-align: center;">
<strong>CHƯƠNG 3</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC</strong></p>
<p style="text-align: center;">
<strong>THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY Ở NƯỚC TA</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<div style="clear: both; text-align: justify;">
</div>
<p style="text-align: justify;">
<strong>I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY Ở NƯỚC TA</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Một trong những nội dung quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta, đó là yêu cầu đảm bảo các quyền công dân theo quy định pháp luật, bên cạnh đó là việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân. Khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra thì bất cứ Nhà nước nào cũng tiến hành các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo lợi ích chung của xã hội, của các thành viên trong xã hội và của Nhà nước. Các biện pháp pháp lý đó tuỳ theo mức độ sẽ dẫn đến những hạn chế nhất định quyền công dân của người có hành vi vi phạm pháp luật. Vấn đề đặt ra là cần xây dựng các quy định pháp luật về biện pháp pháp lý đó như thế nào để tương xứng với hành vi vi phạm pháp luật cũng như đảm bảo quyền con người. Như đã trình bày ở Chương I về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về biện pháp xử lý hành chính khác, do yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử mà việc quy định các biện pháp ấy có thay đổi về đối tượng, thẩm quyền áp dụng, hành vi vi phạm..., nhưng có điểm chung là, biện pháp này ảnh hưởng sâu sắc đến quyền công dân, chủ yếu do cơ quan quản lý hành chính nhà nước quyết định áp dụng và không phải là biện pháp tư pháp. Có thể thấy rằng việc pháp luật chủ yếu giao cho cơ quan hành chính đảm nhiệm việc áp dụng các biện pháp nêu trên bắt nguồn từ ảnh hưởng của nền phong kiến phương Đông với biểu hiện hành chính mạnh, tư pháp yếu. Đây là vấn đề mang tính khách quan, lịch sử, gắn với yếu tố truyền thống. Mặc dù Pháp lệnh năm 2002 ra đời với sự thể hiện nhiều quy định mang tính nhân đạo trong việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác hiện nay như hoãn, miễn, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại quyết định áp dụng của người có thẩm quyền, song cơ bản vẫn còn mang tính khắc nghiệt, hạn chế quyền tự do cơ bản của công dân. Do vậy, việc sửa đổi, hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác là yêu cầu mang tính khách quan, phù hợp thực tế hiện nay của đất nước và cũng là yêu cầu trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chúng tôi nhận thấy rằng theo quy định pháp luật hiện hành thì người bị áp dụng các biện pháp trên bị hạn chế quyền tự do từ ba tháng đến hai năm, song về trình tự thủ tục để áp dụng chưa chặt chẽ bằng thủ tục tư pháp. Điều đó có thể nhận thấy qua việc để áp dụng hình phạt cảnh cáo là hình phạt có mức độ khắc nghiệt thấp nhất theo quy định của Bộ luật Hình sự 1999, quá trình tiến hành tố tụng phải trải qua các bước: điều tra, truy tố, xét xử và trong quá trình ấy có sự tham gia của người bào chữa ngay từ khi khởi tố bị can. Trong khi đó, việc xử lý vi phạm hành chính theo mệnh lệnh đơn phương, áp đặt của cơ quan hành chính nhà nước bằng thủ tục hành chính, không qua sự “phản biện” của bất kỳ cơ quan nào ngoài cơ quan hành chính trong quá trình xem xét, ban hành quyết định. Như chúng ta đã biết, mặc đủ thủ tục tố tụng hình sự với nhiều giai đoạn với quy định rất chặt chẽ, song trên thực tế vẫn xảy ra một số trường hợp xét xử oan sai, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; do vậy, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính chưa phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật là điều có thể xảy ra, và sẽ ảnh hưởng đến bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, dễ bị các thế lực thù địch xuyên tạc khi va chạm đến các vấn đề nhạy cảm hiện nay, đó là quyền con người, quyền công dân.</p>
<p style="text-align: justify;">
Việc thi hành các quyết định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính được áp dụng đối với các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; song các biện pháp pháp lý được áp dụng gần với hình phạt trong Luật hình sự hơn là biện pháp quản lý nhà nước; điều đó dẫn đến bản chất và ranh giới của quan hệ pháp luật hành chính và hình sự chưa rõ ràng, bị hiểu sai lệch.</p>
<p style="text-align: justify;">
Bên cạnh đó, khi các đối tượng bị áp dụng các biện pháp nêu trên đã bị hạn chế quyền tự do, nhưng để bảo vệ quyền lợi của đối tượng và giám sát các hoạt động trong quá trình thực hiện lại có ít công cụ bảo vệ, giám sát để bảo đảm các hoạt động ấy được tiến hành đúng theo quy định pháp luật. Điều đó thể hiện trong các hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước nêu trên chủ yếu chịu sự kiểm tra trong nội bộ hệ thống của cơ quan hành chính nhà nước (theo quy định tại Điều 116, Điều 117 Pháp lệnh năm 2002), và sự giám sát của Hội đồng dân tộc Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội (Điều 114 Pháp lệnh năm 2002), Hội đồng nhân dân các cấp (Điều 115 Pháp lệnh năm 2002); thường trực Hội đồng nhân dân còn được dự họp trong các cuộc họp với Hội đồng tư vấn, nhưng ý kiến phát biểu của đại diện thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện chỉ được ghi vào biên bản cuộc họp, báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp để xem xét, chứ không mang tính quyết định nếu có các ý kiến không thống nhất trong khi giải quyết vấn đề. Rõ ràng là, với sự giám sát thiếu “tính chuyên nghiệp” như vậy sẽ hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi của công dân. Hơn nữa, pháp luật thực định không quy định vai trò giám sát của các tổ chức xã hội; các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng trực thuộc Bộ Công an quản lý nên việc tiếp cận hồ sơ, sự việc để phản ảnh khó khăn vì theo quy định của ngành nên không phải bất cứ ai cũng có thể gặp các đối tượng đang chấp hành các biện pháp đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
Các vấn đề nêu trên đặt ra là cần phải làm rõ ranh giới quan hệ giữa các ngành luật, đặc biệt là pháp luật hành chính và pháp luật hình sự trong việc hạn chế quyền công dân. Do vậy việc bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định hiện hành về xử lý vi phạm hành chính để xây dựng Bộ luật xử lý vi phạm hành chính là yêu cầu khách quan, đảm bảo các quyền hiến định của công dân và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay. Chúng tôi đề nghị nghiên cứu tổng kết thực tiễn việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Cần xem xét khi các điều kiện về kinh tế xã hội nước ta phù hợp thì nên chuyển dần thẩm quyền áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính khác do Toà án phán quyết, điều này phù hợp với nguyên tắc pháp lý được thừa nhận rộng rãi là chỉ có Toà án mới có quyền hạn chế hoặc tước bỏ quyền tự do của công dân; đồng thời xác định đây là những biện pháp hình sự với mục đích răn đe giáo dục các đối tượng vi phạm. Để làm được việc này cần thay đổi hệ thống hình phạt, tuổi chịu trách nhiệm hình sự,... trong pháp luật hình sự, đồng thời liên quan đến một số ngành luật khác nhau như luật hành chính, tố tụng hình sự,...; cần xác định lại chức năng, thẩm quyền của nhiều cơ quan và của người có thẩm quyền cũng như trách nhiệm của toàn xã hội. Trong tương lai, nên chăng giữ lại biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng với tư cách là biện pháp xử lý hành chính với sự tham gia của cả cộng đồng dân cư và của các tổ chức xã hội, coi trọng việc điều chỉnh hành vi của các đối tượng thông qua tác động của dư luận xã hội, còn các biện pháp khác cần được đánh giá hiệu quả xã hội qua việc áp dụng để có hướng hoàn thiện cho phù hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>II. NHỮNG QUAN ĐIỂM, ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH KHÁC THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY Ở NƯỚC TA</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>1. Những quan điểm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính khác</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.1. Bảo đảm tăng cường tính pháp ch</em></strong><em>ế</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Pháp chế là nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp nước ta, yêu cầu sự tuân thủ của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong tổ chức, hoạt động và hành vi ứng xử của công dân phải phù hợp với quy định pháp luật. Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở nội dung các cá nhân, tổ chức khi bị xử lý vi phạm hành chính phải trên cơ sở những căn cứ và thủ tục hành chính do pháp luật quy định. Chỉ những cơ quan nhà nước, cá nhân được pháp luật hành chính quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính mới có quyền xử lý. Mọi chủ thể thực hiện, tham gia trong lĩnh vực này phải tuân thủ, chấp hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, cụ thể là đảm bảo việc lập hồ sơ ban đầu đối với đối tượng vi phạm, biện pháp áp dụng, thẩm quyền ban hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác hay quyết định biện pháp xử phạt. Điều quan trọng không phải là áp dụng những biện pháp trách nhiệm hành chính nặng nề, mà cần quan tâm đến ý nghĩa giáo dục cả người vi phạm hành chính và cộng đồng dân cư; có nghĩa là cùng với việc xử lý vi phạm hành chính, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và người có thẩm quyền cần đặt nặng yếu tố phòng, chống vi phạm hành chính qua từng vụ việc. Đồng thời, để bảo đảm việc xử lý nghiêm minh, áp dụng pháp luật chính xác, tôn trọng các quyền của công dân thì yêu cầu cơ chế kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền và sự giám sát của các tổ chức xã hội và của công dân thật chặt chẽ trong quy định về chức năng, nội dung, biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm thẩm quyền, thủ tục, biện pháp áp dụng,... qua kiểm tra, giám sát.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.2. Bảo đảm tính kế thừa, chọn lọc qua việc khảo sát đánh giá qúa trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Việc triển khai thực hiện Pháp lệnh năm 2002 đã được qua hơn ba năm, tuy vậy công tác khảo sát, đánh giá việc thực hiện hai biện pháp trong khi xử lý vi phạm hành chính là biện pháp xử phạt và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác vẫn chưa được tiến hành đồng bộ, mà còn thiên về việc đánh giá, rút kinh nghiệm để hoàn thiện áp dụng biện pháp xử phạt. Trong Hội nghị được tổ chức tại Bộ Tư pháp vào tháng 3/2005 về đánh giá việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, các tham luận chủ yếu tập trung nêu các khó khăn vướng mắc, kiến nghị đề xuất nhằm hoàn chỉnh pháp luật áp dụng biện pháp xử phạt; còn việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác được đề cập mang tính hình thức, chưa có những số liệu phân tích minh hoạ. Điều này có thể lý giải quan điểm của một số nhà xây dựng pháp luật về biện pháp xử lý hành chính khác còn mang dấu ấn của “biện pháp tư pháp” hơn là biện pháp hành chính, thể hiện trong việc quản lý đối tượng, quản lý hồ sơ, mức độ cung cấp thông tin,...như đã nêu ở chương I của chuyên đề này. Trên cơ sở đã phân tích, chúng tôi đề nghị cần có những điều tra xã hội học về kết quả áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với các đối tượng sau khi chấp hành xong quyết định, khả năng hoà nhập cuộc sống, sự tiếp nhận của cộng đồng dân cư, dư luận xã hội đối với đối tượng,... để bảo đảm tính kế thừa, chọn lọc, ghi nhận sự cần thiết giữ lại việc áp dụng đối với từng biện pháp với tư cách là biện pháp hành chính, hay chuyển dần sang biện pháp tư pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.3. Bảo đảm yêu cầu hoà hợp với pháp luật các nước trong khu vực và pháp luật quốc tế</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của tổ chức ASEAN, và nhiều tổ chức quốc tế khác, cũng như sắp là thành viên của WTO, pháp luật của nước ta, trong đó có pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính khác phải bảo đảm hoà nhập với các nước trong khu vực và pháp luật quốc tế, đó vừa là yêu cầu khách quan và là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt cần đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật trong nước.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tham khảo pháp luật về vi phạm hành chính của một số nước như: Cộng hoà Kazakhstan, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà liên bang Đức, chúng tôi nhận thấy: tuy về tên gọi của luật có khác nhau, như “vi phạm hành chính” (Kazakhstan), “xử phạt hành chính” (Cộng hoà nhân dân Trung Hoa), “vi cảnh” (Cộng hoà Liên bang Đức), song có điểm chung là: Pháp luật các nước đó đều coi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định pháp luật về trật tự hành chính, do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện mà theo quy định của pháp luật thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà bị xử phạt. Chỉ có pháp luật nước Cộng hoà Kazakhstan còn áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, còn các nước như Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên bang Đức chủ yếu là áp dụng biện pháp cảnh cáo, phạt tiền. Đây cũng là vấn đề tham khảo, đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật về xử lý hành chính khác ở nước ta phù hợp với pháp luật quốc tế, đồng thời cũng đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo <a href="#_ftn15" name="_ftnref15" title=""><sup>(</sup></a><sup>15)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>1.4. Nên xác định xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính là luật khung</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Vi phạm hành chính là vi phạm pháp luật rất đa dạng, thường xuyên xảy ra trong tất cả các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế ở nước ta, đời sống nhân dân càng được cải thiện, mức hưởng thụ văn hoá được nâng lên thì vi phạm pháp luật, trong đó có vi phạm pháp luật hành chính có chiều hướng gia tăng, hành vi vi phạm đa dạng; do vậy việc pháp điển hoá để xây dựng Bộ Luật xử lý vi phạm hành chính, trong đó có các biện pháp xử lý hành chính khác đã được đặt ra trong Báo cáo đánh giá nhu cầu phát triển khung pháp luật đến 2010: “Sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và xây dựng Bộ luật về xử lý vi phạm hành chính nhằm giải quyết cơ bản những tồn tại của hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành”<a href="#_ftn16" name="_ftnref16" title=""><sup>(</sup></a><sup>16)</sup>. Đặc biệt, ngày 16/12/2002, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 12/2002/QH11 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI (2002-2007), Bộ luật xử lý vi phạm hành chính là 01 trong số 19 dự án luật của Chương trình chuẩn bị được ban hành kèm theo Nghị quyết này. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị khi xây dựng Bộ luật về xử lý vi phạm hành chính, cần xác định đây là luật khung, quy định những vấn đề có tính nguyên tắc và cơ bản nhất. Riêng những vấn đề có liên quan đến quyền nhân thân thì cần quy định cụ thể, tránh sự lạm dụng trong quá trình áp dụng, vi phạm quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Cần uỷ quyền cho Chính phủ, trên cơ sở luật khung, ban hành các Nghị định hướng dẫn việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác còn được giữ lại trong quá trình đánh giá thực tiễn áp dụng. Hạn chế việc ban hành Thông tư hướng dẫn không cần thiết, quy định những vấn đề vượt quá thẩm quyền, không đảm bảo tính pháp chế và hiệu lực thứ bậc của các văn bản quy phạm pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>2. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính khác </strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.1. Cần hoàn thiện các quy định về nơi cư trú trong các văn bản pháp luật về xử lý hành chính hiện hành</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Việc quy định về đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, không có nơi cư trú nhất định được xem như là một trong những yếu tố để áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính nghiêm khắc hơn. Hiện nay, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính, tuy nhiên, khái niệm “có nơi cư trú nhất định và không có nơi cư trú nhất định” lại chưa được làm rõ trong Pháp lệnh này, mà lại được đề cập trong các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh như nghị định và thậm chí cả thông tư hướng dẫn thi hành nghị định. Cụ thể:</p>
<p style="text-align: justify;">
i) Điều 3 Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 của Chính phủ quy định việc đưa người nghiện ma tuý, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh giải thích về người không có nơi cư trú nhất định: “<em>Người không có nơi cư trú nhất định là người không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú và thường xuyên đi lang thang không có nơi ở cố định; người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú nhưng không sinh sống tại đó mà thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định”</em>.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định trên thì tiêu chí để xác định người không có nơi cư trú nhất định phụ thuộc vào yếu tố hộ khẩu và nơi ở.</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Thông tư số 02/2004/TT-BCA ngày 02/02/2004 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP của Chính phủ cũng có cùng cách giải thích như trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thực tế, vấn đề hộ khẩu trong nhiều trường hợp được xem như “tấm lá chắn” để cơ quan hành chính nhà nước từ chối việc thực hiện một số quyền của công dân như: học tập, sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất..., hoặc được sử dụng để ngăn dòng người nhập cư vào đô thị. Xung đột pháp luật về hộ khẩu với một số vấn đề khác liên quan đến nhà đất đã diễn ra: có hộ khẩu mới được đăng ký được nhà, có nhà mới được đăng ký hộ khẩu, gây khó khăn không ít cho người dân trong việc thực hiện quyền cư trú của mình <a href="#_ftn17" name="_ftnref17" title=""><sup>(</sup></a><sup>17)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
Những tiêu chí xác định về nơi cư trú của các quy định về xử lý vi phạm hành chính nói trên khác với cách quy định trong Bộ luật Dân sự. Cụ thể như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
i) Theo Điều 48 Bộ luật Dân sự năm 1996 thì nơi cư trú của một cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống và có hộ khẩu thường. Trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống, thì nơi người đó cư trú là nơi tạm trú và có đăng ký tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi cư trú theo hai tiêu chí trên thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản, nếu tài sản của người đó có ở nhiều nơi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo các quy định trên thì dù trong bất cứ trường hợp nào, có hay không có hộ khẩu, thì nơi cư trú được pháp luật xác định là nơi người đó đang sinh sống , sau đó mới xem xét đến các vấn đề khác như: hộ khẩu, nơi có tài sản...</p>
<p style="text-align: justify;">
ii) Điều 52 Bộ luật Dân sự năm 2005 hiện hành (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006) quy định: “<em>Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định trên thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống</em>”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, nơi cư trú theo quy định của Bộ Luật dân sự hiện hành không đề cập đến hộ khẩu, mà được xác định trên tiêu chí là nơi thường xuyên sinh sống hay hiện đang sinh sống. Vì vậy, chúng tôi cho rằng quy định “không có nơi cư trú nhất định” trong văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cần được thay đổi lại với nội dung phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự - là văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và cần quy định rõ khái niệm “<em>không có nơi cư trú nhất định</em>” ngay trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Vấn đề đặt ra là, khi bỏ quy định “không có nơi cư trú nhất định”, pháp luật cần quy định tổ chức xã hội nào có trách nhiệm giúp đỡ người vi phạm pháp luật hành chính khi áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; cơ chế phối hợp với các cơ quan hữu quan; việc hình thành nguồn kinh phí (ngân sách nhà nước, tài trợ của các tổ chức kinh tế, cá nhân hảo tâm...) để đảm bảo cho tổ chức xã hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.2.2 Về thẩm quyền quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định tại Điều 70, Điều 72; Điều 95, Điều 99 Pháp lệnh năm 2002 thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, quyết định miễn chấp hành phần thời gian còn lại của quyết định giáo dục tại cấp xã theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có liên quan; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền quyết định đưa người vào cơ sở chữa bệnh, quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở chữa bệnh. Với quy định trên, chúng ta có thể hiểu là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, đưa người vào cơ sở chữa bệnh thì cũng có thẩm quyền quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại phải chấp hành biện pháp bị áp dụng theo từng trường hợp cụ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tuy vậy, theo Điều 77, 81, 86 và Điều 90 của Pháp lệnh năm 2002 thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền quyết định đưa người vào trường giáo dưỡng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định đưa người vào cơ sở giáo dục; song thẩm quyền quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục lại thuộc về Cục trưởng Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng hoặc Giám đốc cơ sở giáo dục.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chúng tôi nghĩ rằng việc phân cấp về thẩm quyền nêu trên chưa phù hợp với lý luận về quyết định hành chính cá biệt, đó là quyết định do cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức được uỷ quyền hành pháp ban hành nhằm giải quyết công việc cụ thể gồm hai giai đọan:</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Giai đoạn xây dựng và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước, gồm các bước:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Bước 1: Điều tra nghiên cứu, thu thập thông tin và xử lý thông tin;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Bước 2: Soạn thảo quyết định;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Bước 3: Thông qua quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Giai đoạn tổ chức thực hiện quyết định, gồm các bước:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Bước 1: Triển khai quyết định;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Bước 2: Tổ chức lực lượng thực hiện quyết định.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Giai đoạn kiểm tra việc thực hiện quyết định<a href="#_ftn18" name="_ftnref18" title=""><sup>(</sup></a><sup>18)</sup>.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, giai đoạn đưa đối tượng chấp hành quyết định của người có thẩm quyền đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục chỉ là một giai đoạn trong cả quá trình xây dựng, ban hành, tổ chức, kiểm tra việc thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước, mà trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục là tổ chức có trách nhiệm triển khai thực hiện quyết định quản lý hành chính nhà nước. Do vậy, việc giao cho Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục thể hiện tính chưa thống nhất với các quy định tương tự trong trường hợp áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, đưa người vào cơ sở chữa bệnh. Bên cạnh đó, vấn đề này chưa phù hợp với việc phân định thẩm quyền giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung (Uỷ ban nhân dân) và cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng (Bộ Công an) mà Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng là cơ quan tham mưu cho Bộ Công an. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 81, Điều 90 của Pháp lệnh năm 2002 như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 81</em></strong><em>. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>...3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng. Quyết định này được gửi đến Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>Điều 90</em></strong><em>. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ, hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>...3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục quyết định việc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Giám đốc cơ sở giáo dục. Quyết định này được gửi đến Cục trưởng Cục Quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Cùng với cách đặt vấn đề trên, chúng tôi đề nghị thay đổi thẩm quyền ban hành quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định chấp hành biện pháp xử lý hành chính khác trong trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính khác như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 112</em></strong><em>. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính khác</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>...theo yêu cầu của cơ quan tố tụng hình sự có thẩm quyền, người đã ra quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn, quản chế hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng; người đã ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và yêu cầu Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh tổ chức thực hiện, chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự;...”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.3. Về biện pháp để bảo đảm sự có mặt của đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh khi được yêu cầu</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Để quản lý, giám sát người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bi áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong khi chờ cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục, xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu người đó có nơi cư trú nhất định, Điều 50 Pháp lệnh năm 2002 quy định biện pháp bảo lãnh hành chính giao cho gia đình, tổ chức xã hội nơi đối tượng cư trú thực hiện nhiệm vụ nói trên, và bảo đảm sự có mặt của đối tượng khi được yêu cầu.</p>
<p style="text-align: justify;">
Khác với bảo lãnh trong pháp luật dân sự và bảo lĩnh trong pháp luật tố tụng hình sự có tính chất tự nguyện, là sự thoả thuận, cam kết giữa các bên đứng ra bảo lãnh, bảo lĩnh và bên có quyền hoặc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có liên quan; bảo lãnh hành chính được thực hiện bằng quyết định hành chính của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện là người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo lãnh hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ biện pháp cụ thể áp dụng đối với tổ chức xã hội, gia đình trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ đảm bảo sự có mặt của đối tượng khi được yêu cầu. Để khắc phục tình trạng sau khi nhận bảo lãnh hành chính, các tổ chức xã hội, gia đình không thực hiện nghĩa vụ để đối tượng bỏ trốn, không chấp hành quyết định, đôi khi có trường hợp tiếp tục vi phạm pháp luật; chúng tôi đề nghị cần quy định cụ thể về bảo lãnh hành chính, trong đó có những ràng buộc cụ thể về trách nhiệm của tổ chức, gia đình bảo lãnh hành chính, trách nhiệm vi phạm cam kết bảo lãnh và tuỳ theo trường hợp có biện pháp xử lý hành chính thích hợp. Đối với đối tượng bỏ trốn không chấp hành quyết định áp dung các biện pháp xử lý hành chính khác, cần xử lý nghiêm khắc hơn, nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.4. Về trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh năm 1995 đã xảy ra trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh như nghiện ma tuý có tính chất thường xuyên, đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà vẫn không chịu sửa chữa, lại thường xuyên thực hiện các hành vi như trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ...thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục thì sẽ được áp dụng biện pháp nào? Khắc phục tình trạng trên, Điều 113 Pháp lệnh năm 2002 quy định trong trường hợp nêu trên, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh; cơ quan đang thụ lý hồ sơ có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ về đối tượng cho Hội đồng tư vấn về biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh để tiến hành áp dụng biện pháp này theo quy định pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
Do yêu cầu nhiệm vụ, mỗi cơ sở tổ chức thực hiện việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đều có tổ chức, quy mô cùng các biện pháp quản lý, cơ sở vật chất phù hợp với nhiệm vụ, đối tượng mình giáo dục; do vậy việc đưa đối tượng vừa nghiện ma tuý, vừa có hành vi trộm cắp vào cơ sở chữa bệnh sẽ vượt quá khả năng quản lý, giáo dục của cơ sở chữa bệnh. Thực tế xảy ra ở một số địa phương, tại các cơ sở chữa bệnh, có trường hợp đối tượng có tiền án, tiền sự thường xuyên vi phạm kỷ luật, nhưng vẫn không chuyển sang được cơ sở giáo dục, gây khó khăn cho các đối tượng khác và việc quản lý của trung tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Từ thực tế nêu trên, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vừa có kiến nghị Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi các quy định của Pháp lệnh năm 2002 liên quan đến các học viên cai nghiện tại trung tâm. Theo đó, những người đã được đưa vào cơ sở chữa bệnh, sau khi đã điều trị cắt cơn, nếu vi phạm nội quy, vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì đưa vào cơ sở giáo dục <a href="#_ftn19" name="_ftnref19" title=""><sup>(</sup></a><sup>19)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
Đây cũng là vấn đề đáng quan tâm, chúng tôi đề nghị nên nghiên cứu sửa đổi Điều 113 Pháp lệnh năm 2002 để tạo điều kiện trong việc áp dụng pháp luật, nâng cao chất lượng chữa bệnh, học tập, lao động, giúp cho người được chữa bệnh sớm bình phục, hoà nhập cộng đồng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.5. Về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo Pháp lệnh năm 2002, nhóm các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính chủ yếu là biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc việc xử phạt vi phạm hành chính; còn với hai biện pháp: bảo lãnh hành chính; truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn thì chưa đảm bảo cho việc thi hành các quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chúng tôi thống nhất với một số ý kiến đề nghị quy định thêm hai biện pháp là: Tạm thời quản lý tại địa phương trong khi chờ làm thủ tục áp dụng các bịên pháp xử lý hành chính khác và lưu giữ hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Tạm thời quản lý tại địa phương trong khi chờ làm thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh trong khi làm các thủ tục áp dụng các biện pháp đó. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người vi phạm cư trú cùng gia đình có trách nhiệm quản lý không để người vi phạm bỏ trốn. Gia đình người vi phạm phải làm giấy bảo lãnh cho người đó trong thời gian các cơ quan chức năng tiến hành xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này. Đối với người không có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú tại địa bàn xảy ra vi phạm thì cơ quan Công an cấp xã nơi lập biên bản vi phạm pháp luật chuyển Công an cấp huyện để làm hồ sơ giao về địa phương nơi người đó sinh sống. Chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý đối tượng đó.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Biện pháp lưu giữ hành chính là biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời gian tiến hành các thủ tục để áp dụng biện pháp này đối với những đối tượng không có người bảo lãnh. Người bị áp dụng biện pháp lưu giữ hành chính được lưu giữ tại các cơ sở nói trên trong một thời gian nhất định. Nếu hết thời hạn lưu giữ hành chính mà cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan đã ra quyết định lưu giữ hành chính phải làm các thủ tục để trả lại tự do cho người bị lưu giữ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Người bị lưu giữ hành chính không bị coi là người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh <a href="#_ftn20" name="_ftnref20" title=""><sup>(</sup></a><sup>20)</sup>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.6. Về một số nội dung trong việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ nhất: Các đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã cần được quy định tập trung trong văn bản do Chính Phủ quy định, dưới hình thức Nghị định.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh năm 2002 (Điều 2) về biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, có quy định 6 nhóm đối tượng có nơi cư trú nhất định bị áp dụng biện pháp này (từ điểm a đến e, Điều 3). Tuy nhiên, Thông tư số 22/2004/ TT-BCA ngày 15/12/2004 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định này lại quy định thêm các đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã (có các hành vi: tổ chức môi giới mại dâm, các hành vi khác vi phạm về trật tự an toàn xã hội). Chúng tôi đề nghị: để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, các hành vi vi phạm hành chính được xác định là căn cứ để quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã chỉ nên quy định thống nhất trong Nghị định của Chính phủ.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ hai, cần bổ sung quy định việc chuyển một số đối tượng đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sang áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Cụ thể:</p>
<p style="text-align: justify;">
Điểm c, khoản 2, Điều 23 Pháp lệnh năm 2002 quy định: “…người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên…” là đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã. Pháp luật hiện hành cũng quy định biện pháp xử lý đối với đối tượng nêu trên trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi trong trường hợp có hành vi tiếp tục bán dâm trong thời gian chấp hành hoặc sau khi chấp hành biện pháp này tại xã: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, tiếp tục ban hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với đối tượng vi phạm. Sở dĩ không thể chuyển đối tượng này vào trường giáo dưỡng vì hành vi bán dâm chưa dược coi là tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Pháp lệnh năm 2002 lại chỉ quy định: Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế việc tiếp tục áp dụng biện pháp giáo dục tại xã là ít có khả năng giáo dục đối tượng có hành vi vi phạm nói trên, mà cần có biện pháp thích hợp hơn. Chúng tôi đề nghị cần bổ sung Pháp lệnh năm 2002 về quy định đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng mà cụ thể là bổ sung điểm d vào khoản 2, Điều 24:<em> Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có hành vi bán dâm, có nơi cư trú nhất định mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ ba, cần quy định rõ các tiêu chí làm ranh giới phân định giữa biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn với tư cách là biện pháp hành chính và với tư cách là biện pháp tư pháp.</p>
<p style="text-align: justify;">
Điểm a, khoản 2, Điều 23 của Pháp lệnh năm 2002 quy định một trong đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn với thời hạn từ 3 đến 06 tháng là: “Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự”. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý thì sẽ xử lý thế nào? Vấn đề này, theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì: “Toà án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Như vậy, đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã với tư cách là biện pháp hành chính, hoặc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã với tư cách là biện pháp tư pháp với thời hạn chấp hành khác nhau, và hệ quả pháp lý cũng khác nhau. Chúng tôi đề nghị các nhà xây dựng pháp luật nên làm rõ ranh giới này để minh bạch trong việc áp dụng pháp luật và đảm bảo quyền của người chưa thành niên.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ tư, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định về thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác đối với đối tượng vi phạm là người lớn tuổi.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thể hiện tính nhân đạo, tạo điều kiện cho người lớn tuổi sửa chữa lỗi lầm trong sự giám sát của cộng đồng, tại các Điều 25, 26 của Pháp lệnh năm 2002 quy định không áp dụng biện pháp: đưa vào cơ sở giáo dục đối với nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi; biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm trên 55 tuổi. Theo quy định pháp luật hiện hành, trường hợp người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, tuy chưa hết thời hạn theo quyết định nhưng đã đến tuổi trên thì họ sẽ tiếp tục thi hành quyết định cho đến khi hết thời hạn, trừ trường hợp được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Để phù hợp với bản chất nhân đạo của pháp luật nước ta, chúng tôi đề nghị bổ sung Điều 23 về thẩm quyền, đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Điều 90, Điều 99 của Pháp lệnh năm 2002 như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 23. </em></strong><em>Giáo dục tại xã, phường, thị trấn</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) quyết định đối với những người được quy định tại Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 2 Điều này; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với người được quy định tại Điểm đ, Khoản 2 Điều này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú...</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>...đ) Người chưa chấp hành hết thời hạn đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh mà đến 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam.”</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 90.</em></strong><em> Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở giáo dục</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>…4. Người chưa chấp hành hết thời hạn đưa vào cơ sở giáo dục mà đến 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam thì Giám đốc cơ sở giáo dục đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi đã ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục quyết định cho các đối tượng trên chuyển sang biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là thời hạn còn lại phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng không quá 6 tháng”</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 99</em></strong><em>: Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở chữa bệnh</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>…4. Người chưa chấp hành hết thời hạn đưa vào cơ sở chữa bệnh mà đến 55 tuổi đối với nữ, 60 tuổi đối với nam thì Giám đốc cơ sở chữa bệnh đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi đã ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh quyết định cho cho các đối tượng trên chuyển sang biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là thời hạn còn lại phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, nhưng không quá 6 tháng”</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Sở dĩ khống chế thời gian chuyển sang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là 6 tháng, bởi vì theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh năm 2002 thì thời hạn áp dụng biện pháp này là từ 3 tháng đến 6 tháng.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Về các biện pháp để bảo đảm việc thực hiện quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định tại Điều 70 của Pháp lệnh năm 2002, trong thời hạn 3 ngày kể từ khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức cuộc họp với: Trưởng Công an cấp xã, và các thành phần có liên quan để xem xét việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã sẽ xem xét quyết định việc áp dụng biện pháp này. Nếu trong thời gian này, đối tượng đã có quyết định giáo dục tại xã, hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã bỏ trốn thì xử lý thế nào? Có lẽ các nhà làm luật cho rằng đây là biện pháp xử lý hành chính mang nặng tính chất giáo dục, nên các đối tượng sẽ nghiêm chỉnh chấp hành, không bỏ trốn; song biện pháp này là cơ sở ban đầu để áp dụng các biện pháp tiếp theo với trình tự, thủ tục, mức độ quản lý chặt chẽ hơn: biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Do vậy, chúng tôi đề nghị quy định bổ sung vào Điều 43, Điều 50, Điều 52 của Pháp lệnh năm 2002 như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 43</em></strong><em>. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm</em><em> hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>… h) Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn…</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>Điều 50</em></strong><em>. Bảo lãnh hành chính</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>1. Bảo lãnh hành chính là việc giao cho gia đình, tổ chức xã hội nhận quản lý, giám sát người có hành vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong thời gian cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu người đó có nơi cư trú nhất định…</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>Điều 52.</em></strong><em> Truy tìm đối tượng đã có quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>… </em></strong><em>Trong trường hợp người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã bỏ trốn thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú báo cáo với cơ quan Công an cấp huyện ra quyết định truy tìm đối tượng…”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>2.7. Về một số nội dung trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>*Về việc “đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh” </em></p>
<p style="text-align: justify;">
+ Khoản 2, Điều 2 của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP quy định đối tượng bị đưa vào lưu trú tại cơ sở chữa bệnh: “Người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi bị bắt quả tang thực hiện hành vi bán dâm hoặc có tính chất thường xuyên mà không có nơi cư trú nhất định”. Về nội dung này, chúng ta có thể hiểu người đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh theo các cách sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ nhất: đối tượng trên thuộc một trong hai trường hợp: (ii) chỉ cần bị bắt quả tang; (ii) nếu không bị bắt quả tang thì phải là thường xuyên kèm theo điều kiện lkhông có nơi cư trú nhất định.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Thứ hai: đối tượng trên thuộc một trong hai trường hợp: (i) quả tang và “không có nơi cư trú nhất định”; (ii) thường xuyên và “không có nơi cư trú nhất định”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo chúng tôi nên thiên về cách hiểu thứ hai, bởi yếu tố “không có nơi cư trú nhất định” là điều kiện tiên quyết để đưa người có hành vi bán dâm vào cơ sở chữa bệnh và như đã trình bày ở trên thì trong các quy định về đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác, “không có nơi cư trú nhất định” được xem như là một trong những yếu tố để áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính khắc nghiệt hơn. Chúng tôi đề nghị nên sửa đổi quy định này theo hướng cách hiểu thứ hai để cho các cơ quan, người có thẩm quyền thuận tiện trong quá trình áp dụng pháp luật.</p>
<p style="text-align: justify;">
+ Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 của Chính phủ thì “đưa người vào lưu trú ở cơ sở chữa bệnh” là biện pháp ngăn chặn và bảo đảm áp dụng xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, biện pháp này không nằm trong danh mục các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 43 của Pháp lệnh năm 2002. Bên cạnh đó, Pháp lệnh không ủy quyền cho Chính phủ quy định thêm biện pháp ngăn chặn mà chỉ ủy quyền cho Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính,…;</p>
<p style="text-align: justify;">
Cũng cần thấy biện pháp đưa người vào lưu trú ở cơ sở chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, mặc dù theo thủ tục hành chính, song xét về bản chất là biện pháp nhằm hạn chế quyền tự do của cá nhân, gây ảnh hưởng nhất định đến quyền và lợi ích của các đối tượng có liên quan; đồng thời, bản chất của biện pháp này chính là lưu giữ hành chính như đã đề cập ở điểm 2.5, mục II. Do vậy, thiết nghĩ, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nếu các nhà làm luật thấy đây là biện pháp cần thiết thì cần nghiên cứu để kiến nghị bổ sung biện pháp này vào danh sách hệ thống các biện pháp ngăn chặn của Pháp lệnh năm 2002 (Điều 43), không nên để tình trạng Nghị định của Chính phủ quy định những vấn đề ngoài phạm vi của Pháp lệnh như đã nêu trên.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Hành vi vi phạm pháp luật có tính chất “thường xuyên” cần được giải thích rõ trong Pháp lệnh</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Hành vi vi phạm pháp luật có tính chất “thường xuyên” được đề cập nhiều trong Pháp lệnh, thể hiện tại điểm c, khoản 2, Điều 23; điểm b, khoản 2, Điều 26, song chưa được giải thích thế nào là mức độ “thường xuyên”đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Trong Nghị định 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005, tại Điều 2, khoản 2 có quy định về đối tượng bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh như sau: “người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi bị bắt quả tang thực hiện hành vi bán dâm hoặc người bán dâm có tính chất thường xuyên mà không có nơi cư trú nhất định”, và mức độ “thường xuyên” trong trường hợp này không được giải thích tại Điều 3 của Nghị định. Tuy vậy, tại Điều 3 của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục đã giải thích: “thường xuyên - có hai lần vi phạm trở lên trong một năm)”. Chính vì sự thiếu thống nhất, nhất quán trong cách hiểu nghĩa của từ này nên sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Theo cách hiểu thông thường, thì “thường xuyên” là đều đặn, không bị gián đoạn<a href="#_ftn21" name="_ftnref21" title=""><sup>(</sup></a><sup>21)</sup>. Như vậy, người bán dâm có tính chất thường xuyên phải hội đủ hai điều kiện: bán dâm nhiều lần trong năm, và khoảng thời gian giữa các lần ấy phải tương đối bằng nhau. Thiết nghĩ, đối với hành vi bán dâm, việc đấu tranh để đối tượng thừa nhận một lần vi phạm đã khó, huống chi yêu cầu chứng minh tính chất thường xuyên là việc khó có tính khả thi. Do vậy, đề nghị nên giải thích trường hợp nêu trên ngay trong Pháp lệnh, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong quá trình chứng minh các đối tượng có hành vi vi phạm hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
* <em>Về thời hạn đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy, người bán dâm </em></p>
<p style="text-align: justify;">
Theo quy định tại Điều 4, Nghị định 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 quy định về việc đưa người nghiện ma túy, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh, thì thời hạn đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy, người bán dâm không được quá 15 ngày, nếu hết thời hạn lưu trú tạm thời mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh và Trưởng Công an cấp huyện nơi đã ra quyết định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh vẫn không quyết định cho đối tượng trở về cộng đồng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đó (Điều 18). Nhằm khắc phục việc sơ xuất của Trưởng Công an cấp huyện trong vấn đề trên, chúng tôi đề nghị nên bổ sung vào Điều 13 của Nghị định 43/2005/NĐ-CP nêu trên (Nội dung quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh) như sau: “Nếu quá thời hạn đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh, mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ban hành quyết định đưa đối tượng nói trên vào cơ sở chữa bệnh, thì Giám đốc cơ sở chữa bệnh quyết định cho đối tượng trở về cộng đồng, và thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Trưởng Công an huyện nơi đã ra quyết định biết”. Quyết định của Giám đốc cơ sở chữa bệnh không bị vi phạm về nguyên tắc phân định thẩm quyền, bởi vì nó phát sinh trên cơ sở quyết định của Trưởng cơ quan Công an cấp huyện hết thời hạn thực hiện.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>* Về vấn đề tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh ra khỏi cơ sở chữa bệnh theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng:</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Tại Điều 110 của Pháp lệnh năm 2002 có quy định: “Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng,… ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng…”. Cũng là hoạt động như vậy, song tại Điều 23 Nghị định số 76/2003/NĐ-CP lại quy định là trích xuất (trích xuất trại viên là việc tạm thời trại viên ra khỏi cơ sở giáo dục theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng). Thiết nghĩ, để đảm bảo tính thống nhất, và sử dụng thuật ngữ “trích xuất” là phù hợp với hoạt động đưa người ra khỏi cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; do vậy chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 110 của Pháp lệnh năm 2002 như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>“Điều 110</em></strong><em>. Quy định về trích xuất </em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Trích xuất là việc đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa người nghiện ma túy ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính; đưa người nghiện ma túy, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh ra khỏi cơ sở chữa bệnh theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>1. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục, Giám đốc cơ sở chữa bệnh quyết định trích xuất các đối tượng nêu trên để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến họ.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>2. Thời gian trích xuất được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó”.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Với cách đặt vấn đề như ở trên, chúng tôi đề nghị tên Điều 21 của Nghị định 43/2005/NĐ-CP của Chính phủ được sửa đổi như sau: “<em>Trích xuất người đang chấp hành quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh ra khỏi cơ sở chữa bệnh theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự</em>”. Nội dung Điều 21 quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giao nhận người bị “trích xuất”, trách nhiệm của cơ sở chữa bệnh,…</p>
<p style="text-align: justify;">
Theo nội dung quy định trong Nghị định 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005, thời hạn đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh đối với các đối tượng có liên quan là 15 ngày; do vậy, nếu thời hạn “trích xuất” theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự quá thời hạn mà Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc đưa người lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh thì sẽ xử lý như thế nào? Theo chúng tôi, có hai trường hợp xảy ra: (i) Hết thời hạn lưu trú tạm thời mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh; (ii) hoặc trong thời hạn 15 ngày, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
Để đảm bảo tính thống nhất trong cả hai trường hợp (1) và (2) đã nêu thì thời hạn “trích xuất” theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự là thời hạn còn lại phải chấp hành của đối tượng có liên quan được ghi trong quyết định đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Nếu trong thời hạn “trích xuất”, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã hoàn thành mục đích theo yêu cầu để các đối tượng tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan, và đã bàn giao cho cơ sở chữa bệnh, thì vấn đề này không phải bàn thêm;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Nếu đến thời hạn “trích xuất” mà cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vẫn chưa đạt được mục đích theo yêu cầu, và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh như đã đề cập ở (1), thì Giám đốc cơ sở chữa bệnh ra quyết định cho đối tượng trở về cộng đồng, đồng thời thông báo cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Trưởng Công an cấp huyện biết; như vậy cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ tiến hành các thủ tục được quy định trong pháp luật về tố tụng hình sự để đạt theo mục đích yêu cầu. Còn nếu trong thời hạn ấy mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tiếp tục yêu cầu “trích xuất”, và thực hiện theo Điều 20 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
Đấu tranh phòng, chống các vi phạm hành chính là một yêu cầu khách quan tất yếu của nhà nước và của toàn xã hội; bỡi lẽ, vi phạm hành chính cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các lĩnh vực mà pháp luật hành chính bảo vệ. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, bên cạnh việc phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật, cần phải hoàn chỉnh pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, trong đó có pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính khác sao cho phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước. Trong quá trình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính bằng các biện pháp xử lý hành chính khác, chúng tôi đã góp phần làm rõ các khái niệm về xử lý vi phạm hành chính, việc áp dụng các biện pháp này bản chất là biện pháp cưỡng chế của nhà nước, hạn chế quyền tự do của công dân, cũng như mối quan hệ các biện pháp xử lý hành chính khác với biện pháp xử phạt, pháp luật hình sự. Chúng ta cũng nhận thấy được vai trò của các biện pháp này trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, góp phần vào việc bảo vệ trật tự xã hội cũng như trong công tác đấu tranh, phòng chống các vi phạm pháp luật hành chính.</p>
<table align="left" cellpadding="0" cellspacing="0" height="96" hspace="0" vspace="0" width="621">
<tbody>
<tr>
<td align="left" height="96">
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>KẾT LUẬN</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<div style="clear: both; text-align: justify;">
</div>
<p style="text-align: justify;">
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trên cơ sở việc áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, yêu cầu phù hợp với hội nhập quốc tế, đảm bảo các cơ chế để giám sát, bảo vệ các quyền tự do của công dân; vấn đề đặt ra trước mắt là sửa đổi, bổ sung các quy định biện pháp xử lý hành chính khác để phù hợp với các ngành luật khác; đồng thời cần nghiên cứu một cách toàn diện, để ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính, chuyển dần thẩm quyền áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính khác sang cơ quan Toà án quyết định, với pháp luật hình thức chặt chẽ, tránh mệnh lệnh đơn phương từ phía các cơ quan hành chính nhà nước. Đây là việc làm khó khăn, đòi hỏi sự nhận thức đồng bộ cả về phía cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền và của công dân, do vậy từng bước cần nghiên cứu chọn lọc để lại biện pháp nào thuộc thẩm quyền áp dụng của cơ quan hành chính, còn lại chuyển sang biện pháp tư pháp là yêu cầu khách quan. Đồng thời chúng tôi cũng đề xuất trong giai đoạn hiện nay cần sửa đổi một số quy định có liên quan đến biện pháp xử lý hành chính khác sao cho phù hợp với các quy định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xử lý vi phạm hành chính trong khi chưa kịp ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính. Với một số kiến nghị của luận văn này, chúng tôi mong đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính bằng biện pháp xử lý hành chính khác, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
1. Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh (2005), số ra ngày 17/6/2005;</p>
<table align="left" cellpadding="0" cellspacing="0" height="47" hspace="0" vspace="0" width="621">
<tbody>
<tr>
<td align="left" height="47">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<strong>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<div style="clear: both; text-align: justify;">
</div>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
2. Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh (2005), số ra ngày 20/5/2005;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
3. Bộ Công an (2004), Thông tư số 02/2004/TT-BCA ngày 02/02/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
4. Bộ Công an (2004), Thông tư số 22/2004/TT-BCA ngày 15/12/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
5. Bộ Lao động Thương binh và xã hội - Bộ Công an (2004), Thông tư số 22/2004/TTLT-BLĐTBXH-BCA ngày 31/12/2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 135/2004/NĐ-CP của Chính phủ;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
6. Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ngày 01/11/2005;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
7. Bộ Tư pháp (2002), Báo cáo đánh giá nhu cầu phát triển pháp luật toàn diện của Việt nam từ 2001 đến 2010;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
8. Bộ Tư pháp - Ngân hàng Phát triển Châu Á - Dự án STA 2853 VIE (2002), Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
9. Bộ Tư pháp - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề về Bộ Luật Hình sự năm 1999;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
10. Bộ Tư pháp - Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề về Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
11. Chính phủ (1977), Nghị định số 143/CP ngày 27/5/1977 ban hành Điều lệ xử phạt vi cảnh;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
12. Chính phủ (1996), Nghị định số 19/CP ngày 06/4/1996 ban hành Quy chế giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người vi phạm pháp luật;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
13. Chính phủ (1996), Nghị định số 20/CP ngày 13/4/1996 ban hành Quy chế về cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
14. Chính phủ (1997), Nghị định số 32 ngày 14/4/1997 ban hành Quy chế về cơ sở giáo dục;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
15. Chính phủ (1997), Nghị định số 33 ngày 14/4/1997 ban hành Quy chế về trường giáo dưỡng;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
16. Chính phủ (2003), Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
17. Chính phủ (2003), Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/122003 quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
18. Chính phủ (2003), Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
19. Chính phủ (2004), Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh; tổ chức, hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
20. Chính phủ (2005), Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 quy định việc đưa người nghiện ma túy, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
21. Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945), Sắc lệnh số 175/SL ngày 18/8/1945;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
22. Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2001), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
23. Học Viện Hành chính Quốc gia (1996), Cưỡng chế hành chính nhà nước;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
24. Hội Đồng Chính phủ (1961), Thông tư số 121/CP ngày 09/8/1961 về việc tập trung cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
25. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
26. Ngân hàng thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, NXB Chính trị quốc gia;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
27. Nguyễn Văn Động (2004), Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện hay, NXB Tư pháp;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
28. Phạm Hồng Thái - Đinh Văn Mậu (2003), Tìm hiểu pháp luật Luật Hành chính Việt nam;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
29. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), NXB Chính trị Quốc gia;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
31. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Bộ luật Dân sự ngày 14/6/2005;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
32. Trần Phương Đạt - Trần Hải Âu - Nguyễn Quang Nghĩa - Phạm Ngọc Cường (2005), Sổ tay nghiệp vụ Công an xã, NXB Lao động - Xã hội;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
33. Trường Đại học Luật Hà Nội (1996), Giáo trình Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, NXB Hà Nội;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
34. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội - Khoa Luật (1994), Luật Hành chính Việt Nam;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
35. V.I Lê - Nin Toàn tập (1969), NXB Sự thật, Hà nội, Tập 36;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
36. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng;</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref1" name="_ftn1" title=""><sup>(</sup></a>1<sup>)</sup> - Cưỡng chế hành chính nhà nước - Học Viện hành chính quốc gia, năm 1996.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1996.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Thông tư số 121/CP ngày 09/8/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc tập trung cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội.</p>
</div>
<div id="ftn2">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref2" name="_ftn2" title=""><sup>(</sup></a>2<sup>)</sup> Giáo trình luật hành chính Việt Nam – Khoa Luật Đại học tổng hợp Hà Nội, năm 1994, Tr 295-297.</p>
</div>
<div id="ftn3">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref3" name="_ftn3" title=""><sup>(</sup></a>3<sup>)</sup> Giáo trình luật hành chính Việt Nam – Khoa Luật Đại học tổng hợp Hà Nội, năm 1994, Tr 295-297; Tìm hiểu pháp luật hành chính Việt Nam – Phạm Hồng Thái - Đinh Văn Mậu, năm 2003. </p>
</div>
<div id="ftn4">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref4" name="_ftn4" title=""><sup>(</sup></a>4<sup>)</sup> - Sổ tay nghiệp vụ công an xã, NXB Lao động, năm 2005 – Trần Phương Đạt, Trần Hải Âu, Nguyễn Quang Nghĩa, Phạm Ngọc Cường.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 143/CP của Chính phủ ngày 27/5/1977 ban hành Điều lệ xử phạt vi cảnh.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Thông tư số 121/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 09/8/1961 về việc tập trung cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Cưỡng chế hành chính nhà nước - Học viện Hành chính Quốc gia, năm 1996.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002.</p>
</div>
<div id="ftn5">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref5" name="_ftn5" title="">(5)</a> - Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 163/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/12/2003 quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 19/CP của Chính phủ ngày 06/4/1996 ban hành Quy chế giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người vi phạm pháp luật.</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Thông tư số 22/2004/TT-BCA của Bộ Công an ngày 15/12/2004 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 163/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/12/2003 quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.</p>
</div>
<div id="ftn6">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref6" name="_ftn6" title="">(6)</a> Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính ngày 01/11/2005 – Bộ Tư pháp.</p>
</div>
<div id="ftn7">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref7" name="_ftn7" title="">(7)</a> Pháp luật quy định kinh phí tổ chức giáo dục do ngân sách cấp xã; được hỗ trợ từ nguồn kinh phí phòng, chống mại dâm; phòng, chống ma tuý; các nguồn tài trợ khác [17, tr.3].</p>
</div>
<div id="ftn8">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref8" name="_ftn8" title="">(8)</a> - Chuyên đề “Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp dụng biện pháp đưa người vào trường giáo dưỡng;</p>
</div>
<div id="ftn9">
<p style="margin-left: 7.1pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref9" name="_ftn9" title="">(9)</a> Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính ngày 01/11/2005 – Bộ Tư pháp.</p>
</div>
<div id="ftn10">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref10" name="_ftn10" title="">(10)</a> - Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ quy định và hướng dẫn việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Thông tư số 02/2004/TT-BCA ngày 02/02/2004 của Bộ Công an hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/6/2003.</p>
</div>
<div id="ftn11">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref11" name="_ftn11" title="">(11)</a> Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 17/6/2005, Tr 3.</p>
</div>
<div id="ftn12">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref12" name="_ftn12" title="">(12)</a> - Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh;</p>
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
- Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05/4/2005 của Chính phủ quy định việc đưa người nghiện ma túy, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh.</p>
</div>
<div id="ftn13">
<p style="margin-left: 7.1pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref13" name="_ftn13" title="">(13)</a> Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính ngày 01/11/2005 – Bộ Tư pháp.</p>
</div>
<div id="ftn14">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref14" name="_ftn14" title="">(14)</a> Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002;</p>
</div>
<div id="ftn15">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref15" name="_ftn15" title="">(15)</a> Chuyên đề “Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, năm 2002;</p>
</div>
<div id="ftn16">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref16" name="_ftn16" title="">(16)</a> Báo cáo đánh giá nhu cầu phát triển pháp luật toàn diện của Việt Nam từ 2001-2010, Bộ Tư pháp năm 2002.</p>
</div>
<div id="ftn17">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref17" name="_ftn17" title="">(17)</a> Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 20/5/2005.</p>
</div>
<div id="ftn18">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref18" name="_ftn18" title="">(18)</a> Tìm hiểu pháp luật hành chính Việt Nam – Phạm Hồng Thái - Đinh Văn Mậu, năm 2003.</p>
</div>
<div id="ftn19">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref19" name="_ftn19" title="">(19)</a> Báo Pháp luật TP. Hồ Chí minh ra ngày 17/6/2005.</p>
</div>
<div id="ftn20">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref20" name="_ftn20" title="">(20)</a> Những nền tảng pháp lý cơ bản của nền kinh tế thị trường – Bộ Tư pháp – Ngân hàng Phát triển Châu Á, Dự án STA 2853 VIE, năm 2002.</p>
</div>
<div id="ftn21">
<p style="margin-left: 14.2pt; text-align: justify;">
<a href="#_ftnref21" name="_ftn21" title="">(21)</a> Từ điển tiếng Việt – Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000.</p>
</div>
</div>
<p>
</p>
TLBanBienTap:
TLCoQuanXuatBan:
Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp
TLSoXuatBan:
01
TLTacGia:
TLTongBienTap:
TS. Dương Thanh Mai
TLNoiDungTomTat:
<p style="text-align: justify;">
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó quy định về các biện pháp cưỡng chế hành chính. Với tư cách là một thuộc tính của quyền lực nhà nước, bên cạnh các biện pháp cưỡng chế khác, các biện pháp cưỡng chế hành chính có ý nghĩa quan trọng trong việc bắt buộc các tổ chức, cá nhân thực hiện các nghĩa vụ pháp lý, với mục đích ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo trật tự xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">
Kể từ khi giành được chính quyền đến nay, trong từng giai đoạn lịch sử, pháp luật về các biện pháp cưỡng chế hành chính có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế đất nước và ngày càng được phát triển hoàn thiện. Bắt đầu từ Sắc lệnh số 175/SL ngày 18/8/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đến nay là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 với việc ghi nhận hệ thống các biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh việc quy định về xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác, bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh và quản chế hành chính. Việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác thể hiện vai trò của các biện pháp này trong việc bảo vệ trật tự xã hội cũng như trong công tác đấu tranh, phòng chống các vi phạm pháp luật hành chính.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới với kết quả tích cực đạt được, thực tế thực hiện các biện pháp xử lý hành chính khác trong những năm qua cho thấy Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 vẫn còn một số hạn chế khi quy định về đối tượng xử lý vi phạm hành chính, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thẩm quyền trong việc xem xét, quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại của đối tượng chấp hành các biện pháp xử lý,... Do vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật hiện nay về các biện pháp xử lý hành chính khác là yêu cầu cấp thiết.</p>
<p style="text-align: justify;">
Số Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề:<strong> “Hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính khác theo pháp luật Việt Nam”</strong> là kết quả nghiên cứu của <em>ThS. Lê Ngọc Thạnh, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện KrôngAna, tỉnh Đắc Lắc</em> với mong muốn đóng góp một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về các biện pháp cưỡng chế hành chính khác nói riêng cũng như quá trình xây dựng Bộ luật Xử lý vi phạm hành chính mà Bộ Tư pháp đang tiến hành.</p>
TLDanhMucCacBaiViet:
TLThongTinXepGia:
TenBaiViet:
Approval Status:
Approved
Attachments:
Biaphu1.doc
;
TT 02-2004.doc
Created at 7/8/2015 1:11 AM by tlplsv\thuynguyen
Last modified at 7/8/2015 1:11 AM by tlplsv\thuynguyen
Go back to list
Home(Tài liệu)