LDeTaiKhoaHoc: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Title:
Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
LAuthor:
Nguyễn Thị Thu Hương
LCapDoMat:
TLCapDeTai:
Bộ
TLChuNhiemDeTai:
ThS. Đinh Công Tuấn - Trưởng ban, Ban nghiên cứu Pháp luật hình sự, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
TLCoQuanChuQuan:
Bộ Tư pháp
TLCoQuanChuTri:
Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp
TLCoQuanPhoiHopChinh:
TLCoQuanThucHien:
TLDanhMucCacChuyenDe:
<table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="584">
<tbody>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p align="center">
<strong>HỆ CHUYÊN ĐỀ</strong></p>
<p align="center">
</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1:</em></strong> Nhận diện những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự tại Việt Nam nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Đinh Công Tuấn</em></p>
<p align="center">
<em>Trưởng ban, Ban nghiên cứu PLHS, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 2:</em></strong> Nhận diện các vấn đề lý luận về tội phạm phát sinh dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>PGS.TS. Trịnh Tiến Việt</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Chủ nhiệm Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 3: </em></strong>Nhận diện các vấn đề về tội phạm hóa và phi tội phạm hóa dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>TS. Lê Thị Vân Anh</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 4</em></strong>: Nhận diện các vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>PGS.TS. Cao Thị Oanh</em></p>
<p align="center">
<em>Trưởng Khoa pháp luật hình sự, Đại học Luật Hà Nội</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề </em></strong><strong><em>5</em></strong><strong><em>:</em></strong> Tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>GS.TS. </em><em>Thiếu tướng Nguyễn Minh Đức</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh (Quốc hội khóa XIV)</em></p>
<p align="center">
<em>Viện trưởng Viện khoa học cảnh sát, Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề </em></strong><strong><em>6</em></strong><strong><em>:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>PGS.TS. Trần Văn Độ</em></p>
<p align="center">
<em>Nguyên Phó Chánh án TAND tối cao, Chánh án TAQS Trung ương</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề </em></strong><strong><em>7</em></strong><strong><em>:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>TS. Nguyễn </em><em>Văn Cương</em></p>
<p align="center">
<em>Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề </em></strong><strong><em>8</em></strong><strong><em>:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến các tội xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>TS. Hoàng Thị Quỳnh Chi</em></p>
<p align="center">
<em>Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, VKSND tối cao</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 9:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>TS. Nguyễn Minh Khuê</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>0</em></strong><strong><em>:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Ngô Thanh Xuyên</em></p>
<p align="center">
<em>Ban nghiên cứu PLHS, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>1</em></strong><strong><em>:</em></strong> Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến hình phạt và áp dụng hình phạt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Kiều Thị Hảo</em></p>
<p align="center">
<em>Ban nghiên cứu PLHS, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>2</em></strong><strong><em>:</em></strong> Kỹ thuật lập pháp đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Đinh Công Tuấn</em></p>
<p align="center">
<em>Trưởng ban, Ban nghiên cứu PLHS, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>3</em></strong><strong><em>:</em></strong> Kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong việc hoàn thiện pháp luật để phòng, chống tội phạm dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Nguyễn Hoàng Chi Mai</em></p>
<p align="center">
<em>Ban Nghiên cứu PLHS, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>4</em></strong><strong><em>:</em></strong> Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc hoàn thiện pháp luật để phòng, chống tội phạm dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>T</em><em>h</em><em>S. </em><em>Đinh Công Tuấn</em></p>
<p align="center">
<em>Trưởng ban, </em><em>Ban </em><em>n</em><em>ghiên cứu PLHS</em><em>,</em><em> Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
<p align="center">
<em>ThS. Nguyễn Ngọc Sơn</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự Quận Hà Đông, Hà Nội</em></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 1</em></strong><strong><em>5</em></strong><strong><em>:</em></strong> Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc hoàn thiện pháp luật để phòng, chống tội phạm dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>TS. Chu Thị Hoa</em></p>
<p align="center">
<em>Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 16:</em></strong> Kinh nghiệm của Singapore trong việc hoàn thiện pháp luật để phòng, chống tội phạm dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>ThS. Doãn Nhật Linh</em></p>
<p align="center">
<em>Ban </em><em>n</em><em>ghiên cứu PLHS</em><em>,</em><em> Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 17: </em></strong>Bối cảnh và những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>T</em><em>h</em><em>S. </em><em>Đinh Công Tuấn</em></p>
<p align="center">
<em>Trưởng ban, </em><em>Ban </em><em>n</em><em>ghiên cứu PLHS</em><em>,</em><em> Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 18: </em></strong>Giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>Th</em><em>S</em><em>. </em><em>Ngô Thanh Xuyên</em></p>
<p align="center">
<em>Ban nghiên cứu PLHS, </em><em>Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>Chuyên đề 19:</em></strong> Giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p>
<p align="center">
<em>Th</em><em>S</em><em>. </em><em>Nguyễn Hoàng Chi Mai</em></p>
<p align="center">
<em>Ban Nghiên cứu PLHS,</em> <em>Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp</em></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:584px;">
<p>
<strong><em>02 bài báo khoa học</em></strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>
</p>
TLKieuFileDinhKem:
TLMaSoDeTai:
TLNamXB:
0
TLNhuCauKTXH:
TLNoiDungTomTat:
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PHẦN MỞ ĐẦU</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1. Cơ sở nghiên cứu đề tài</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1. Cơ sở chính trị, pháp lý</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách pháp luật phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách hình sự mới đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 199/QĐ-TTg vào ngày 14/02/2017 về phê duyệt Chương trình thực hiện Kết luận số 05-KL/TW ngày 15/7/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm đến năm 2020. Bộ Chính trị cũng đã ban hành Quyết định số 181-QĐ/TW ngày 04/3/2019 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Đề án “Tổng kết Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và tiến hành xây dựng kế hoạch, chỉ đạo tiến hành khảo sát, đánh giá, tổng hợp kết quả về tình hình thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW. Trong đó, Ban Chỉ đạo có nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự nhằm khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên và pháp nhân thương mại phạm tội cũng như quy định trách nhiệm nghiêm khắc hơn đối với những người phạm tội là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật. Đặc biệt, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được ban hành, trong đó đã đề ra chủ trương: “<em>Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, Internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng</em>”. Chủ trương này đòi hỏi cần có những nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, trong đó cần hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm kịp thời xử lý cách hành vi lợi dụng thành tựu khoa học công nghệ và kinh tế số ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế thị trường, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được xây dựng, ban hành cùng các văn bản liên quan đã thể chế được nhiều chính sách quan trọng về tội phạm và hình phạt nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tình hình tội phạm đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với một số đối tượng cụ thể để đáp ứng các yêu đầu đặt ra trong bối cảnh tình hình mới. Kế thừa BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận hệ thống các quy định về tội phạm và hình phạt cũng như bổ sung nhiều quy định mới, từ đó dẫn đến một số thay đổi trong nhận thức và chính sách hình sự có liên quan nhằm đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh mới. Từ những cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên, có thể thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là rất cấp thiết.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2. Cơ sở thực tiễn</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, trong đó có pháp luật. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các thành tựu nổi bật gồm: <strong>(i) Cơ sở dữ liệu tập trung (Big data); (ii) Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI); (iii) Sandbox; (iv) Internet vạn vật; (v) Tiền mã hóa </strong>đã có những tác động tích cực to lớn lên mọi mặt của xã hội, nhưng cũng xuất hiện rất nhiều thách thức, các thế lực thù địch và tội phạm cũng lợi dụng và sử dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá, phạm tội, tạo nên những thách thức không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm. Trước những thách thức đó, vai trò của pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ là việc tội phạm hóa đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội, hình sự hóa qua việc ghi nhận các mức và loại hình phạt đối với các hành vi vi phạm, mà còn phải tạo cơ sở pháp lý vững chắc, công minh khi xử lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực tiễn cho thấy những vấn đề mới phát sinh chủ yếu liên quan đến tội phạm dưới tác động của Cách mạng nghiệp lần thứ tư bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(i) Một số vấn đề lý luận mới phát sinh: </strong>Trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều giá trị cho cuộc sống loài người nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ, trong đó có nguy cơ làm phát sinh chủ thể mới của tội phạm là trí tuệ nhân tạo. Xét tính chất đa diện của nó, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - sau đây gọi tắt là AI) đã chạm đến đầy đủ các lĩnh vực pháp lý, từ lĩnh vực nhân quyền, lao động, hợp đồng, bồi thường thiệt hại, đến lĩnh vực tố tụng mặc dù trong thực tế, AI mới chỉ bắt đầu trở nên phổ biến trong ngành công nghiệp pháp lý<a href="#_ftn1" name="_ftnref1" title=""><sup><sup>[1]</sup></sup></a>. Bên cạnh đó, một số yếu tố cấu thành tội phạm như hành vi khách quan cũng phát sinh vấn đề mới như dùng phương tiện, thủ đoạn mới do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(ii) Một số vấn đề mới về tội phạm hóa: </strong>Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm. Khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm phụ thuộc đáng kể vào việc đánh giá đúng đắn và xác định càng chính xác, càng cụ thể càng tốt những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì thế đòi hỏi phải phân hoá cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Với diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm cùng với sự xuất hiện của không ít hành vi phạm tội mới chưa được điều chỉnh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhu cầu tội phạm hóa và phi tội phạm hóa đối với một số tội phạm sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là rất cần thiết.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(iii) Hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng: </strong>Trong bối cảnh bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên mọi lĩnh vực của đời sống, Internet đóng vai trò rất lớn. Việt Nam cũng không tránh khỏi việc trở thành “nạn nhân” của nhiều vụ tấn công trên không gian mạng, gây ảnh hưởng đến an ninh mạng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Các cuộc tấn công mạng có quy mô, mức độ ngày càng tinh vi với mục tiêu nhằm vào những thông tin quan trọng, tuyệt mật của quốc gia. Đáng chú ý, lợi dụng tâm lý bức xúc của người dân với việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội như ô nhiễm môi trường, thu hồi đất đai, thu phí tại các trạm BOT giao thông... các đối tượng phản động, chống đối đã triệt để sử dụng không gian mạng tuyên truyền, kích động tụ tập đông người, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nhiều vấn đề xã hội khác<a href="#_ftn2" name="_ftnref2" title=""><sup><sup>[2]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(iv) Hành vi xâm phạm quyền riêng tư của con người:</strong> Trong bối cảnh Internet vạn vật và cơ sở dữ liệu tập trung (Big data) đang ngày càng phát triển, một khi làm chủ được dữ liệu lớn thì sẽ có cơ hội thành công lớn hơn trong bối cảnh cạnh tranh, thế giới sẽ được hưởng lợi hơn từ việc trích xuất thông tin một cách chính xác hơn, hữu ích hơn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, vấn đề quyền riêng tư của người dùng có nguy cơ rất cao bị xâm phạm. Việc thu thập Big data có thể sẽ đi kèm thông tin khả năng định dạng người dùng mà không được sự đồng ý của họ và điều đó vi phạm pháp luật ở một số quốc gia. Theo đó, tội phạm sẽ lợi dụng thu thập các thông tin về quyền riêng tư để thực hiện hành vi phạm tội, nếu không được ngăn chặn và có biện pháp bảo mật, những hành vi đó sẽ gây ra những hậu quả nhất định đe đọa an ninh, trật tự. Ngoài ra, hoạt động tấn công, xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu, website của các cơ quan, doanh nghiệp để thu thập dữ liệu, tống tiền cũng có xu hướng gia tăng. Tin tặc sử dụng các loại virus, phần mềm gián điệp, mã độc ngày càng được mã hóa tinh vi, phức tạp phát tán qua thư điện tử, website khiêu dâm, diễn đàn, mạng xã hội, ứng dụng trên các điện thoại thông minh để xâm nhập trộm cắp dữ liệu, phá hoại của các cá nhân, doanh nghiệp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(v) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu:</strong> Pháp luật hình sự hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về xử lý hình sự đối với hành vi mua, trữ, cung ứng, giao dịch các loại tiền ảo như một loại hàng hoá hay tài sản. Do đó, việc xử lý hành vi xâm phạm về sở hữu (như chiếm đoạt tài sản) liên quan đến tiền mã hóa hiện nay chưa có khung pháp lý đầy đủ để áp dụng trên thực tiễn và các tranh chấp phát sinh trên thực tiễn chưa có cơ chế giải quyết. Bên cạnh đó, thực tiễn khung pháp lý quy định xử lý hình sự đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua môi trường thương mại điện tử nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần hoàn thiện (như trường hợp lợi dụng môi trường Internet để lừa đảo bằng cách đăng sản phẩm kém chất lượng nhưng lại bán với giá của sản phẩm chất lượng cao, hoặc kinh doanh sàn vàng trái phép,…), đồng thời tránh thất thu thuế với khoản lợi nhuận phát sinh. Ngoài ra, hoạt động lợi dụng không gian mạng kinh doanh đa cấp để lừa đảo cũng diễn ra phổ biến trên cả nước, nhất là các tỉnh vùng sâu, vùng xa, nơi trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt tâm lý muốn “giàu nhanh nhưng dễ dàng”. Lợi dụng lòng tham, chúng đã lôi kéo được nhiều khách hàng tham gia đầu tư, hứa trả lợi nhuận, hoa hồng lớn gấp nhiều lần so với các khoản đầu tư ban đầu. Một số đối tượng còn giả danh từ thiện, nhân đạo, xóa đói giảm nghèo... để lừa đảo. Một vấn đề khác nữa phát sinh đó là hoạt động đánh bạc và tổ chức đánh bạc qua mạng có quy mô ngày càng lớn, hình thành nhiều đường dây xuyên quốc gia. Các đối tượng trong nước câu kết với các đối tượng nước ngoài xây dựng mạng lưới hoạt động đánh bạc quy mô lớn, rộng khắp các tỉnh, thành phố, tổ chức thành nhiều tầng, nấc rất chặt chẽ, số lượng con bạc lên đến hàng trăm nghìn người với số tiền đánh bạc ước tính hàng triệu USD mỗi ngày; số tiền chuyển ra nước ngoài lên đến hàng nghìn tỷ đồng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(vi) Các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng:</strong> Một trong các loại tiền mã hóa là Bitcoin đang trở nên nguy hiểm vì với chế độ ẩn danh, các đối tượng có thể sử dụng Bitcoin để rửa tiền hay tài trợ khủng bố (chuyển tiền cho bọn khủng bố dễ dàng hơn). Tiền “ảo” Bitcoin còn có thể trở thành phương tiện để rửa tiền.. Tình trạng các nhóm đối tượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, làm và sử dụng thẻ tín dụng giả móc nối với đối tượng người Việt Nam thực hiện các thanh toán khống, chiếm hưởng trái phép có xu hướng gia tăng. Nguy hiểm hơn, ngày càng phổ biến tình trạng các đối tượng sử dụng đồng bộ nhiều loại thiết bị, tiến hành thực hiện đầy đủ các công đoạn làm thẻ giả và tiến hành giao dịch; hoặc sử dụng các thiết bị chuyên dụng skimming nhỏ, mỏng gắn vào phía trong của khe cắm thẻ tại các máy ATM để trộm cắp dữ liệu thông tin thẻ sau đó làm giả thẻ để rút tiền chiếm hưởng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhìn chung, những vấn đề nêu trên phát sinh đều do tác động của những thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, do đó, rất cần có những nghiên cứu nhận diện, dự báo giúp cho việc đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, mặc dù được sửa đổi, bổ sung khá toàn diện tại các quy định phần chung, phần các tội phạm cụ thể, tuy nhiên, các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi ban hành chưa dự liệu hết những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chính sách, pháp luật hình sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với những lý do trên, việc thực hiện Đề tài: “<strong>Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh </strong><strong>C</strong><strong>ách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong>” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>2. Mục tiêu nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1. Mục tiêu tổng quát</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2. Mục tiêu cụ thể</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Làm rõ một số vấn đề lý luận mới về tội phạm và hình phạt dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Đánh giá thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phòng, chống tội phạm và xử lý vấn đề mới phát sinh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) Đánh giá kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện pháp luật hình sự trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó rút ra những bài học có thể tham khảo cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) Đề xuất, kiến nghị các giải pháp có hiệu quả nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>3. Tổng quan tình hình nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.1. Tình hình nghiên cứu tài liệu trong nước</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng. Các nghiên cứu chủ yếu trong nước bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận đặt ra trong pháp luật hình sự Việt Nam</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các vấn đề lý luận đặt ra trong pháp luật hình sự Việt Nam được nghiên cứu trong các công trình sau: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), <em>Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn</em>, NXB. Tư pháp, Hà Nội; GS.TSKH. Lê Cảm (2005), <em>Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung </em>của NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội; GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2008), <em>Tội phạm và cấu thành tội phạm</em>, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội. Các công trình đã nghiên cứu, phân tích các vấn đề cơ bản về Luật hình sự thông qua nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về các tội phạm cụ thể theo pháp luật hình sự Việt Nam</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm cụ thể được đề cập đến trong các giáo trình Luật Hình sự và sách bình luận khoa học BLHS sau: <em>Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Tập 1</em>, Trường Đại học Luật Hà Nội do GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên, Nxb. CAND, năm 2014; <em>Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam</em>, Phần các tội phạm, Tổng cục XDLL Bộ Công an, Nxb. CAND, năm 2011; <em>Giáo trình Luật Hình sự (Phần các tội phạm)</em>, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2007; <em>Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2</em>, Phạm Văn Beo, NXB. Chính trị quốc gia, năm 2010; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm cụ thể)</em>, Trần Văn Luyện và các tác giả khác, NXB. CAND, năm 2010; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - Phần các tội phạm</em> của PGS.TS Phùng Thế Vắc, NXB. CAND, năm 2007; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần chung</em> và <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm</em> của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa; Sách <em>Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin</em> của TS. Phạm Văn Lợi, NXB. Tư pháp, 2007. Các công trình trên đã làm rõ được khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội phạm cụ thể.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật nói chung trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bộ Tư pháp (2019), “<em>Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”</em>, Kỷ yếu hội thảo Quốc gia, 24/6/2019, Khách sạn JW Marriott Hanoi. Với 29 chuyên đề nghiên cứu, kỷ yếu đã nhận diện khá hoàn chỉnh về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó làm rõ những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, pháp luật về doanh nghiệp, ngân hàng, khởi nghiệp, đầu tư mại hiểm, bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng, quan hệ lao động, an sinh xã hội, thuế, chính phủ điện tử, đô thị thông minh, an toàn thông tin mạng, chính sách, pháp luật hình sự, đấu tranh tội phạm mạng, chứng cứ, giải quyết tranh chấp trực tuyến….</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Phan Chí Hiếu, TS. Nguyễn Văn Cương (2019), “<em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra”</em> (Sách chuyên khảo), Nxb. Tư pháp, Hà Nội. Với kết cấu 3 chương, cuốn sách đã làm rõ được các vấn đề chính sau: (1) Tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và mối quan hệ với pháp luật, trong đó đã là rõ được tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với 08 lĩnh vực chính; những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội và quản trị quốc gia; làm rõ được sự phát triển lịch sử của cuộc cách mạng công nghiệp; làm rõ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tư duy xây dựng, thực thi pháp luật; một số kinh nghiệm quốc trế về thay đổi chính sách, pháp luật thích ứng với cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với một số lĩnh vực pháp luật, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, mô hình kinh tế chia sẻ, hoạt động ngân hàng, lao động việc làm, an sinh xã hội, thuế và quản lý thuế, xây dựng và vận hành chính phủ điện tử và đô thị thông minh, tội phạm mạng, chứng cứ điện tử và tố tụng tòa án; (3) Định hướng hoàn thiện một số lĩnh vực pháp luật đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó đã đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật dân sự kinh tế, pháp luật về chính phủ điện tử và đô thị thông minh, về tố tụng và hệ thống tư pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS.TS. Ngô Huy Cương (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam</em>, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Với kết cấu 05 chương, 27 bài viết, cuốn sách đã làm rõ được 05 vấn đề lớn sau: (1) Tổng quan về những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành; (3) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật bảo đảm quyền con người và (4) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với quản trị quốc gia và (5) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với việc cải cách đào tạo luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS.TS. Vũ Công Giao, TS. Mai Văn Thắng (2019)<a href="#_ftn3" name="_ftnref3" title=""><sup><sup>[3]</sup></sup></a>, <em>Trí tuệ nhân tạo với pháp luật và quyền con người, </em>Nxb. Tư pháp, Hà Nội, trong cuốn sách, tác giả tiếp tục nhận diện rõ hơn những tác động của trí tuệ nhân tạo và những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực pháp luật (bao gồm cả pháp luật hình sự) và quyền con người. Công trình đã cung cấp những quan niệm, tri thức cơ bản về trí tuệ nhân tạo, góp phần nhận diện rõ hơn cơ hội, thách thức, những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong lĩnh vực pháp luật và quyền con người trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển và phổ biến trong đời sống xã hội. Nội dung cuốn sách cũng cung cấp thêm những ý kiến tư vấn cho các cơ quan nhà nước, nhà hoạch định chính sách nhằm tận dụng thành công những tiện ích, lợi thế mà trí tuệ nhân tạo đem lại và ứng phó tốt hơn, phù hợp hơn với những thách thức phi truyền thống trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Chu Thị Hoa (2019), <em>Kinh tế chia sẻ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và một số yêu cầu về xây dựng pháp luật ở Việt Nam</em>, Tạp chí Nghề Luật, Số 7/2019. Bài viết, nêu quan niệm về kinh tế chia sẻ, dẫn chứng một số doanh nghiệp kinh doanh dựa trên mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam, phân tích những vấn đề đặt ra trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thúc đẩy sự phát triển mô hình kinh tế này ở Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Cao Anh Dũng (2019), “<em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia Việt Nam trong tình hình mới</em>”, Tạp chí Cộng sản số 4/2019. Bài viết đã phân tích tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư lên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là những tác động đến an ninh quốc gia, đồng thời đưa ra giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia Việt Nam trong tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nguyễn Thị Thanh Nga (2019), <em>Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với vấn đề bảo đảm quyền con người</em>, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 8/2019, bài viết đã đề cập đến những tác động tích cực và thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với vấn đề bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn quyền con người.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nguyễn Thanh Tuấn (2018), <em>Thách thức đối với an ninh con người và an ninh quốc gia trong cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Tạp chí Quản lý nhà nước 8/2018, bài viết nêu và phân tích bảo đảm an ninh con người và an ninh quốc gia ở Việt Nam là bảo đảm trật tự, an toàn xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, đặc biệt trước những bất an xã hội do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở thúc đẩy Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này cũng có một số bài viết trực tuyến tại các đường dẫn được tham khảo sau đây: http://vnu.edu.vn/ttsk/, Nguyễn Đình Đức, <em>Nhật Bản bắt đầu xây dựng xã hội 5.0</em>; http://daibieunhandan.vn/, Thái Anh, <em>Luật cho trí tuệ nhân tạo;</em> https://hatgiongtamhon.vn/, Vũ Thị Hương, <em>Trung Quốc dùng trí tuệ nhân tạo để quản lý nhà tù</em>; https://www.pavietnam.vn/, TTCN, <em>Phòng, chống tội phạm hữu hiệu nhờ công nghệ</em>; https://www.24h.com.vn/, Trà My, <em>Tác hại khôn lường của rô-bốt tình dục</em>; http://vi.sblaw.vn/, VnReview, <em>Trí tuệ nhân tạo đánh bại 20 luật sư hàng đầu nước Mỹ</em>; https://phapluatvacmcn4.vn/, <em>Kế hoạch ứng phó cuộc </em><em>C</em><em>ách mạng Công nghiệp lần thứ tư của Hàn Quốc</em>; https://tapchimattran.vn/, Anh Tuấn, <em>Áp dụng trí tuệ nhân tạo trong phòng, chống tham nhũng toàn cầu</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam các thời kỳ và trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Phạm Văn Lợi (2007),<em> Chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, </em>NXB. Tư pháp. Đây là công trình tiêu biểu và một trong những sản phẩm tiên phong về phân tích, trình bày các vấn đề lý luận về chính sách hình sự, quá trình xây dựng và thực hiện chính sách hình sự của nhà nước ta từ năm 1945 đến nay. Công trình cũng phân tích chính sách hình sự của một số nước trên thế giới qua các quy định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm và làm rõ nội dung của chính sách hình sự trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">GS.TSKH. Lê Cảm (Chủ biên) (2020), <em>Pháp luật hình sự Việt Nam từ thế kỷ X đến nay - Lịch sử và thực tại </em>(Sách chuyên khảo), NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là công trình tiêu biểu đã nghiên cứu phân tích, luận giải quá trình lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự thực định Việt Nam trong suốt hơn 10 thập kỷ qua, gồm những vấn đề lý luận cơ bản về hành vi vi phạm pháp luật, về các dấu hiệu của chủ thể của quan hệ pháp luật, về chính sách hình sự liên quan đến vấn đề tội phạm và hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thiếu tướng, GS.TS. Nguyễn Minh Đức (2019), <em>Phòng, chống tội phạm trong bối cảnh </em><em>C</em><em>ách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam</em>, Sách chuyên khảo Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia. Bài viết đã khái quát được nhận thức chung về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ một số lĩnh vực cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nguy cơ mà tội phạm có thể lợi dụng hoạt động phạm tội (cơ sở dữ liệu tập trung (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), đô thị thông minh (Smart cities), các kinh tế chia sẻ (shared economies), internet kết nối vạn vật (IoT), tiền ảo…), từ đó, bài viết đưa ra mốt số khuyến nghị phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Nguyễn Việt Lâm (2019), <em>Chính sách an ninh mạng trong quan hệ quốc tế hiện nay và đối sách của Việt Nam</em> (Sách tham khảo), NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Với kết cấu 03 chương, cuốn sách đã làm rõ các vấn đề sau: (i) An ninh mạng và thực trạng, trong đó có đề cập đến vấn đề an ninh mạng trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) Chính sách an ninh mạng và tình hình hợp tác về an ninh mạng của một số quốc gia trên thế giới và (iii) Kiến nghị đề xuất chính sách về an ninh mạng cho Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (Chủ biên) (2019), <em>Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống</em>, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận về an ninh phi truyền thống; thách thức, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hình sự; quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam nhằm ứng phó trước thánh thức an ninh phi truyền thống; đồng thời đánh giá, phân tích thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật hình sự hiện hành đối với các tội phạm phi truyền thống và đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm bảo đảm thực thi, hoàn thiện các quy định này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (2019), “<em>Chính sách hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư</em>”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2019. Tác giả đã xây dựng bài viết với kết cấu gồm 03 nội dung lớn: (1) Khái niệm, đặc điểm của chính sách hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Những tác động tích cực, một số thách thức đặt ra đối với chính sách hình sự Việt Nam và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (3) Những định hướng lớn trong chính sách hình sự Việt Nam cần triển khai nghiên cứu trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bài viết thể hiện góc nhìn tổng thể và toàn diện về nguy cơ, thách thức trong việc hoàn thiện chính sách hình sự Việt Nam trước những phát sinh từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, liên quan đến chính sách hình sự trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác giả - PGS.TS. Trịnh Tiến Việt cũng có bài nghiên cứu trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam mang tên “<em>Chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)”</em>. Bài viết đã cập nhật, làm rõ nhận thức khoa học về chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặc điểm của chính sách hình sự trong giai đoạn này; đồng thời phân tích, đưa ra những ảnh hưởng tích cực, các thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra đối với chính sách hình sự và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam để từ đó đưa ra định hướng cần hoạch định nhằm triển khai nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta trước thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (2019), <em>Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp 4.0</em> (Kỳ 1, Kỳ 2 và hết), Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 5/2019, Hà Nội. Bài viết đã đề cập đến vấn đề tiếp tục đổi mới tư duy pháp lí trong pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp 4.0: khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự...</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Lê Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thùy Linh (2018), <em>Tội phạm mạng trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2018. Bài viết đã khái niệm và các thuộc tính của tội phạm sử dụng công nghệ cao; nhận thức về tội phạm mạng sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa tội phạm công nghệ cao trong thời đại công nghệ 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở cấp độ bài viết trên các báo, tạp chí, đầu tiên phải kể đến bài viết: (1) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2007), “<em>Sự phát triển trong 20 năm đổi mới luật hình sự Việt Nam</em>”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Luật học số 01/2007, bài viết đã khái quát sự phát triển của luật hình sự trong giai đoạn trước BLHS năm 1999 và những đổi mới trong BLHS năm 1999 cũng như định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta; (2) PGS.TS Hà Hùng Cường, (2016), “<em>Bộ luật hình sự năm 2015 - bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước ta</em>”, Báo nhân dân điện tử ngày 16/02/2016, theo đó làm rõ những điểm mới trong các quy định của BLHS năm 2015 so với các Bộ luật trước đó và đưa ra khái quát kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật mới của Bộ Tư pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2. Tình hình nghiên cứu tài liệu nước ngoài</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhóm tài liệu nước ngoài về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động, ảnh hưởng đối với các lĩnh vực và yêu cầu hoàn thiện pháp luật có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bộ Ngoại giao (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, Klaus Schwab; Bộ Ngoại giao dịch, hiệu đính, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu khái quát về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các công nghệ cốt lõi mang tính chuyển đổi, đồng thời nghiên cứu những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số thách thức về các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật… được đặt ra, từ đó đề xuất giải pháp để thích nghi, định hình và khai thác hiệu quả tiềm năng của cuộc chuyển đổi này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Klaus Schawab (2018), <em>Shaping the Fourth Industrial Revolution,</em> xuất bản năm 2018, Portfolio Penguin phân tích cả ba cuộc Cách mạng công nghiệp: cuộc Cách mạng về sản xuất cơ khí vào những năm cuối thế kỷ XVIII, cuộc Cách mạng về sản xuất hàng loạt vào cuối thế kỷ XIX, và cuộc Cách mạng số hoá vào những năm 1960. Qua nội dung cuốn sách, các cuộc Cách mạng công nghiệp đều là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên của xã hội loài người, (nhất là trước áp lực cạnh tranh thị trường và sự nhận diện ngày càng rõ hơn giới hạn của nguồn lực sẵn có trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người) nhưng đều gắn với những bước phát triển mang tính đột phá về nền tảng công nghệ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Yadong Cui (2020), <em>Artificial Intelligence and Judicial Modernization,</em> Shanghai, China: Springer (2020) (Yadong Cui, <em>Trí tuệ nhân tạo và hiện đại hóa tư pháp,</em> Thượng Hải, 2020). Ngoài việc giải thích bản chất và tính năng của trí tuệ nhân tạo, chiến lược quốc gia của Trung Quốc và Hoa Kỳ về trí tuệ nhân tạo, tác giả đã phân tích khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xét xử. Tác giả cũng phân tích thực tiễn ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xét xử tại Trung Quốc (nhất là ứng dụng tại Tòa án ở Thượng Hải - với tư cách là hoạt động mang tính thí điểm - được gọi tắt là “Hệ thống 206” - “206 System”). Tác giả cũng cho rằng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo sẽ là một trong những điểm nhấn của việc hiện đại hóa hệ thống xét xử của Trung Quốc trong tương lai.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Klaus Schwab (2016), <em>The fourth industrial revolution: </em><em>W</em><em>hat it means, how to respond, </em>World Economic Forum Geneva, (Klaus Schwab, Cách mạng công nghiệp 4.0: Là gì? Ứng phó như thế nào?, Diễn đàn Kinh tế thế giới Geneva, 2016); Enrique Schaerer et al: <em>Robots as Animals: A Framework for Liability and Responsibility in Human - Robot Interactions</em>; The 18<sup>th</sup> IEEE International Symposium on Robot and Human Interactive Communication Toyama, Japan, Sept. 270-Oct.2, 2009 (Enrique Schaerer et al: Rô-bốt như động vật: Khung pháp lý về trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với các tương tác của Robot; Hội thảo quốc tế lần thứ 18 về Tương tác giữa người và Rô-bốt, 2009); và bài viết của Stephanie Weber, “<em>How artificial intelligence is transforming the criminal justice system”; </em>Thought Works Blog (2020) (Stephanie Weber, “<em>Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi hệ thống tư pháp hình sự như thế nào”, </em>Blog Thought Works, 2020); Matilda Claussén-Karlsson, <em>Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem</em>, JU101A, Final Thesis for the Law Program, Second Cycle, 30 Credits, Spring 2017 (Matilda Claussén-Karlsson, <em>Trí tuệ nhân tạo và yếu tố cấu thành tội phạm: Phân tích vấn đề trách nhiệm pháp lý</em>, JU101A, Luận án tốt nghiệp chương trình luật, Vòng II, 2017); 3. Ikuo MISUMI (2021), The Background of the development of Japan's Cybersecurity Strategies (Tạm dịch: Bối cảnh phát triển của chiến lược an ninh mạng của Nhật Bản), Volume 34 Issue 3; Mori, Shigeo & Goto, Atsuhiro (2018), <em>Reviewing National Cybersecurity Strategies</em> (Tạm dịch: Rà soát chiến lược an ninh mạng quốc gia của Nhật Bản), Journal of Disaster Research.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều làm rõ khái niệm và các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với không chỉ riêng lĩnh vực hình sự mà đối với mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội tại các quốc gia. Từ đó, các tác giả cũng đưa ra các định hướng thay đổi phù hợp với mỗi lĩnh vực, bao gồm cả các thay đổi trong hệ thống tư pháp hình sự (như nghiên cứu của Stephanie) và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, cuốn sách chuyên khảo <em>New Technology, Big Data and the Law</em> (Công nghệ mới, dữ liệu lớn và pháp luật) do Marcelo Corrales, Mark Fenwick, và Nikolaus Forgó đồng chủ biên cũng là một công trình bước đầu làm rõ một số khía cạnh pháp lý về dữ liệu lớn, việc sử dụng công nghệ điện toán đám mây (clouding), Internet vạn vật ở châu Âu, việc thu thập và xử lý chứng cứ điện tử tại Đức. Tương tự, cuốn sách <em>Robotics, AI and the Future of Law</em> (Robot, Trí tuệ nhân tạo và Tương lai pháp luật) do Marcelo Corrales, Mark Fenwick, và Nikolaus Forgó đồng chủ biên nghiên cứu về một trong những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là trí tuệ nhân tạo cũng đã tập trung thảo luận về tư cách pháp lý của người máy và các phần mềm trí tuệ nhân tạo, các quy tắc điều chỉnh các thiết bị bay không người lái, và vấn đề ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Một số vấn đề cụ thể như xử lý chứng cứ điện tử hay liên quan đến tiền mã hóa cũng được phân tích trong các công trình: Maria Angela Biasiotti, Jeanne Pia Mifsud Bonnici, Joe Cannataci, và Fabrizio Turchi đồng chủ biên, <em>Handling and Exchanging Electronic Evidence Across Europe, </em>Switzerland: Springer (2018); (Maria Angela Biasiotti, Jeanne Pia Mifsud Bonnici, Joe Cannataci, và Fabrizio Turchi: <em>Xử lý và trao đổi chứng cứ điện tử ở Châu Âu</em>, 2018); và Rosario Girasa, <em>Regulation of Cryptocurrencies and Blockchain Technologies: National and International Perspectives, </em>Switzerland: Springer, (2018) (Rosario Girasa, <em>Điều chỉnh tiền mã hóa và công nghệ chuỗi khối: góc nhìn quốc gia và quốc tế</em>, Thụy Sỹ, 2018). Trong công trình thứ nhất, các tác giả đã nhận diện các loại chứng cứ điện tử liên quan tới hành vi, giao dịch của cá nhân, tổ chức qua môi trường mạng Internet, mạng xã hội. Các tác giả cũng phân tích thực trạng pháp luật về chứng cứ điện tử của Liên minh châu Âu và một số quốc gia ở châu Âu, phân tích thực trạng trao đổi chứng cứ điện tử qua biên giới của các quốc gia châu Âu và các khía cạnh pháp lý phát sinh cần giải quyết. Trong công trình thứ hai, tác giả trình bày được thực tiễn điều chỉnh tiền mã hóa (tiền kỹ thuật số) ở một số quốc gia trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc Châu Âu... chỉ rõ thái độ rất khác nhau của các quốc gia trong việc thiết kế chính sách liên quan tới việc chấp nhận hay không chấp nhận việc lưu hành và sử dụng tiền mã hóa.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Một số nhận xét:</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về pháp luật hình sự trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm mục đích nhận diện, làm rõ thực trạng nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó làm rõ những vấn đề liên quan đã được nghiên cứu; những vấn đề chưa được nghiên cứu, cần được tiếp tục nghiên cứu sâu. Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu vô cùng cấp thiết đặt ra nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung trước yêu cầu đổi mới toàn diện do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp này, đồng thời đưa ra những giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, chủ yếu dưới dạng sách chuyên khảo, Kỷ yếu hội thảo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật, báo điện tử, cụ thể các công trình đã làm rõ các vấn đề lớn sau: (i) Làm rõ được tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các trụ cột chính; những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia; làm rõ được sự phát triển lịch sử của các cuộc Cách mạng công nghiệp; (ii) Làm rõ được tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với một số lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, như: lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, mô hình kinh tế chia sẻ, hoạt động ngân hàng, lao động việc làm, an sinh xã hội, thuế và quản lý thuế, xây dựng và vận hành chính phủ điện tử và đô thị thông minh, tội phạm mạng, chứng cứ điện tử và tố tụng tòa án, quyền con người…; (iii) Đã đưa ra được những định hướng hoàn thiện một số lĩnh vực pháp luật đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng, đề tài kế thừa trong quá trình nghiên cứu về nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, mặc dù đã có một số công trình đã cập đến hoàn thiện nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ một số lĩnh vực cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nguy cơ mà tội phạm có thể lợi dụng hoạt động phạm tội (cơ sở dữ liệu tập trung (Bigdata), trí tuệ nhân tạo (AI), đô thị thông minh (Smart cities), các kinh tế chia sẻ (shared economies), internet kết nối vạn vật (IoT), tiền ảo…), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị chung về phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay mà chưa đi sâu vào nghiên cứu, làm rõ các vấn đề cốt lõi về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về chính sách hình sự nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thường chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành mà chưa tham khảo nhận thức, lý luận từ các quốc gia khác đã có kinh nghiệm, vì vậy kết quả nghiên cứu phụ thuộc lớn vào chất lượng của các quy phạm pháp luật hình sự và nhiều vấn đề về tội phạm và hình phạt chưa phù hợp hoặc mới phát sinh chưa được đặt ra hoặc đã được đặt ra nghiên cứu, nhưng chưa phản ánh một cách đầy đủ, sâu sắc về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn, do đó, cũng chưa đưa ra được hệ thống các giải pháp toàn diện hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, còn nhiều vấn đề cốt lõi chưa được các tài liệu, công trình nghiên cứu hiện nay làm rõ, cần tiếp tục nghiên cứu mà Ban Chủ nhiệm muốn hướng tới trong việc triển khai đề tài này, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i). Nhận diện những khía cạnh lý luận về các loại tội phạm mới, vấn đề mới liên quan đến tội phạm phát sinh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii). Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hình sự đối với các loại tội phạm mới hoăc xử lý những vấn đề mới liên quan đến tội phạm phát sinh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii). Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv). Yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>4. Kết cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài có kết cấu gồm ba chương:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 1: Nhận diện một số vấn đề lý luận về luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 2: Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của một số quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG MỘT</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">NHẬN DIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT HÌNH SỰ TRONG</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.1. Khái quát về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động đối với hệ thống pháp luật</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.1. Khái quát về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc Cách mạng công nghiệp đang diễn ra và được nhắc đến thường xuyên là “<em>Cuộc CMCN lần thứ tư</em>” (sau đây gọi tắt là CMCN 4.0). Vào năm 2011, tại Hội chợ triển lãm công nghệ tại Hannover Đức, thuật ngữ “CMCN 4.0” (The Fourth Industrial Revolution) mới được đề cập trực tiếp và sau đó lan tỏa nhanh chóng trên toàn thế giới. CMCN 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi chưa từng thấy trong cuộc sống của con người trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng này đánh dấu sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp. Trung tâm cuộc cách mạng này đang nổi lên những thành tựu công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau như<a href="https://www.itgvietnam.com/tri-tue-nhan-tao-la-gi-ai-thay-doi-tuong-lai-cua-loai-nguoi-ra-sao/"> trí tuệ nhân tạo (AI)</a>, một rô-bốt, <a href="https://www.itgvietnam.com/iot-se-lam-thay-doi-co-ban-the-gioi-nhu-the-nao-trong-nam-2020/">Internet vạn vật (IoT)</a>, công nghệ sinh học, xe tự lái, công nghệ in 3D, và công nghệ nano…; trong đó, những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)<a href="#_ftn4" name="_ftnref4" title=""><sup><sup>[4]</sup></sup></a> và gây ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.2. Khái quát tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong một số lĩnh vực pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Sự ứng dụng rộng rãi những thành tựu từ cuộc CMCN 4.0, nhất là sự gia tăng của nền kinh tế số, kinh tế sáng tạo, kinh tế chia sẻ, quản trị xã hội, hình thành các mối quan hệ xã hội mới, thách thức những quan điểm pháp lý truyền thống và tác động mạnh mẽ đối với hệ thống pháp luật. Theo nghiên cứu, có thể thấy, CMCN 4.0 tác động trực tiếp tới các lĩnh vực pháp luật quan trọng bao gồm: pháp luật dân sự, pháp luật về sở hữu trí tuệ pháp luật về lao động và an sinh xã hội, pháp luật về bảo hộ dữ liệu cá nhân, pháp luật ngân hàng, tài chính, tiền tệ, lĩnh vực quản trị công.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.3. Khái quát tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với pháp luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong số những vấn đề mới phát sinh của CMCN 4.0 đối với pháp luật hình sự, Đề tài tập trung nhận diện, phân tích, góp phần làm rõ và bước đầu đưa ra những đề xuất, kiến nghị đối với những nội dung sau đây: (i) nhận diện một số vấn đề lý về luật hình sự; (ii) nhận diện các vấn đề mới về tội phạm hóa và phi tội phạm hóa trong bối cảnh tác động của CMCN 4.0; (iii) làm rõ những vấn đề pháp lý đối với các nhóm hành vi phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.2. Nhận diện một số vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2.1. Trí tuệ nhân tạo và tác động đối với lý luận về trách nhiệm hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Khái quát những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo trên thực tiễn</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Là một thành tựu của CMCN 4.0, AI có thể được phân chia thành 4 loại svới mức độ hoàn thiện từ thấp đến cao, gồm: <em>Máy phản ứng</em> (reactive machines) thuần tuý là loại trí tuệ nhân tạo cơ bản nhất; <em>Bộ nhớ giới hạn</em> (Limited memory) máy tính có bộ nhớ hạn chế có thể lưu trữ trải nghiệm quá khứ hoặc một số dữ liệu trong một khoảng thời gian ngắn; <em>Lý thuyết về tâm trí</em> (Theory of mind) lý thuyết về trí tuệ nhân tạo nên hiểu được cảm xúc con người, niềm tin của con người và có thể tương tác xã hội như con người; <em>Tự nhận thức</em> (Self awareness) là tương lai của trí tuệ nhân tạo, là những cỗ máy siêu thông minh và sẽ có ý thức, tình cảm và nhận thức về bản thân<a href="#_ftn5" name="_ftnref5" title="">[5]</a>. Với những tính năng vượt trội của mình, AI được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các ngành và lĩnh vực khác nhau bao gồm: vận tải tự lái; sản xuất; y tế; thương mại… và có vai trò ngày càng quan trọng trọng trong đời sống.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tất cả những đặc điểm gắn với các loại AI có thể xuất hiện trong cuộc sống cho thấy AI ngày càng đem lại những tác động tích cực lớn lao cho cuộc sống nhưng cũng đồng thời tạo ra những nguy cơ về nhiều mặt. Thực tế cho thấy nhiều AI cũng đã tham gia vào các vụ tai nạn chết người. Điều này đã làm dấy lên mối lo ngại của công chúng rằng sẽ có những tội phạm được thực hiện mà không có bất kỳ khả năng nào để bắt con người phải chịu trách nhiệm<a href="#_ftn6" name="_ftnref6" title="">[6]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. </em><em>Tác động của trí tuệ nhân tạo đối với lý luận về trách nhiệm hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của AI trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong khi luật hình sự hiện hành chưa có các quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý AI cũng như những tác nhân liên quan đến hoạt động của AI đặt ra cho các nhà nghiên cứu câu hỏi: <em>có cơ sở lý luận về tội phạm và hình phạt tạo nền tảng cho việc xây dựng các quy định mới liên quan đến việc AI thực hiện tội phạm hay không? </em>Có thể thấy AI có những đặc tính góp phần tạo ra thách thức đối với lý luận luật hình sự bao gồm: (i) quyền tự chủ, (ii) tính không thể đoán trước và (iii) không thể chịu trách nhiệm<a href="#_ftn7" name="_ftnref7" title="">[7]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Liên quan đến vấn đề này, các nhà khoa học trên thế giới đang có những ý kiến khác nhau. Một số ý kiến nhấn mạnh: luật hình sự nhắm vào con người, và nếu chúng ta muốn duy trì chức năng trừng phạt và răn đe trong luật hình sự, chúng ta cần hướng luật vào con người với khả năng chịu trách nhiệm đạo đức, tức là <strong>con người chịu trách nhiệm</strong> chứ không phải AI<a href="#_ftn8" name="_ftnref8" title="">[8]</a>. Bên cạnh đó, cũng có không ít ý kiến theo hướng cần xem xét trách nhiệm hình sự của chính AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, có thể kết luận ba nhóm quan điểm về trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến tội phạm do AI thực hiện như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, phải xác định trách nhiệm hình sự đối với con người liên quan đến việc thực hiện tội phạm của AI, bao gồm người sản xuất, người giám sát, người sở hữu, người sử dụng khi AI thực hiện hành vi gây thiệt hại và người khác bên ngoài tác động đến AI. </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, phải xác định trách nhiệm hình sự của AI liên quan đến tội phạm mà AI thực hiện, theo đó</em> <em>loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự của con người trong những trường hợp AI có đầy đủ khả năng nhận thức, phán quyết về đạo đức, tự ra quyết định khi thực hiện tội phạm và không có tác nhân con người nào có lỗi trong việc thực hiện tội phạm của AI</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, phải xác định trách nhiệm hình sự của cả con người và của AI</em>, <em>theo đó</em> <em>rách nhiệm hình sự của AI dù độc lập vẫn liên quan đến người lập trình phần mềm hay người sử dụng (liên đới); tuy nhiên, </em><em>vấn đề trách nhiệm hình sự của AI chưa thể được đặt ra và chỉ khi AI có đầy đủ các đặc tính về khả năng nhận thức, khả năng phán xét về đạo đức đối với hành vi, có cảm xúc như con người thì AI mới có thể được xem xét trở thành chủ thể của tội phạm. </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2.2. Một số thay đổi về nhận thức đối với các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Về các yếu tố cấu thành tội phạm </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Dưới tác động của CMCN 4.0, nhận thức về các yếu tố cấu thành tội phạm có thể dẫn đến một số thay đổi, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) </em><em>Làm xuất hiện khách thể mới cần được bảo vệ bằng luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong thời đại toàn cầu hóa và trong bối cảnh CMCN 4.0, một quốc gia đơn lẻ khó giải quyết được các vấn đề trên không gian mạng (cụ thể là bảo vệ an ninh mạng), tội phạm mạng, mà cần có sự hợp tác trên bình diện quốc tế, cũng như hệ thống pháp luật hình sự quốc gia cần có những quy định bảo đảm an toàn và bảo vệ kịp thời cho khách thể này. Khách thể “<em>an ninh mạng</em>” cần được cụ thể hóa trong pháp luật hình sự quốc gia với tư cách là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự; từ đây, hiệu lực của pháp luật hình sự mới phát huy hiệu quả trên “không gian này”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Sự thay đổi về không gian thực hiện hành vi phạm tội</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Không gian phạm tội là một trong những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng viễn thông, không gian phạm tội không còn chỉ được hiểu một cách truyền thống. Cụ thể, hành vi nguy hiểm cho xã hội còn có thể được thực hiện trên <em>không gian mạng</em>, thậm chí ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác... dẫn đến đặt ra nhận thức vấn đề về hiệu lực trên không gian mạng<a href="#_ftn9" name="_ftnref9" title=""><sup><sup>[9]</sup></sup></a> của pháp luật hình sự và khách thể bị tội phạm xâm phạm đến. Nếu hành vi nguy hiểm được thực hiện trên không gian mạng mà không được điều chỉnh thì hiệu lực của pháp luật hình sự sẽ không phát huy tác dụng được và không bảo vệ được các lợi ích của cá nhân, của xã hội và cộng đồng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii)</em> <em>Làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại gây ra từ hành vi phạm tội</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh CMCN 4.0 và với sự xuất hiện mạnh mẽ của tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao đã gây ra thiệt hại cho tổ chức, cá nhân và Nhà nước lên đến hàng nghìn tỷ đồng và có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Qua số liệu thống kê cụ thể, có thể thấy số lượng và các loại tội phạm mạng có sự tăng nhanh cả về phạm vi, quy mô cũng như mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Về hình phạt</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 mà cụ thể là sự phát triển của AI cũng làm phát sinh nhận thức mới trong lý luận về hình phạt. Tương ứng với hai khả năng chủ thể sử dụng AI hoặc do chính AI thực hiện hành vi phạm tội trong tương lai, hệ thống biện pháp cưỡng chế về hình sự cũng cần được sửa đổi, bổ sung để mang tính chất <em>công nghệ</em>, <em>giám sát, định vị</em> để phòng ngừa tội phạm, tái phạm...<a href="#_ftn10" name="_ftnref10" title="">[10]</a>. Thậm chí, có quan điểm khoa học cho rằng, trong tương lai xa, nếu quy định thực thể AI là chủ thể của tội phạm, thì dự kiến các hình phạt có khả năng áp dụng với thực thể AI phải đặt ra bao gồm: Lao động công ích; tạm đình chỉ có thời hạn; xóa bỏ phần mềm AI kiểm soát thực thể AI...<a href="#_ftn11" name="_ftnref11" title="">[11]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.3. Nhận diện một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh những lợi ích mà CMCN 4.0 mang lại, những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của cuộc CMCN 4.0 đến việc đảm bảo quyền con người cũng không nhỏ. Cùng với sự phát triển nhanh chóng mà những thành tự của cuộc CMCN 4.0 mang lại thì các quyền riêng tư của người dân cũng đứng trước nguy cơ xâm hại nghiêm trọng. Khả năng kết nối vạn vật và hệ thống siêu dữ liệu (Big data) mang lại những thành tựu to lớn nhưng cũng là nơi mà các thông tin, tài liệu mật, riêng tư của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể bị phát tán trong thời gian vô cùng ngắn ngủi với phạm vi rộng lớn. Cùng với đó, kết quả tất yếu trong xã hội chuyển đổi số là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp người dân và từ đó tiềm ẩn sự bất bình đẳng trong quá trình bảo đảm quyền con người.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.4. Nhận diện một số vấn đề về nguồn của luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo nghĩa rộng, nguồn của pháp luật hình sự được hiểu là nguồn của pháp luật liên quan đến hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và các loại nguồn khác có quy định về tội phạm, hình phạt hoặc có quy định liên quan tới tội phạm và hình phạt. Theo nghĩa hẹp, nguồn của pháp luật hình sự chỉ gồm những văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp chứa đựng các quy định về tội phạm và hình phạt<a href="#_ftn12" name="_ftnref12" title=""><sup><sup>[12]</sup></sup></a>. Dưới góc độ pháp luật thực định, cho đến thời điểm hiện nay, nguồn của pháp luật hình sự ở Việt Nam chỉ là BLHS<a href="#_ftn13" name="_ftnref13" title=""><sup><sup>[13]</sup></sup></a>. Trong bối cảnh tác động của CMCN 4.0, các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng có sự thay đổi nhanh chóng, việc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS có thể dẫn đến nhiều hạn chế như sau:</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, phải sửa đổi BLHS thường xuyên để kịp</em><em> thời </em><em>để xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phát sinh</em>.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai,</em> <em>có độ vênh giữa cơ quan được giao xây dựng Luật chuyên ngành với cơ quan chủ trì sửa đổi, bổ sung BLHS. </em></span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, khi đạo luật chuyên ngành được ban hành mà không được phép quy định về tội phạm và hình phạt thì cơ quan soạn thảo và cơ quan lập pháp cũng không cần tính tới nhu cầu tội phạm hóa</em><a href="#_ftn14" name="_ftnref14" title=""><sup><sup>[14]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ tư, để đảm bảo tính khái quát và có thể áp dụng các quy phạm hình sự cho các lĩnh vực khác nhau nên trong BLHS tồn tại nhiều quy định khái quát</em><em>, </em><em>thiếu sự </em><em>cụ thể</em><a href="#_ftn15" name="_ftnref15" title="">[15]</a><em>.</em></span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ năm,</em> <em>việc duy trì nguyên tắc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS làm cho tính tương thích với quy định của các điều ước quốc tế của BLHS có những hạn chế nhất định</em><em>. </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.5. Nhận diện các yếu tố tác động, ảnh hưởng đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, cả về mặt lý luận và thực tiễn, khi đánh giá mức độ hoàn thiện hoặc chất lượng của hệ thống pháp luật nói chung hoặc một ngành luật, một chế định luật thường dựa vào những tiêu chí về tính phù hợp, thống nhất; đồng bộ, toàn diện; tính khả thi; tính ổn định, tính dự báo của pháp luật và kỹ thuật lập pháp<a href="#_ftn16" name="_ftnref16" title="">[16]</a>. Do đó, đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự, trước hết cũng cần nhận diện được các yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến các tiêu chí hoàn thiện pháp luật bao gồm: (i) Yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội; (ii) Yếu tố về tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; (iii) Yếu tố truyền thống pháp lý và năng lực tổ chức thi hành pháp luật; (iv) Yếu tố về tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, bảo đảm kỹ thuật lập pháp, lập quy.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG HAI</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.1. Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.1. Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 đặt ra những thách thức trong việc xử lí các hành vi xâm phạm trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị…, cụ thể thực trạng pháp luật xử lý các hành vi này như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về xử lý hành vi kích động người dân chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên không gian mạng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhận thức được tầm quan trọng của an ninh quốc gia, tại Việt Nam, từ lần pháp điển hóa đầu tiên năm 1985, đến năm 1999 và gần đây nhất là năm 2015, BLHS luôn đặt các tội xâm phạm an ninh quốc gia là chương đầu tiên trong Phần các tội phạm. BLHS năm 2015 đã có những quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp, xử lí các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia ở mức độ đáng kể. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với 14 tội được quy định từ Điều 108 đến Điều 121; Điều 122 quy định về hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với các tội phạm trong nhóm này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hành vi phạm tội sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia tại Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình chống đối, bạo loạn, lật đổ chính quyền… Tính đến tháng 02/2022, Bộ Công an đã tổ chức đấu tranh, thực hiện đối sách với 124 đối tượng phản động, chống phá, phá hoại bầu cử; quản lý giám sát 1.251 đối tượng phản động, chống đối, đấu tranh; phá rã 04 nhóm phản động; ngăn chặn 02 chiến dịch tuyên truyền chống phá cuộc bầu cử của phản động lưu vong; thu giữ hàng trăm đầu tài liệu phản động; khởi tố, bắt 03 đối tượng vi phạm pháp luật chống phá bầu cử; khởi tố 11 đối tượng đưa tin xuyên tạc sự thật liên quan đến bầu cử trên không gian mạng. Cục An ninh mạng đã đấu tranh, vô hiệu hóa hơn 200 mục tiêu trên không gian mạng, gỡ bỏ 658 video clip có nội dung xuyên tạc cuộc bầu cử<a href="#_ftn17" name="_ftnref17" title=""><sup><sup>[17]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii)</em><em> Về xử lý hành vi sử dụng Internet làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nếu như trước đây, những hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống chính quyền nhân dân được các đối tượng chuyền tay nhau hoặc được cất giữ bí mật trong nhà riêng, nơi làm việc… thì hiện nay, với sự phát triển của Internet, các tài liệu này được các đối tượng tích cực lan truyền trên các mạng xã hội với tầm ảnh hưởng đến nhiều người hoặc lưu trữ trên hệ thống lưu trữ đám mây với khối lượng khổng lồ. Thực tiễn cho thấy thủ đoạn phạm tội của các đối tượng thường xuyên đưa những thông tin xuyên tạc sai sự thật đối với một số cán bộ cấp cao, hoặc những vụ án, sự kiện trong nước nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để xử lý hành vi trên, BLHS năm 2015 ghi nhận quy định tại Điều 117 về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Về xử lý hành vi phá hoại không gian mạng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các hoạt động xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trên thực tế hiện nay có thể kể đến gồm: Chiến tranh mạng; Gián điệp mạng; Các hành vi khủng bố mạng hoặc tội phạm mạng. Chính những hình thức tấn công mới đã đặt Việt Nam đối mặt với những nguy cơ hiện hữu, xâm phạm trực tiếp chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, với những cách thức phi truyền thống nhưng sức ảnh hưởng lại lớn hơn rất nhiều. Trên thực tế, trước những thay đổi trong CMCN 4.0, đã có nhiều hoạt động của các đối tượng thù địch phá hoại không gian mạng cũng như chủ quyền quốc gia trên không gian mạng tại Việt Nam. Về bản chất, những hành vi này trực tiếp xâm phạm đến an ninh quốc gia, tuy nhiên nếu không chứng minh được nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ chỉ xử lí theo Mục 2 - Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đồng thời, nếu không có sự hợp tác quốc tế, nhất là trong tương trợ tư pháp giữa các quốc gia thì rất khó để phát hiện, tiến hành tố tụng để xử lý các hành vi phạm tội này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các tội xâm phạm an ninh quốc gia còn gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, khó khăn trong việc xác định mục đích của những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, chưa bổ sung quy định cụ thể về việc xác định yếu tố nước ngoài trong các vụ án, vụ việc xâm phạm an ninh quốc gia dẫn đến lúng túng trong việc xác định yếu tố nước ngoài.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, trong bối cảnh CMCN 4.0, nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia có sự câu kết giữa các đối tượng trong nước với các phần tử chống đối lưu vong ở nước ngoài được thực hiện trên không gian mạng, tại lãnh thổ nước ngoài gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc phát hiện cũng như các đối tượng phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.2. </em><em>Thực trạng pháp luật về hành vi xâm phạm thông tin cá nhân và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự bùng nổ mạng xã hội, vạn vật kết nối, tự động hóa, thanh toán điện tử… CMCN 4.0 đã và đang tạo ra một không gian sinh tồn của con người có sự song hành và đan quyện giữa thế giới ảo (cyberspace) với thế giới thực (offline), theo đó tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc tiếp cận thông tin cá nhân. Bảo vệ thông tin cá nhân, cũng đồng thời là bảo vệ quyền riêng tư của con người, là vấn đề càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh tình hình vi phạm và tội phạm trên không gian mạng ngày càng phức tạp. Tại Việt Nam, sự gia tăng của xu hướng làm việc kết hợp và sự thay đổi liên tục của các phương thức tấn công tinh vi đang đặt ra vô vàn thách thức về an ninh mạng trong năm 2022<a href="#_ftn18" name="_ftnref18" title="">[18]</a>. Các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân diễn ra bằng những cách thức phức tạp với nhiều mục đích và nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Việc bảo vệ thông tin cá nhân trong pháp luật Việt Nam có nền tảng là nguyên tắc bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và bí mật cá nhân, được ghi nhận tại Điều 21 Hiến pháp 2013 và được cụ thể hóa bằng các luật, bộ luật, văn bản chuyên ngành với các quy định bảo vệ thông tin cá nhân<a href="#_ftn19" name="_ftnref19" title="">[19]</a>. Qua rà soát, các văn bản điều chỉnh về thông tin cá nhân có một số bất cập như sau<a href="#_ftn20" name="_ftnref20" title="">[20]</a>:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất</em>, phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân chưa đủ toàn diện. Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân mới tập trung điều chỉnh việc bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường mạng<a href="#_ftn21" name="_ftnref21" title=""><sup><sup>[21]</sup></sup></a>. Việc bảo vệ thông tin cá nhân trong thế giới vật lý/thực (không trên môi trường mạng) chưa được đặt ra<a href="#_ftn22" name="_ftnref22" title=""><sup><sup>[22]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai,</em> có sự chồng chéo giữa nội dung các quy định tại Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các quy định tại Điều 17, 18 và 19 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, đồng thời có nội dung mâu thuẫn giữa các quy định này<a href="#_ftn23" name="_ftnref23" title="">[23]</a>. Có sự không thống nhất trong quy định về định nghĩa “thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (Khoản 15 Điều 3)<a href="#_ftn24" name="_ftnref24" title=""><sup><sup>[24]</sup></sup></a> và một số văn bản dưới Luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba,</em> các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa dự liệu tới những tình huống thực tế trong thu thập, xử lý thông tin cá nhân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ tư</em>, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa có quy định về quyền được quên (right to be forgotten) trong những trường hợp cần thiết (một loại quyền năng có giá trị nhân bản mà pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của nhiều quốc gia đã có quy định).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ năm,</em> các chế tài đối với hành vi xâm phạm thông tin cá nhân còn một số bất cập và chưa đủ răn đe, còn nhẹ so với quy định của nhiều quốc gia. Bên cạnh đó, mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân còn nhẹ<a href="#_ftn25" name="_ftnref25" title=""><sup><sup>[25]</sup></sup></a> so với thông lệ của nhiều quốc gia trên thế giới và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới chỉ có một số quy định bước đầu tại Điều 159 về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác và Điều 288 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông<a href="#_ftn26" name="_ftnref26" title=""><sup><sup>[26]</sup></sup></a>. Tuy nhiên, 02 tội danh này chưa quy định cụ thể, trực tiếp về các hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới thông tin cá nhân đang diễn ra hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, những khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân phần lớn xuất phát từ bất cập trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về thông tin cá nhân, cụ thể<a href="#_ftn27" name="_ftnref27" title="">[27]</a>:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân chưa đủ toàn diện. Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân mới tập trung điều chỉnh việc bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường mạng<a href="#_ftn28" name="_ftnref28" title=""><sup><sup>[28]</sup></sup></a>. Việc bảo vệ thông tin cá nhân trong thế giới vật lý/thực (không trên môi trường mạng) chưa được đặt ra<a href="#_ftn29" name="_ftnref29" title=""><sup><sup>[29]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, có sự chồng chéo giữa nội dung các quy định tại Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các quy định tại Điều 17, 18 và 19 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, đồng thời có nội dung mâu thuẫn giữa các quy định này<a href="#_ftn30" name="_ftnref30" title="">[30]</a>. Có sự không thống nhất trong quy định về định nghĩa “thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (Khoản 15 Điều 3)<a href="#_ftn31" name="_ftnref31" title=""><sup><sup>[31]</sup></sup></a> và một số văn bản dưới Luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa dự liệu tới những tình huống thực tế trong thu thập, xử lý thông tin cá nhân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa có quy định về quyền được quên (right to be forgotten) trong những trường hợp cần thiết (một loại quyền năng có giá trị nhân bản mà pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của nhiều quốc gia đã có quy định).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong>, các chế tài đối với hành vi xâm phạm thông tin cá nhân còn một số bất cập và chưa đủ răn đe, còn nhẹ so với quy định của nhiều quốc gia.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ sáu</strong>, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới chỉ có một số quy định bước đầu tại Điều 159 về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác và Điều 288 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông<a href="#_ftn32" name="_ftnref32" title=""><sup><sup>[32]</sup></sup></a>. Tuy nhiên, 02 tội danh này chưa quy định cụ thể, trực tiếp về các hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới thông tin cá nhân đang diễn ra hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2.3. Thực trạng pháp luật về các tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, một số hành vi phạm tội tiêu biểu phát sinh dưới tác động của CMCN 4.0 có thể kể đến bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để có được thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của nạn nhân, người phạm tội có thể ngẫu nhiên biết được, trộm cắp thông tin, mua hoặc có được thông tin từ những người bán, cung cấp bất hợp pháp. Hành vi này có thể bị kết án về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 290 BLHS năm 2015<a href="#_ftn33" name="_ftnref33" title=""><sup><sup>[33]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thẻ ngân hàng giả là thẻ không do tổ chức phát hành thẻ phát hành nhưng có chứa các thông tin của thẻ thật, chủ thẻ thật. Người phạm tội có thể thực hiện một hoặc tất cả các công đoạn của quá trình làm gia thẻ ngân hàng giả.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: tài khoản ngân hàng; tài khoản các mạng xã hội như Facebook, Zalo, email... Hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc các phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv)</em><em> Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản </em>(điểm d khoản 1 Điều 290 BLHS năm 2015).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong nhóm hành vi này, người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thuộc một trong năm lĩnh vực sau: (i) Trong lĩnh vực thương mại điện tử; (ii) Trong thanh toán điện tử; (iii) Trong giao dịch chứng khoán. Việc mở tài khoản và áp dụng các phương thức giao dịch chứng khoán linh hoạt cũng làm cho các vi phạm thao túng thị trường chứng khoán có mức độ nghiêm trọng hơn với những thủ đoạn như mở nhiều tài khoản chứng khoán, tạo ra các cung cầu giả mạo nhằm thao túng giá cổ phiếu trên thị trường, gây thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Rửa tiền.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 (sau đây gọi tắt là Luật PCRT), BLHS năm 2015, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC<a href="#_ftn34" name="_ftnref34" title=""><sup><sup>[34]</sup></sup></a>, rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có. Dưới tác động của CMCN 4.0, Luật PCRT và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa bao quát được đối với một số hoạt động mới phát sinh như các hoạt động liên quan đến tài sản ảo, cung ứng dịch vụ trung gian kết nối người đi vay và người cho vay dựa trên nền tảng công nghệ... Khung pháp lý của các hoạt động này đang trong giai đoạn nghiên cứu, hoàn thiện, tuy nhiên trong trường hợp khung pháp lý về cấp phép, quản lý của các hoạt động này được ban hành thì quy định tại Luật PCRT hiện nay sẽ chưa bao quát được các hoạt động mới phát sinh này. Đây là các hoạt động có tiềm ẩn rủi ro về rửa tiền do các hoạt động này hầu hết được thực hiện trực tuyến nên các bên tham gia giao dịch có tính ẩn danh cao.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền, theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, để nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng sát với thực tiễn của đất nước và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là một trong những giải pháp được đặt ra. Việc hoàn thiện, xây dựng dự thảo Luật PCRT mới cũng đang được tiến hành để tăng cường chất lượng công tác phòng, chống rửa tiền nói riêng và phòng, chống tham nhũng nói chung.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, dưới góc độ pháp luật, những quy định pháp luật điều chỉnh các giao dịch liên quan đến tiền ảo, tài sản ảo còn thiếu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, các đối tượng tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng hầu hết đều có quy mô, tổ chức chặt chẽ, có trình độ cao về công nghệ thông tin cùng những cách thức phạm tội và che giấu khá tinh vi.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, nhiều tổ chức tài chính hiện nay mở tài khoản và thiết lập giao dịch dựa vào hạ tầng công nghệ hiện đại, không đến gặp mặt trực tiếp và các thông tin nhận dạng hết sức đơn giản, không đầy đủ theo yêu cầu của pháp luật về phòng, chống rửa tiền, tạo rủi ro, nguy cơ bị tội phạm lạm dụng để rửa tiền, tài trợ khủng bố hoặc chu chuyển các luồng tiền bất hợp pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2.4. Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực tế cho thấy cùng với sự phát triển của mạng truyền thông và các ứng dụng công nghệ thông tin, các hành vi xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng cũng đang phát triển ngày càng tinh vi và phổ biến, cụ thể tập trung ở một số hành vi cần xử lý sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Đánh bạc.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong những năm gần đây, tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc diễn ra trên mạng đã và đang gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, tác động xấu đến cuộc sống của người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, trật tự. Các vụ việc được triệt phá có quy mô ngày càng lớn và phức tạp. Các hình thức đánh bạc phổ biến hiện nay mà các đối tượng sử dụng bao gồm: Tổ chức đánh bạc tín chấp (trả tiền sau);Tổ chức đánh bạc thế chấp (trả tiền trước); Thiết lập mạng lưới các website vệ tinh; Xây dựng, phát triển mạng lưới đại lý; Sử dụng các cổng thanh toán trung gian và Lợi dụng các ứng dụng công nghệ số. Tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc nói chung và tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc diễn ra trên không gian mạng nói riêng đã gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, tác động xấu đến cuộc sống của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, trật tự. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về thực trạng pháp luật xử lý các hành vi đánh bạc, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn chưa có quy định xử lý một cách rõ ràng về tội phạm <em>đánh bạc qua mạng</em>, các trò chơi trực tuyến có tính chất cờ bạc, chơi đánh bạc qua các máy chơi game. Quá trình điều tra xử lý liên quan đến tội phạm đánh bạc và tội phạm tổ chức đánh bạc vẫn chủ yếu áp dụng theo văn bản hướng dẫn quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999, điều này đã gây ra nhiều khó khăn, bất cập vì Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP có nhiều nội dung không còn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Ngoài ra, việc áp dụng Điều 321 (tội đánh bạc) và Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) cũng gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 chưa quy định về <em>quy trình, thủ tục, cách thức thu thập chứng cứ từ dữ liệu điện tử</em> dẫn đến những vướng mắc trong quá trình xử lý, phối hợp giữa các cơ quan tố tụng. Chính vì vậy, cần xây dựng các quy định về quy trình, thủ tục, cách thức… thu thập chứng cứ từ dữ liệu điện tử cũng như quy chế phối hợp giữa các đơn vị trong việc sử dụng chứng cứ thu thập từ dữ liệu điện tử để phát huy hết hiệu quả phục vụ công tác đấu tranh với các đối tượng phạm tội trên mạng viễn thông, internet, cũng như trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Hành vi lừa đảo; mua bán, sử dụng, tàng trữ ma túy với các thủ đoạn mới</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Không chỉ với với tội phạm đánh bạc, tội phạm lừa đảo, tội phạm về ma tuý cũng lợi dụng các thành tựu của CMCN 4.0 để hoạt động với thủ đoạn vô cùng tinh vi, đặc biệt là sử dụng các phương tiện thông tin, liên lạc hiện đại khiến cho tình hình tội phạm về ma tuý diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta. Ở Việt Nam, việc sử dụng mảng ẩn mua bán trái phép chất ma tuý vẫn còn khá mới nhưng cũng bắt đầu nhen nhóm, khẳng định sẽ là xu hướng trong tương lai khi công nghệ ngày càng phát triển. Đây là nguy cơ thúc đẩy sự phát triển của tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý xuyên quốc gia, là thách thức cho các lực lượng chuyên trách trong công tác phòng chống tội phạm này, giữ gìn trật tự công cộng. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng ngày càng nhiều, Bộ luật hình sự (BLHS) đã quy định hẳn một điều luật cụ thể để định danh tội phạm sử dụng mạng máy tính, công nghệ thông tin mạng viễn thông xâm phạm quyền sở hữu của người khác tại Điều 290 BLHS. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các tội phạm xâm phạm sở hữu đã lại có thêm một phương thức, công cụ mới để thực hiện hành vi chiếm đoạt của mình đó là thông qua mạng Internet.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Có thể thấy, BLHS còn thiếu các quy định cụ thể để xử lý những thủ đoạn phạm tội mới phát sinh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu và trật tự công cộng. Mặc dù đã từng bước bổ sung, hoàn thiện nhưng so với thực tiễn đấu tranh phòng chống những loại tội này, cũng như so với các văn bản pháp luật quốc tế; thì cần tiếp tục nghiên cứu các hành vi sử dụng công nghệ thông tin thực hiện hành vi phạm tội chưa được quy định trong BLHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật và còn khoảng cách giữa quy định pháp luật với việc thực thi trong thực tế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, việc xác định dấu hiệu cấu thành tội phạm gặp nhiều khó khăn, nhất là việc xác định các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm xâm phạm quyền sở hữu cũng như xâm phạm trật tự công cộng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, còn tồn tại sự thiếu đồng bộ trong quy định về hình phạt đối với các tội danh xâm phạm về sở hữu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, cơ sở vật chất, trang thiết bị để đấu tranh đối với tội phạm mạng còn hạn chế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2.5. Thực trạng pháp luật về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông, viễn thông đã được quy định thành một mục riêng (Mục 2) tại Chương XXI. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS năm 2015 với 09 tội danh, trong đó, có 05 tội danh được kế thừa trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999. Các quy định của BLHS năm 2015 tương đối bao quát các hành vi vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin phổ biến xảy ra trong thời gian qua. Đặc biệt, việc bổ sung 04 tội danh mới vào BLHS năm 2015 nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Những hành vi phạm tội được quy định tại 04 tội danh này đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trước thực trạng lợi dụng nền tảng công nghệ số để phạm tội ngày càng phổ biến, cùng với việc quy định một số tội danh cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, BLHS năm 2015 đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “<em>sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội</em>” tại một số tội danh cụ thể, từ đó thể hiện quan điểm, chính sách hình sự nghiêm khắc đối với thủ đoạn, phương thức phạm tội này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh các nhóm tội phạm sử dụng công nghệ thông tin, mạng viễn thông để thực hiện hành vi phạm tội đã đề cập ở các phần trước, thực tiễn cho thấy phát sinh một số hành vi phạm tội khác trong lĩnh vực công nghệ, mạng viễn thông dưới tác động của CMCN 4.0 cần xử lí bao gồm<a href="#_ftn35" name="_ftnref35" title=""><sup><sup>[35]</sup></sup></a>: <em>(i) Hành vi xâm phạm tính nguyên vẹn, tính bí mật hoặc tính khả dụng của mạng máy tính, mạng viễn thông; (ii) Hành vi sử dụng công nghệ thông tin nhằm chiếm đoạt cước viễn thông; (iii) Về xử lý các hành vi xâm phạm an toàn, trật tự trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông còn gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, mặc dù đã có quy định của BLHS về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và thực tế loại tội phạm này cũng xuất hiện khá phổ biến nhưng các cơ quan có thẩm quyền lại không thể xử lý hoặc xử lý được một số lượng không nhiều do hạn chế trong quy định của BLHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống và phòng ngừa tội phạm liên quan lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông chưa được quan tâm đúng mức<a href="#_ftn36" name="_ftnref36" title=""><sup><sup>[36]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, tội phạm liên quan đến khoa học công nghệ thông tin, mạng viễn thông là kết quả tất yếu của cuộc Cách mạng công nghiệp, mang trong mình rất nhiều các tính chất mới, khác biệt lớn đối với các loại tội phạm truyền thống, đòi hỏi các nhà làm luật trước tiên cũng phải có kiến thức về công nghệ thông tin ở một mức độ nhất định để hiểu rõ hành vi, thu thập và bảo quản xử lý những chứng cứ điện tử phục vụ cho việc điều tra xử lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.2. Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tội phạm của một số quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khuyến nghị cho Việt Nam</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia về hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đề tài đã làm rõ phản ứng lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Singapore, Áo, Thụy Sĩ, Nhật Bản) và cả một số thiết chế khu vực (ASEAN, Châu Âu) trong xử lý các nhóm tội phạm sau đây: (i) Các tội phạm về xâm phạm an ninh mạng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) Các tội phạm về xâm phạm thông tin cá nhân trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (iii) Tội phạm rửa tiền trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2.2. Một số khuyến nghị đối với Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về nghiên cứu bổ sung một số tội danh mới </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở Singapore, hai tội danh “Sử dụng sai thông tin cá nhân thu được từ tội phạm máy tính” và “Lạm dụng quyền truy cập vào máy tính hoặc bất kỳ vật dụng nào có khả năng để thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sự toàn vẹn của máy tính” đã được bổ sung, và Việt Nam có thể nghiên cứu, xem xét về tính phổ biến và cấp thiết cần xử lý của hai hành vi này để tội phạm hóa và ghi nhận trong BLHS. Việc quy định một hành vi phạm tội riêng hay áp dụng trách nhiệm hình sự đối với AI, cá nhân trực tiếp sử dụng AI hiện nay là chưa cần thiết vì nó có thể làm cản trở việc phát triển công nghệ và trên thế giới chưa có quốc gia nào quy định tội phạm liên quan tới AI. Thay vào đó, tương tự như Singapore, cần tập trung hoàn thiện các quy định về tội phạm liên quan tới chương trình máy tính, trong đó có tính bao quát để có thể áp dụng linh hoạt với AI nếu như có thiệt hại xảy ra trên thực tế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Nghiên cứu mở rộng định nghĩa về tài sản</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ kinh nghiệm của các nước, có thể mở rộng định nghĩa về “tài sản” để kịp thời ứng phó với những hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Ở Singapore, các nhà làm luật đã thay đổi định nghĩa này ngay trong BLHS. Trong khi đó, theo Việt Nam hiện hành, định nghĩa tài sản chỉ được đề cập trong BLDS và định nghĩa này cũng được hiểu tương tự trong pháp luật hình sự. Điều này có ưu điểm là bảo đảm tính thống nhất của cả hệ thống pháp luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) </em><em>Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Singapore cho thấy cần nghiên cứu mở rộng phạm vi thẩm quyền tài phán của BLHS Việt Nam và tăng cường hợp tác quốc tế để kịp phòng ngừa, ứng phó với tội phạm công nghệ cao, tội phạm mạng với tính chất xuyên quốc gia trong bối cảnh hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv) </em><em>Tăng cường năng lực các cơ quan thực thi pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, song song với hoàn thiện pháp luật hình sự, cũng là một trong số các giải pháp cần thiết. Bên cạnh đó, cần được trang bị thêm các thiết bị công nghệ cao và có thêm thẩm quyền truy cập vào chương trình máy tính, dữ liệu để tìm kiếm bằng chứng buộc tội trong quá trình điều tra tội phạm, nhất là tội phạm công nghệ cao. Để phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong bối cảnh kết nối Internet toàn cầu, kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc quy định các biện pháp kiểm soát dữ liệu bằng AI do Chính phủ thiết lập đối với các nền tảng mạng xã hội toàn cầu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Xây dựng thể chế về bảo vệ thông tin cá nhân, xử lý các hành vi xâm phạm</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Kinh nghiệm các quốc gia cho thấy, các nước đều rất quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân, đồng thời, xử phạt nghiêm đối với hành vi xâm phạm thông tin cá nhân, đặc biệt là dữ liệu của người dùng trên các nền tảng mạng xã hội. Một giải pháp cần tiếp tục nghiên cứu đó là áp đặt các biện pháp để quản lý các kho lưu trữ và xử lý dữ liệu, đặc biệt của các nền tảng công nghệ mang tính chất toàn cầu như (facebook, google…) đảm bảo chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Kinh nghiệm của Trung Quốc đối với vấn đề này có thể là một gợi ý cho việc đề xuất các giải pháp cho Việt Nam.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG BA</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM TRONG BỐI CẢNH</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.1. Những yêu cầu về hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 có những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội và chuyển đổi số quốc gia đã và đang trở thành xu thế toàn cầu. Chủ trương chuyển đổi số, trọng tâm là phát triển kinh tế số đã được Đảng và Nhà nước khẳng định là một trong cách thức để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới, thể hiện trong các văn bản quan trọng như: Quyết định số 623/QĐ-TTg phê duyệt “<em>Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến 2030</em>”; Nghị quyết số 29/NQ-TW “<em>Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng</em>”; Nghị quyết số 30/NQ-TW “<em>Về Chiến lược An ninh mạng quốc gia</em>”; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư “<em>xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số</em>”. Đặc biệt, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là “<em>đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia sử dụng công nghệ ngày càng gia tăng về quy mô, tính chất nguy hiểm. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 trước hết cần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>c. </em><em>Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm</em><em> bảo đảm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự phát triển của các thành tựu của CMCN 4.0, bên cạnh những tác động tích cực thì cũng tạo ra rất nhiều những nguy cơ xâm phạm quyền con người, quyền công dân trên không gian mạng với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng và khó kiểm soát. Việc sử dụng, mua bán, trao đổi dữ liệu thông tin của cá nhân, công dân, tổ chức diễn biến hết sức nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn cuộc sống, quyền riêng tư, thậm chí là trật tự xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>d. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm đáp</em><em> ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 đã thể hiện được các quan điểm của Đảng về chính sách hình sự hướng tới xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW. Tuy nhiên, cuộc CMCN 4.0 cũng đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống kinh tế xã hội, làm nảy sinh những vấn đề mới trong công tác cải cách tư pháp nói chung và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói riêng. Chính vì vậy, hoạt động cải cách tư pháp cần được tiếp tục đẩy mạnh để thích ứng tốt hơn với điều kiện mới, đòi hỏi hoàn thiện thể chế, pháp luật theo chiều sâu, thích ứng, phù hợp và đáp ứng được những thay đổi của xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt dưới tác động của CMCN 4.0 và thực trạng pháp luật, Đề tài đề xuất các nhóm giải pháp trong các lĩnh vực chủ yếu nhằm định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam dưới tác động của CMCN 4.0 như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.1. Đối với một số vấn đề lý luận về luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về vấn đề trách nhiệm pháp lý đối với AI</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề liên quan đến AI và lý luận về tội phạm, chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh CMCN 4.0, về cơ bản lý thuyết về tội phạm không thay đổi. Trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho rằng, sự xuất hiện của AI ở các cấp độ khác nhau <em>không loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự của con người đối với mọi tội phạm do AI thực hiện.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong nhiều trường hợp, khi con người có hành vi gây nguy hiểm và có lỗi trong việc AI thực hiện tội phạm thì cá nhân đó luôn phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với những trường hợp này, lý luận về luật hình sự cũng như quy định của luật hình sự hiện hành đã <em>đủ để cho phép xử lý những người thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng AI</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở mức độ thấp hơn, cá nhân hoặc một số cá nhân đã tạo ra nguy cơ gây thiệt hại bằng việc đưa AI vào vận hành khi thiếu những biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại có thể nhìn thấy trước thì những cá nhân này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi có điều luật quy định hành vi của họ là tội phạm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nói tóm lại, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng <em>chỉ khi nào AI phát triển đến mức có những đặc điểm về nhận thức, cảm xúc, hiểu biết về đạo đức như con người thì AI mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm.</em> Ở thời điểm hiện tại và tương lại gần, AI chưa đáp ứng được những điều kiện này và không thể là chủ thể của tội phạm và do đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, lý luận về tội phạm và hình phạt cần tiếp tục được sử dụng để quy định bổ sung các tội phạm gắn với nghĩa vụ hành động của các tác nhân liên quan nhằm ngăn chặn các nguy cơ gây thiệt hại của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Nghiên cứu, bổ sung khách thể “an ninh không gian mạng” là một trong những khách thể được BLHS bảo vệ</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc bảo vệ an ninh không gian mạng có thể được thực hiện bởi các hệ thống pháp luật khác nhau, như pháp luật dân sự, pháp luật về an ninh mạng, pháp luật hành chính, nhưng để bảo vệ tốt hơn sự an ninh, an toàn trên môi trường mạng thì cần xác định “an ninh không gian mạng” chính là một trong những khách thể cần được bảo vệ của pháp luật hình sự. Do đó, khách thể “an ninh không gian mạng” cần được nghiên cứu để cụ thể hóa trong luật hình sự và được ghi nhận là một trong những khách thể quan trọng cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Về hình phạt</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng hình phạt với các mục đích truyền thống từ trước đến nay vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, trong tương lai khi có khả năng xuất hiện chủ thể của tội phạm là AI, luật hình sự cần bổ sung những hình thức hình phạt mới phù hợp với các đặc điểm mang tính máy móc của AI để thực hiện mục tiêu ngăn chặn tội phạm. Khi đó, hình phạt phải là biện pháp có khả năng chế ngự được hoạt động của AI hoặc thậm chí chấm dứt sự tồn tại của cá thể AI hoặc hệ thống AI khi hoạt động của chúng chứa đựng nguy cơ cao gây thiệt hại cho xã hội mà không thể chấp nhận những nguy cơ đó để đổi lấy những lợi ích mà AI đó đem lại cho xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, đối với nhóm các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong bối cảnh CMCN 4.0, cần nghiên cứu bổ sung các chế tài mang tính khắc phục hậu quả do các hành vi lợi dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội như: Cấm vĩnh viễn việc sử dụng trang tin điện tử; buộc gỡ bỏ chương trình, phần mềm; buộc thu hồi hoặc tiêu hủy sản phẩm, thiết bị, ngừng cung cấp dịch vụ gây hại về an ninh mạng; buộc xóa dữ liệu bị chiếm đoạt, mua bán, trao đổi trái phép; buộc xóa bỏ, cải chính thông tin có nội dung vi phạm pháp luật về an ninh mạng; buộc loại bỏ tính năng, thành phần gây hại về an ninh chương trình, sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, phần mềm; thu hồi số thuê bao, đầu số, kho số viễn thông; tài nguyên Internet, tên miền, địa chỉ Internet (IP), số hiệu mạng (ASN); mã số quản lý, số cung cấp dịch vụ; buộc hoàn trả địa chỉ IP, ASN, tên miền, tài khoản số; buộc chuyển đổi mục đích sử dụng sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, phần mềm;…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, cần đề xuất tăng mức hình phạt đối với một số tội danh do tính chất nguy hiểm cho xã hội tăng lên dưới tác động của CMCN 4.0. Việc tăng hình phạt cũng đảm bảo tương thích về mức độ với các chế tài mà các nước đang áp dụng đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv) Hoàn thiện một số vấn đề kỹ thuật trong Bộ luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, </em>nghiên cứu bổ sung thêm thay đổi “địa điểm” phạm tội; sử dụng công cụ/phương tiện là thành tựu của CMCN 4.0 trong các điều khoản của Phần chung Bộ luật Hình sự (nếu có) ví dụ như về hiệu lực của Bộ luật Hình sự, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự...;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, </em>cần rà soát các tội phạm cụ thể trong BLHS năm 2015 để xem xét về các yếu tố cấu thành tội phạm, điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, dấu hiệu “xuyên quốc gia”… để sửa đổi cho thích ứng với bối cảnh mới với sự tác động của CMCN 4.0 và toàn cầu hóa, cũng như “<em>tính có tổ chức</em>” của tội phạm, đặc biệt là các tội phạm phi truyền thống; nghiên cứu xem xét tham gia Công ước về Tội phạm mạng và quy định riêng về tội phạm mạng của Việt Nam<a href="#_ftn37" name="_ftnref37" title=""><sup><sup>[37]</sup></sup></a>, cũng như đề ra các biện pháp nhằm giới hạn ảnh hưởng của các mạng xã hội nước ngoài đối với an ninh quốc gia.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Nghiên cứu khả năng mở rộng nguồn của luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm trong bối cảnh CMCN 4.0</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong các lĩnh vực chuyên ngành được thực hiện cùng nhịp với việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành thì pháp luật hình sự sẽ luôn vận hành cùng nhịp với tiến trình vận động, phát triển của từng lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Đây cũng là yêu cầu bức thiết đối với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm thượng tôn pháp luật trong giai đoạn hiện nay theo các chủ trương của Đảng, nhất là các chủ trương về cải cách tư pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về các nhóm tội phạm cụ thể trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.1. Nhóm giải pháp đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất</em><em>,</em> cần hoàn thiện và đồng bộ chính sách pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực luật hình sự. Trong những yếu tố cấu thành không gian mạng, chính sách pháp luật là những quy định, quy tắc ứng xử điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, các quốc gia, các tổ chức quốc tế khi tham gia vào không gian mạng. Cần xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất đảm bảo cho sự hoạt động an toàn và hiệu quả của không gian mạng, mở đường cho công nghệ phát triển. Cụ thể, để có thể xử lí các hành vi tấn công mạng nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, cần có văn bản giải thích pháp luật về khái niệm cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần liệt kê đầy đủ “<em>mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin</em>” để phù hợp với thực tiễn phạm tội trên không gian mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, cần sớm sửa đổi Luật An ninh quốc gia năm 2004 và Luật Biên giới quốc gia năm 2003 để phù hợp với tình hình thực tiễn, xu hướng của thế giới và các văn bản luật khác.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, </em>cùng với hoàn thiện quy định về tội phạm, cũng cần phải hoàn thiện chế tài các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong bối cảnh tội phạm an ninh phi truyền thống trên cơ sở cân nhắc đường lối xử lý loại tội phạm này ở các quốc gia khác. Cần nghiên cứu giảm nhẹ chế tài các tội phạm này từ góc độ lập pháp hình sự theo hướng: (i) Huỷ bỏ hoặc ít nhất là hạn chế tối đã hình phạt tử hình trong chế tài đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia; (ii) Hạn chế hình phạt tù chung thân; (iii) Giảm bớt hình phạt tù có thời hạn; (iv) Hoàn thiện chế tài về các hình phạt bổ sung...</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ thông tin cá nhân</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất</em><em>,</em> cần sớm nghiên cứu, ban hành Nghị định quy định về bảo vệ thông tin cá nhân. Việc ban hành Nghị định này đang được kỳ vọng là sẽ củng cố thêm cơ sở pháp lý điều chỉnh toàn diện lĩnh vực bảo vệ thông tin cá nhân cả trên không gian mạng và không gian thực<a href="#_ftn38" name="_ftnref38" title="">[38]</a>. Trên cơ sở thực tiễn thực thi Nghị định này và sự tham khảo kinh nghiệm quốc tế (nhất là của Trung Quốc), cơ quan chức năng có thể nghiên cứu xây dựng Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, trên cơ sở kế thừa một số quy định có trong các Luật và Nghị định liên quan, quy định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác, chuyển giao thông tin cá nhân, việc chuyển thông tin cá nhân xuyên biên giới, cùng các biện pháp chế tài nghiêm khắc, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ thông tin cá nhân để xử lý nhiều bất cập trong thực tiễn bảo vệ thông tin cá nhân, góp phần duy trì niềm tin của người dân về an ninh, an toàn thông tin cá nhân khi tham gia vào nền kinh tế số<a href="#_ftn39" name="_ftnref39" title=""><sup><sup>[39]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai,</em> đối với hành vi thu thập, sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, xử lý thông tin cá nhân trái quy định của pháp luật, như đã phân tích (tại Chương Hai), cần nghiên cứu theo hướng tội phạm hóa các hành vi xâm phạm đến thông tin cá nhân, đó là: (i) hành vi thu thập (đánh cắp, mua bán, tặng cho…), sử dụng, khai thác, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân và (ii) hành vi để lộ hoặc xử lý thông tin cá nhân trái quy định của pháp luật. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh việc bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân trong BLHS năm 2015 thì cũng cần thiết phải bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đối với loại hành vi này vì đây là đối tượng có khả năng vi phạm cao nhất.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba,</em> nghiên cứu thiết kế các tội danh tương ứng để xử lý đối với những trường hợp việc thực hiện các hành vi <em>không cập nhật, sửa đổi hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân theo quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.</em> Cũng có thể đặt vấn đề tội phạm hóa và hình sự hóa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ thông tin cá nhân nhưng còn tái phạm nhiều lần.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, có thể nghiên cứu tội phạm hóa hành vi tái nhận dạng thông tin cá nhân từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh hay hình sự hóa trách nhiệm hình sự của nhà cung cấp Internet của Trung Quốc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.3. Nhóm giải pháp liên quan đến các hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, </em>quy định là tội phạm đối với <em>hành vi lập trình và sử dụng trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi phạm tội</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, </em>cần nghiên cứu <em>bổ sung dấu hiệu đối tượng tác động</em> của tội phạm là “hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh” vào cấu thành cơ bản tại khoản 1 và cấu thành tăng nặng tại khoản 3 của Điều 286 BLHS năm 2015 về tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, </em>cần nghiên cứu bổ sung các đối tượng sau vào cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 287 về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: (i) hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh; (ii) cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ tư,</em> nghiên cứu bổ sung thêm đối tượng là “những thông tin có tác hại lớn cho xã hội” vào cấu thành cơ bản của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông tại Điều 288. Đồng thời cũng cần giải thích thế nào là những thông tin có hại lớn cho xã hội, theo đó các hành vi phạm tội cho dù chưa gây ra thiệt hại, chưa gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc chưa thu được lợi bất chính, nhưng đối với “những thông tin có tác hại lớn cho xã hội” sẽ bị coi là tội phạm đã hoàn thành.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ năm,</em> bổ sung quy định để truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại về tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật theo Điều 285 BLHS năm 2015.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.4. Nhóm giải pháp liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, đối với các hành vi liên quan đến hoạt động kinh doanh tiền ảo, tiền kỹ thuật số, tài sản ảo,</em> cần nghiên cứu xây dựng quy định là tội phạm đối với hành vi phát hành, tàng trữ, cung ứng, sử dụng tiền ảo, tiền mã hóa như phương tiện thanh toán.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Điều 105 BLDS hiện hành theo hướng quy định tiền, tài sản bao gồm cả tiền ảo, tài sản ảo, nghĩa là công nhận các giao dịch tiền ảo, tài sản ảo có tồn tại. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên quy định về thanh toán bằng tiền mặt và các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam để có thêm thời gian nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại tiền ảo, tài sản ảo đối với nền kinh tế, nếu quy định làm phương tiện thanh toán. Trên cơ sở có văn bản thừa nhận chính thức tiền ảo là tài sản mới có thể có cơ sở pháp lý để xây dựng các khung pháp lý, trong đó có hệ thống pháp luật hình sự, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc rửa tiền qua tiền ảo nói chung và trong BLHS nói riêng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, </em>cần nghiên cứu, chỉnh sửa điều khoản quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân để đảm bảo không chỉ pháp nhân thương mại, mà pháp nhân nói chung, bao gồm cả các tổ chức phi lợi nhuận, phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rửa tiền.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, </em>cần xem xét khả năng cung cấp cho việc đảo ngược gánh nặng bằng chứng trong các thủ tục tố tụng liên quan đến việc tịch thu tài sản bị cáo buộc liên quan đến một số tội phạm, bao gồm rửa tiền, chẳng hạn như mô hình tịch thu của Hoa Kỳ áp dụng cho tội phạm rửa tiền. Đồng thời, cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định về chứng cứ điện tử là tiền ảo trong các quy định của BLTTHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.5. Nhóm giải pháp liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu và trật tự công cộng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, xử lý tội phạm xâm hại quyền sở hữu và trật tự công cộng trong bối cảnh CMCN 4.0, Đề tài kiến nghị một số giải pháp sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất,</em> cần nghiên cứu theo hướng nâng mức khởi điểm của tội sử dụng mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản lên tương đương hoặc hơn với mực hình phạt cho các tội phạm sở hữu ở Chương XVI của BLHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, </em>tương tự như một số đề xuất trên, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu để ghi nhận chủ thể là pháp nhân có thể thực hiện các hành vi sử dụng máy tính, công nghệ thông tin và mạng viễn thông thực hiện các hành vi phạm tội để có sự tương thích với quy định của Công ước quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, </em>đề nghị cơ quan lập pháp xem xét cân nhắc đưa tình tiết sử dụng mạng viễn thông để phạm tội như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho tất cả các tội danh; chứ không nên chỉ quy định vào một số tội danh, đảm bảo được tính hiệu quả của quy định pháp luật lâu dài. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất bổ sung vào BLTTHS các quy định có liên quan đến chứng cứ điện tử, các thủ tục tố tụng hình sự về việc thu thập, bảo quản, phục hồi và giám định chứng cứ điện tử phù hợp với đặc điểm, tính chất của tội phạm mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ tư, </em>Đề tài đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật hình sự bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Nâng cao nhận thức của cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng về pháp luật hình sự nói chung và các các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tăng cường bồi dưỡng kiến thức tội phạm học, các kiến thức chuyên sâu công nghệ thông tin cho người tiến hành tố tụng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Thường xuyên phổ biến kinh nghiệm đấu tranh các loại tội phạm sử dụng công nghệ để thực hiện hành vi phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Trang bị cho điều tra viên và kiểm sát viên phải những phương tiện thiết bị hiện đại nhất, chuyên dụng phục vụ điều tra, truy tố.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tố tụng với các tổ chức tín dụng, công ty cung cấp dịch vụ mạng bằng các quy chế phối hợp, hoặc các cơ chế làm việc nâng cao hiệu quả trong quá trình điều tra.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ năm, </em>cần nâng cao hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên biên giới đặc biệt trong hoạt động đánh bạc, mua bán ma tuý… Thông qua việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế để hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm. Hiện nay trên thế giới chỉ có Công ước Budapest năm 2001 quy định về tội phạm không gian mạng, và được rất nhiều nước tham gia. Việc gia nhập Công ước này có thể giúp hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm mạng sẽ tương thích với các quốc gia khác trên thế giới, tạo thuận lợi phòng chống tội phạm xuyên quốc gia./.</span></span></p>
<div>
<p>
</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref1" name="_ftn1" title="">[1]</a> Miller S (2017), <em>Artificial intelligence and its impact on legal technology: to boldly go where no legal department has gone before Thompson Reuters</em>; accessed to https://legal.thomsonreuters.com/en/insights/articles/ai-and-its-impact-on-legal-technology on 17/8/2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn2">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref2" name="_ftn2" title="">[2]</a> Bộ Công an (2019), Chuyên đề “Thực trạng đấu tranh với tội phạm mạng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, Kỷ yếu hội thảo Quốc gia “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”, 24/6/2019, tr. 257.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn3">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref3" name="_ftn3" title="">[3]</a> Trong khuôn khổ hỗ trợ của Đại Sứ quán Úc thông qua Aus4Skills dành cho Chương trình Thạc sĩ Pháp luật về Quyền con người Trí tuệ nhân tạo với pháp luật và quyền con người.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn4">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref4" name="_ftn4" title=""><sup><sup>[4]</sup></sup></a> Xem cụ thể hơn: Klaus Schwab (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 15.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn5">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref5" name="_ftn5" title="">[5]</a> “Có mấy loại trí tuệ nhân tạo? Ứng dụng của nó là gì?”, xem tại: <a href="https://codepou.com/blog/tri-tue-nhan-tao/co-may-loai-tri-tue-nhan-tao-ung-dung">https://codepou.com/blog/tri-tue-nhan-tao/co-may-loai-tri-tue-nhan-tao-ung-dung</a> tra cứu ngày 19/12/2021;</span></span></p>
</div>
<div id="ftn6">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref6" name="_ftn6" title="">[6]</a> Matilda Claussén-Karlsson (2017), Artificial Intelligence and the External Element of the Crime, An Analysis of the Liability Problem, Spring 2017, tr. 7-8.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn7">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref7" name="_ftn7" title="">[7]</a><strong> Quyền tự chủ của AI</strong>: Tính năng này cho thấy con người chỉ tham gia một cách hạn chế hoặc trong tương lai, có thể hoàn toàn không tham gia vào khả năng quyết định của AI. Quyền tự chủ của AI thay đổi phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của AI. Về cơ bản, cho đến nay các AI được con người tạo ra vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của con người. Vì vậy, quyền tự chủ chưa thuộc về AI mà vẫn thuộc về con người. Tuy nhiên, khi AI càng siêu việt thì quyền tự chủ càng được chuyển từ con người sang cho AI. Theo dự đoán của nhiều nhà khoa học, có thể đến một lúc con người mất quyền tự chủ đối với hoạt động của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Tính không thể đoán trước:</strong> Hành vi của AI là không thể đoán trước đối với con người, đặc biệt là khi hành vi đó không phải là kết quả của sự chỉ dẫn từ lập trình viên mà là một chiến lược tự học. Tính không thể đoán trước trong hoạt động của AI cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ hoàn thiện của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Không thể chịu trách nhiệm:</strong> Chừng nào AI còn thiếu tư cách pháp lý, chúng có thể hành xử theo cách gây thiệt hại cho xã hội mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Cho đến thời điểm này, Việt Nam cũng như các nước trên thế giới chưa thừa nhận tư cách pháp lý của AI. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc AI không phải chịu trách nhiệm về những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chúng thực hiện.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn8">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref8" name="_ftn8" title="">[8]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn9">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref9" name="_ftn9" title=""><sup><sup>[9]</sup></sup></a><sup> “</sup>Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian” (khoản 2 Điều 3 Luật An ninh mạng năm 2018).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn10">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref10" name="_ftn10" title="">[10]</a> Ngoài nhận thức mới, những vấn đề đặt ra trong pháp luật hình sự cũng kéo theo sự thay đổi của nhiều vấn đề khác như: Thủ tục tố tụng và thủ tục thi hành án hình sự, hệ thống cơ sở vật chất ra sao, hệ thống AI dự báo sai lầm nghiêm trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm… Xét riêng trong pháp luật hình sự, việc có thể dự báo hành vi phạm tội và nhận dạng người phạm tội trong tương lai, nhưng mặt trái cũng song hành với nó, như việc thay đổi dự liệu, nhận diện sai - nhận dạng từ người cảnh sát, công dân bình thường thành người phạm tội, dẫn đến việc bắt, giữ, xử lý nhầm, thậm chí có hoạt động ngăn chặn, xử lý chậm dẫn đến chết người...</span></span></p>
</div>
<div id="ftn11">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref11" name="_ftn11" title="">[11]</a> Trịnh Tiến Việt (2021), “Hình phạt áp dụng đối với thực thể trí tuệ nhân tạo (AI): Từ khoa học viễn tưởng đến viễn cảnh tương lai của Bộ luật Hình sự Việt Nam “năm nào đó””, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2021, tr. 19.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn12">
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref12" name="_ftn12" title=""><sup><sup>[12]</sup></sup></a> Về vấn đề này, có thể xem: Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, tlđd<em>,</em> tr. 297; Lê Văn Cảm (2005), <em>Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)</em>, tlđd, tr. 154 và các trang tiếp theo.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn13">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref13" name="_ftn13" title="">[13]</a> “Từ trước đến nay, các giáo trình, bài giảng, đa số các công trình nghiên cứu đều mặc nhiên quan niệm như vậy... (quan niệm nguồn của pháp luật hình sự chỉ có thể là BLHS)” (Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 294).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn14">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref14" name="_ftn14" title="">[14]</a> Luật Phòng, chống tham nhũng được ban hành năm 2005 nhưng việc sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của Luật phòng, chống tham nhũng chỉ được thực hiện trong BLHS năm 2015, tuy nhiên, chỉ sau đó 3 năm, đến năm 2018, Luật Phòng, chống tham nhũng mới đã được ban hành; Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 2006 và Luật bảo hiểm y tế được ban hành năm 2008 nhưng việc sửa đổi, bổ sung liên quan đến 2 luật này cũng chỉ được thực hiện trong BLHS năm 2015 khi đã có Luật Bảo hiểm xã hội mới (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)…</span></span></p>
</div>
<div id="ftn15">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref15" name="_ftn15" title="">[15]</a> Trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, rất nhiều tình tiết không được định lượng rõ ràng và nếu không có văn bản giải thích, hướng dẫn cụ thể thì khó áp dụng trên thực tiễn. Hiện nay, một số quy định có tính chất như vậy đã được khắc phục bởi BLHS năm 2015 khi quy định định lượng cụ thể đối với những tình tiết nói trên. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 vẫn còn một số tình tiết định tính, chưa được định lượng cụ thể như tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn” . Bên cạnh đó, một số điều luật của BLHS hiện hành không thể quy định toàn bộ hành vi mà chỉ quy định chung theo hướng: “vi phạm quy định về…”, “cố ý xâm phạm…”, “… trái pháp luật…”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn16">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref16" name="_ftn16" title="">[16]</a> Chẳng hạn, Báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, 2019 đánh giá: <em>Hệ thống pháp luật chưa thực sự đồng bộ, tính thống nhất chưa cao( ), còn cồng kềnh với nhiều hình thức VBQPPL, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, một số nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn. Tính dự báo, khả thi của hệ thống pháp luật chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Nhiều dự án luật có vòng đời ngắn. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc xem xét các điều kiện, nguồn lực thực hiện vẫn còn chung chung, không rõ ràng. Một số quy định trong các VBQPPL còn mang tính “tuyên ngôn”.</em></span></span></p>
</div>
<div id="ftn17">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref17" name="_ftn17" title="">[17]</a> Thu Hằng (2021), <em>Đấu tranh với các thủ đoạn chống phá bầu cử trên không gian mạng</em>, https://dangcongsan.vn/thoi-su/dau-tranh-voi-cac-thu-doan-chong-pha-bau-cu-tren-khong-gian-mang-581189.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn18">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref18" name="_ftn18" title="">[18]</a> Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2022 đã có 48.646 cuộc tấn công mạng với nhiều hình thức tinh vi (so với năm 2021, con số này tăng gần 20%). Trong đó, 6.641 vụ tấn công mạng gây ra sự cố vào hệ thống thông tin trong nước, tăng 35,14% so với cuối năm 2021 và tăng 37,92% so với cùng kỳ năm 2021. Trong 48.646 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống công nghệ thông tin trọng yếu nửa đầu năm 2022, tấn công khai thác lỗ hổng vẫn chiếm đa số với gần 53% tổng số cuộc tấn công; tiếp đó là tấn công dò quét mạng (15,65%), tấn công APT (14,36%); tấn công xác thực (9,39%); tấn công cài mã độc (7,58%), tấn công từ chối dịch vụ (0,47%) và các hình thức tấn công khác là 0,91%.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn19">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref19" name="_ftn19" title="">[19]</a> Bao gồm: (1) Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (Điều 21 và 22); (2) Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 38, Điều 387, 517 và 565); (3) Luật an toàn thông tin mạng năm 2015 (Khoản 15, 16 và 17 Điều 3; Khoản 5 Điều 7; Điều 16, 17, 18, 19 và 20); (4) Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; (5) Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT ngày 15/11/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông “quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước”; (6) Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; (7) Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử; (8) Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015); (9) Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn20">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref20" name="_ftn20" title="">[20]</a> Xem thêm: Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Báo cáo rà soát pháp luật đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, 2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn21">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref21" name="_ftn21" title="">[21]</a> Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Điều 16, 17, 18, 19 và 20 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn22">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref22" name="_ftn22" title="">[22]</a> Tất nhiên, cũng có thể lập luận rằng, Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 đã phần nào xử lý vấn đề này.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn23">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref23" name="_ftn23" title="">[23]</a> Chẳng hạn, thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã bao hàm cả nghĩa “thu thập…lưu trữ… chia sẻ… phát tán thông tin cá nhân”, tức là có nghĩa rộng hơn so với thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 không bao hàm nghĩa “thu thập… sử dụng thông tin cá nhân”; tổ chức, cá nhân thu thập, sử dụng thông tin cá nhân theo Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 chỉ phải thông báo cho chủ thể thông tin cá nhân “phạm vi, mục đích” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân trước khi tiến hành thu thập, trong khi đó Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đòi hỏi tổ chức, cá nhân này phải thông báo không chỉ “phạm vi, mục đích” mà cả “hình thức” và “địa điểm” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn24">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref24" name="_ftn24" title="">[24]</a> “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn25">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref25" name="_ftn25" title="">[25]</a> Khoản 4 Điều 84 của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung năm 2015) quy định hành vi “thu thập thông tin cá nhân của người tiêu dùng mà không được sự đồng ý trước của chủ thể thông tin; sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng không đúng với mục đích và phạm vi đã thông báo” chỉ bị phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng. Điều 84 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định hành vi “thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó” chỉ bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng, còn hành vi “sử dụng không đúng mục đích thông tin cá nhân đã thỏa thuận khi thu thập hoặc khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; cung cấp hoặc chia sẻ hoặc phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của chủ thông tin cá nhân; thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác” thì bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn26">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref26" name="_ftn26" title="">[26]</a> Điều 159 BLHS quy định, việc “<em>Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác</em>” có thể bị phạt tới 03 năm. Điều 288 quy định về “<em>Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông</em>” với mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù giam.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn27">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref27" name="_ftn27" title="">[27]</a> Xem thêm: Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Báo cáo rà soát pháp luật đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, 2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn28">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref28" name="_ftn28" title="">[28]</a> Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Điều 16, 17, 18, 19 và 20 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn29">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref29" name="_ftn29" title="">[29]</a> Tất nhiên, cũng có thể lập luận rằng, Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 đã phần nào xử lý vấn đề này.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn30">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref30" name="_ftn30" title="">[30]</a> Chẳng hạn, thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã bao hàm cả nghĩa “thu thập…lưu trữ… chia sẻ… phát tán thông tin cá nhân”, tức là có nghĩa rộng hơn so với thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 không bao hàm nghĩa “thu thập… sử dụng thông tin cá nhân”; tổ chức, cá nhân thu thập, sử dụng thông tin cá nhân theo Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 chỉ phải thông báo cho chủ thể thông tin cá nhân “phạm vi, mục đích” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân trước khi tiến hành thu thập, trong khi đó Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đòi hỏi tổ chức, cá nhân này phải thông báo không chỉ “phạm vi, mục đích” mà cả “hình thức” và “địa điểm” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn31">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref31" name="_ftn31" title="">[31]</a> “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn32">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref32" name="_ftn32" title="">[32]</a> Điều 159 BLHS quy định, việc “<em>Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác</em>” có thể bị phạt tới 03 năm. Điều 288 quy định về “<em>Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông</em>” với mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù giam.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn33">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref33" name="_ftn33" title="">[33]</a> Bản án số 59/2017/HSST ngày 28/9/2017 của TAND huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn34">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref34" name="_ftn34" title="">[34]</a> Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 324 của BLHS về tội rửa tiền.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn35">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref35" name="_ftn35" title=""><sup><sup>[35]</sup></sup></a> Bộ Công an (2019), <em>Thực trạng đấu tranh với tội phạm mạng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia, <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam</em>, Bộ Tư pháp, tr. 256.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn36">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref36" name="_ftn36" title="">[36]</a> Hồ Thế Hòe (2012), “Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn37">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref37" name="_ftn37" title=""><sup><sup>[37]</sup></sup></a> Công ước của Hội đồng châu Âu về tội phạm mạng (Công ước Budapest ngày 23/11/2001).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn38">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref38" name="_ftn38" title="">[38]</a> Dự kiến, Nghị định này sẽ sớm được Chính phủ ban hành sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp thuận.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn39">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref39" name="_ftn39" title="">[39]</a> Nguyễn Văn Cương (2020), “Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15, tháng 8 năm 2020, xem tại: http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210631/Thuc-trang-phap-luat-ve-bao-ve-thong-tin-ca-nhan-o-Viet-Nam-hien-nay-va-huong-hoan-thien.htm, truy cập lần cuối ngày 12/07/2022</span></span></p>
</div>
</div>
<p>
</p>
TLPhoChuNhiemDT:
TLThoiGianBaoVe:
TLThoiGianThucHien:
TLThuKyDeTai:
LTrangThaiKhaiThac:
TLChuyenNganh:
TLKhaiThacToanVan:
No
TLKieuFileDK:
TLMaSoQuanLy:
TLMucTieuPhamVi:
TLNamXuatBan:
TLNhungNguoiDongGop:
TLNoiDungChiTiet:
TLNoiDungNghienCuu:
TLNoiLuuTru:
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
TLPhuongPhapNC:
TLSoLanDoc:
2,083
TLSoLanDownload:
0
TLSoLuong:
0
TLTinhCapThiet:
TLTrangThaiXuatBan:
1
TLTuKhoa:
EnableView:
No
NoiDungToanVan:
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PHẦN MỞ ĐẦU</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1. Cơ sở nghiên cứu đề tài</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1. Cơ sở chính trị, pháp lý</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách pháp luật phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách hình sự mới đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 199/QĐ-TTg vào ngày 14/02/2017 về phê duyệt Chương trình thực hiện Kết luận số 05-KL/TW ngày 15/7/2016 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm đến năm 2020. Bộ Chính trị cũng đã ban hành Quyết định số 181-QĐ/TW ngày 04/3/2019 về việc thành lập Ban Chỉ đạo Đề án “Tổng kết Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và tiến hành xây dựng kế hoạch, chỉ đạo tiến hành khảo sát, đánh giá, tổng hợp kết quả về tình hình thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW. Trong đó, Ban Chỉ đạo có nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự nhằm khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên và pháp nhân thương mại phạm tội cũng như quy định trách nhiệm nghiêm khắc hơn đối với những người phạm tội là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật. Đặc biệt, trước sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được ban hành, trong đó đã đề ra chủ trương: “<em>Hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, Internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng</em>”. Chủ trương này đòi hỏi cần có những nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, trong đó cần hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm kịp thời xử lý các hành vi lợi dụng thành tựu khoa học công nghệ và kinh tế số ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế thị trường, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được xây dựng, ban hành cùng các văn bản liên quan đã thể chế được nhiều chính sách quan trọng về tội phạm và hình phạt nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tình hình tội phạm đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với một số đối tượng cụ thể để đáp ứng các yêu đầu đặt ra trong bối cảnh tình hình mới. Kế thừa BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận hệ thống các quy định về tội phạm và hình phạt cũng như bổ sung nhiều quy định mới, từ đó dẫn đến một số thay đổi trong nhận thức và chính sách hình sự có liên quan nhằm đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh mới. Từ những cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên, có thể thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là rất cấp thiết.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2. Cơ sở thực tiễn</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống, trong đó có pháp luật. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các thành tựu nổi bật gồm: <strong>(i) Cơ sở dữ liệu tập trung (Big data); (ii) Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI); (iii) Sandbox; (iv) Internet vạn vật; (v) Tiền mã hóa </strong>đã có những tác động tích cực to lớn lên mọi mặt của xã hội, nhưng cũng xuất hiện rất nhiều thách thức, các thế lực thù địch và tội phạm cũng lợi dụng và sử dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để chống phá, phạm tội, tạo nên những thách thức không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm. Trước những thách thức đó, vai trò của pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, phải tạo cơ sở pháp lý vững chắc, công minh khi xử lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực tiễn cho thấy những vấn đề mới phát sinh chủ yếu liên quan đến tội phạm dưới tác động của Cách mạng nghiệp lần thứ tư bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(i) Một số vấn đề lý luận mới phát sinh: </strong>Trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều giá trị cho cuộc sống loài người nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ, trong đó có nguy cơ làm phát sinh chủ thể mới của tội phạm là trí tuệ nhân tạo. Xét tính chất đa diện của nó, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - sau đây gọi tắt là AI) đã chạm đến đầy đủ các lĩnh vực pháp lý, từ lĩnh vực nhân quyền, lao động, hợp đồng, bồi thường thiệt hại, đến lĩnh vực tố tụng mặc dù trong thực tế, AI mới chỉ bắt đầu trở nên phổ biến trong ngành công nghiệp pháp lý<a href="#_ftn1" name="_ftnref1" title=""><sup><sup>[1]</sup></sup></a>. Bên cạnh đó, một số yếu tố cấu thành tội phạm như hành vi khách quan cũng phát sinh vấn đề mới như dùng phương tiện, thủ đoạn mới do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(ii) Một số vấn đề mới về tội phạm hóa: </strong>Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm. Khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm phụ thuộc đáng kể vào việc đánh giá đúng đắn và xác định càng chính xác, càng cụ thể càng tốt những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì thế đòi hỏi phải phân hoá cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Với diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm cùng với sự xuất hiện của không ít hành vi phạm tội mới chưa được điều chỉnh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhu cầu tội phạm hóa và phi tội phạm hóa đối với một số tội phạm sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là rất cần thiết.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(iii) Hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng: </strong>Trong bối cảnh bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên mọi lĩnh vực của đời sống, Internet đóng vai trò rất lớn. Việt Nam cũng không tránh khỏi việc trở thành “nạn nhân” của nhiều vụ tấn công trên không gian mạng, gây ảnh hưởng đến an ninh mạng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Các cuộc tấn công mạng có quy mô, mức độ ngày càng tinh vi với mục tiêu nhằm vào những thông tin quan trọng, tuyệt mật của quốc gia. Đáng chú ý, lợi dụng tâm lý bức xúc của người dân với việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội như ô nhiễm môi trường, thu hồi đất đai, thu phí tại các trạm BOT giao thông... các đối tượng phản động, chống đối đã triệt để sử dụng không gian mạng tuyên truyền, kích động tụ tập đông người, biểu tình, gây rối an ninh trật tự, làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nhiều vấn đề xã hội khác<a href="#_ftn2" name="_ftnref2" title=""><sup><sup>[2]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(iv) Hành vi xâm phạm quyền riêng tư của con người:</strong> Trong bối cảnh Internet vạn vật và cơ sở dữ liệu tập trung (Big data) đang ngày càng phát triển, một khi làm chủ được dữ liệu lớn thì sẽ có cơ hội thành công lớn hơn trong bối cảnh cạnh tranh, thế giới sẽ được hưởng lợi hơn từ việc trích xuất thông tin một cách chính xác hơn, hữu ích hơn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, vấn đề quyền riêng tư của người dùng có nguy cơ rất cao bị xâm phạm. Việc thu thập Big data có thể sẽ đi kèm thông tin khả năng định dạng người dùng mà không được sự đồng ý của họ và điều đó vi phạm pháp luật ở một số quốc gia. Theo đó, tội phạm sẽ lợi dụng thu thập các thông tin về quyền riêng tư để thực hiện hành vi phạm tội, nếu không được ngăn chặn và có biện pháp bảo mật, những hành vi đó sẽ gây ra những hậu quả nhất định đe đọa an ninh, trật tự. Ngoài ra, hoạt động tấn công, xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu, website của các cơ quan, doanh nghiệp để thu thập dữ liệu, tống tiền cũng có xu hướng gia tăng. Tin tặc sử dụng các loại virus, phần mềm gián điệp, mã độc ngày càng được mã hóa tinh vi, phức tạp phát tán qua thư điện tử, website khiêu dâm, diễn đàn, mạng xã hội, ứng dụng trên các điện thoại thông minh để xâm nhập trộm cắp dữ liệu, phá hoại của các cá nhân, doanh nghiệp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(v) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu:</strong> Pháp luật hình sự hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về xử lý hình sự đối với hành vi mua, trữ, cung ứng, giao dịch các loại tiền ảo như một loại hàng hoá hay tài sản. Do đó, việc xử lý hành vi xâm phạm về sở hữu (như chiếm đoạt tài sản) liên quan đến tiền mã hóa hiện nay chưa có khung pháp lý đầy đủ để áp dụng trên thực tiễn và các tranh chấp phát sinh trên thực tiễn chưa có cơ chế giải quyết. Bên cạnh đó, thực tiễn khung pháp lý quy định xử lý hình sự đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua môi trường thương mại điện tử nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần hoàn thiện (như trường hợp lợi dụng môi trường Internet để lừa đảo bằng cách đăng sản phẩm kém chất lượng nhưng lại bán với giá của sản phẩm chất lượng cao, hoặc kinh doanh sàn vàng trái phép,…), đồng thời tránh thất thu thuế với khoản lợi nhuận phát sinh. Ngoài ra, hoạt động lợi dụng không gian mạng kinh doanh đa cấp để lừa đảo cũng diễn ra phổ biến trên cả nước, nhất là các tỉnh vùng sâu, vùng xa, nơi trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt tâm lý muốn “giàu nhanh nhưng dễ dàng”. Lợi dụng lòng tham, chúng đã lôi kéo được nhiều khách hàng tham gia đầu tư, hứa trả lợi nhuận, hoa hồng lớn gấp nhiều lần so với các khoản đầu tư ban đầu. Một số đối tượng còn giả danh từ thiện, nhân đạo, xóa đói giảm nghèo để lừa đảo. Một vấn đề khác nữa phát sinh đó là hoạt động đánh bạc và tổ chức đánh bạc qua mạng có quy mô ngày càng lớn, hình thành nhiều đường dây xuyên quốc gia. Các đối tượng trong nước câu kết với các đối tượng nước ngoài xây dựng mạng lưới hoạt động đánh bạc quy mô lớn, rộng khắp các tỉnh, thành phố, tổ chức thành nhiều tầng, nấc rất chặt chẽ, số lượng con bạc lên đến hàng trăm nghìn người với số tiền đánh bạc ước tính hàng triệu đô la Mỹ mỗi ngày; số tiền chuyển ra nước ngoài lên đến hàng nghìn tỷ đồng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>(vi) Các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng:</strong> Một trong các loại tiền mã hóa là Bitcoin đang trở nên nguy hiểm vì với chế độ ẩn danh, các đối tượng có thể sử dụng Bitcoin để rửa tiền hay tài trợ khủng bố (chuyển tiền cho bọn khủng bố dễ dàng hơn). Tiền “ảo” Bitcoin còn có thể trở thành phương tiện để rửa tiền.. Tình trạng các nhóm đối tượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, làm và sử dụng thẻ tín dụng giả móc nối với đối tượng người Việt Nam thực hiện các thanh toán khống, chiếm hưởng trái phép có xu hướng gia tăng. Nguy hiểm hơn, ngày càng phổ biến tình trạng các đối tượng sử dụng đồng bộ nhiều loại thiết bị, tiến hành thực hiện đầy đủ các công đoạn làm thẻ giả và tiến hành giao dịch; hoặc sử dụng các thiết bị chuyên dụng skimming nhỏ, mỏng gắn vào phía trong của khe cắm thẻ tại các máy ATM để trộm cắp dữ liệu thông tin thẻ sau đó làm giả thẻ để rút tiền chiếm hưởng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhìn chung, những vấn đề nêu trên phát sinh đều do tác động của những thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, do đó, rất cần có những nghiên cứu nhận diện, dự báo giúp cho việc đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, mặc dù được sửa đổi, bổ sung khá toàn diện tại các quy định phần chung, phần các tội phạm cụ thể, tuy nhiên, các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi ban hành chưa dự liệu hết những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chính sách, pháp luật hình sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với những lý do trên, việc thực hiện Đề tài: “<strong>Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh </strong><strong>C</strong><strong>ách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong>” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>2. Mục tiêu nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1. Mục tiêu tổng quát</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.2. Mục tiêu cụ thể</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Làm rõ một số vấn đề lý luận mới về tội phạm và hình phạt dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Đánh giá thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phòng, chống tội phạm và xử lý vấn đề mới phát sinh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) Đánh giá kinh nghiệm quốc tế về hoàn thiện pháp luật hình sự trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó rút ra những bài học có thể tham khảo cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) Đề xuất, kiến nghị các giải pháp có hiệu quả nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>3. Tổng quan tình hình nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.1. Tình hình nghiên cứu tài liệu trong nước</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng. Các nghiên cứu chủ yếu trong nước bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về các vấn đề lý luận đặt ra trong pháp luật hình sự Việt Nam</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các vấn đề lý luận đặt ra trong pháp luật hình sự Việt Nam được nghiên cứu trong các công trình sau: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), <em>Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn</em>, NXB. Tư pháp, Hà Nội; GS.TSKH. Lê Cảm (2005), <em>Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự - Phần chung </em>của NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội; GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2008), <em>Tội phạm và cấu thành tội phạm</em>, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội. Các công trình đã nghiên cứu, phân tích các vấn đề cơ bản về Luật hình sự thông qua nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về các tội phạm cụ thể theo pháp luật hình sự Việt Nam</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm cụ thể được đề cập đến trong các giáo trình Luật Hình sự và sách bình luận khoa học BLHS sau: <em>Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Tập 1</em>, Trường Đại học Luật Hà Nội do GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên, NXB. CAND, năm 2014; <em>Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam</em>, Phần các tội phạm, Tổng cục XDLL Bộ Công an, NXB. CAND, năm 2011; <em>Giáo trình Luật Hình sự (Phần các tội phạm)</em>, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa luật, NXB. Đại học Quốc gia, 2007; <em>Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Quyển 2</em>, Phạm Văn Beo, NXB. Chính trị quốc gia, năm 2010; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm cụ thể)</em>, Trần Văn Luyện và các tác giả khác, NXB. CAND, năm 2010; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - Phần các tội phạm</em> của PGS.TS Phùng Thế Vắc, NXB. CAND, năm 2007; Sách <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần chung</em> và <em>Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần các tội phạm</em> của GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa; Sách <em>Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin</em> của TS. Phạm Văn Lợi, NXB. Tư pháp, 2007. Các công trình trên đã làm rõ được khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội phạm cụ thể.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật nói chung trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bộ Tư pháp (2019), “<em>Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”</em>, Kỷ yếu hội thảo Quốc gia, 24/6/2019, Khách sạn JW Marriott Hanoi. Với 29 chuyên đề nghiên cứu, kỷ yếu đã nhận diện khá hoàn chỉnh về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, từ đó làm rõ những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, pháp luật về doanh nghiệp, ngân hàng, khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm, bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ ngân hàng, quan hệ lao động, an sinh xã hội, thuế, chính phủ điện tử, đô thị thông minh, an toàn thông tin mạng, chính sách, pháp luật hình sự, đấu tranh tội phạm mạng, chứng cứ, giải quyết tranh chấp trực tuyến….</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Phan Chí Hiếu, TS. Nguyễn Văn Cương (2019), “<em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra”</em> (Sách chuyên khảo), NXB. Tư pháp, Hà Nội. Với kết cấu ba chương, cuốn sách đã làm rõ được các vấn đề chính sau: (1) Tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và mối quan hệ với pháp luật, trong đó đã là rõ được tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với 08 lĩnh vực chính; những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội và quản trị quốc gia; làm rõ được sự phát triển lịch sử của cuộc Cách mạng công nghiệp; làm rõ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tư duy xây dựng, thực thi pháp luật; một số kinh nghiệm quốc tế về thay đổi chính sách, pháp luật thích ứng với cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với một số lĩnh vực pháp luật, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, mô hình kinh tế chia sẻ, hoạt động ngân hàng, lao động việc làm, an sinh xã hội, thuế và quản lý thuế, xây dựng và vận hành chính phủ điện tử và đô thị thông minh, tội phạm mạng, chứng cứ điện tử và tố tụng tòa án; (3) Định hướng hoàn thiện một số lĩnh vực pháp luật đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó đã đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật dân sự kinh tế, pháp luật về chính phủ điện tử và đô thị thông minh, về tố tụng và hệ thống tư pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS.TS. Ngô Huy Cương (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam</em>, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Với kết cấu 05 chương, 27 bài viết, cuốn sách đã làm rõ được 05 vấn đề lớn sau: (1) Tổng quan về những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành; (3) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật bảo đảm quyền con người và (4) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với quản trị quốc gia và (5) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với việc cải cách đào tạo luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh, PGS.TS. Vũ Công Giao, TS. Mai Văn Thắng (2019)<a href="#_ftn3" name="_ftnref3" title=""><sup><sup>[3]</sup></sup></a>, <em>Trí tuệ nhân tạo với pháp luật và quyền con người, </em>NXB. Tư pháp, Hà Nội, trong cuốn sách, tác giả tiếp tục nhận diện rõ hơn những tác động của trí tuệ nhân tạo và những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực pháp luật (bao gồm cả pháp luật hình sự) và quyền con người. Công trình đã cung cấp những quan niệm, tri thức cơ bản về trí tuệ nhân tạo, góp phần nhận diện rõ hơn cơ hội, thách thức, những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết trong lĩnh vực pháp luật và quyền con người trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển và phổ biến trong đời sống xã hội. Nội dung cuốn sách cũng cung cấp thêm những ý kiến tư vấn cho các cơ quan nhà nước, nhà hoạch định chính sách nhằm tận dụng thành công những tiện ích, lợi thế mà trí tuệ nhân tạo đem lại và ứng phó tốt hơn, phù hợp hơn với những thách thức phi truyền thống trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Chu Thị Hoa (2019), <em>Kinh tế chia sẻ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và một số yêu cầu về xây dựng pháp luật ở Việt Nam</em>, Tạp chí Nghề Luật, Số 7/2019. Bài viết, nêu quan niệm về kinh tế chia sẻ, dẫn chứng một số doanh nghiệp kinh doanh dựa trên mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam, phân tích những vấn đề đặt ra trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật thúc đẩy sự phát triển mô hình kinh tế này ở Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Cao Anh Dũng (2019), “<em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia Việt Nam trong tình hình mới</em>”, Tạp chí Cộng sản số 4/2019. Bài viết đã phân tích tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư lên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt là những tác động đến an ninh quốc gia, đồng thời đưa ra giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia Việt Nam trong tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nguyễn Thị Thanh Nga (2019), <em>Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với vấn đề bảo đảm quyền con người</em>, Tạp chí Quản lý nhà nước, Số 8/2019, bài viết đã đề cập đến những tác động tích cực và thách thức của Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với vấn đề bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đề xuất giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả hơn quyền con người.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nguyễn Thanh Tuấn (2018), <em>Thách thức đối với an ninh con người và an ninh quốc gia trong cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Tạp chí Quản lý nhà nước 8/2018, bài viết nêu và phân tích bảo đảm an ninh con người và an ninh quốc gia ở Việt Nam là bảo đảm trật tự, an toàn xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, đặc biệt trước những bất an xã hội do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở thúc đẩy Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, liên quan đến vấn đề này cũng có một số bài viết trực tuyến tại các đường dẫn được tham khảo sau đây: http://vnu.edu.vn/ttsk/, Nguyễn Đình Đức, <em>Nhật Bản bắt đầu xây dựng xã hội 5.0</em>; http://daibieunhandan.vn/, Thái Anh, <em>Luật cho trí tuệ nhân tạo;</em> https://hatgiongtamhon.vn/, Vũ Thị Hương, <em>Trung Quốc dùng trí tuệ nhân tạo để quản lý nhà tù</em>; https://www.pavietnam.vn/, TTCN, <em>Phòng, chống tội phạm hữu hiệu nhờ công nghệ</em>; https://www.24h.com.vn/, Trà My, <em>Tác hại khôn lường của rô-bốt tình dục</em>; http://vi.sblaw.vn/, VnReview, <em>Trí tuệ nhân tạo đánh bại 20 luật sư hàng đầu nước Mỹ</em>; https://phapluatvacmcn4.vn/, <em>Kế hoạch ứng phó cuộc </em><em>C</em><em>ách mạng Công nghiệp lần thứ tư của Hàn Quốc</em>; https://tapchimattran.vn/, Anh Tuấn, <em>Áp dụng trí tuệ nhân tạo trong phòng, chống tham nhũng toàn cầu</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam các thời kỳ và trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">GS.TSKH. Lê Cảm (Chủ biên) (2020), <em>Pháp luật hình sự Việt Nam từ thế kỷ X đến nay - Lịch sử và thực tại </em>(Sách chuyên khảo), NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là công trình tiêu biểu đã nghiên cứu phân tích, luận giải quá trình lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự thực định Việt Nam trong suốt hơn 10 thập kỷ qua, gồm những vấn đề lý luận cơ bản về hành vi vi phạm pháp luật, về các dấu hiệu của chủ thể của quan hệ pháp luật, về chính sách hình sự liên quan đến vấn đề tội phạm và hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thiếu tướng, GS.TS. Nguyễn Minh Đức (2019), <em>Phòng, chống tội phạm trong bối cảnh </em><em>C</em><em>ách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam</em>, Sách chuyên khảo Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với cải cách pháp luật Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia. Bài viết đã khái quát được nhận thức chung về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ một số lĩnh vực cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nguy cơ mà tội phạm có thể lợi dụng hoạt động phạm tội (cơ sở dữ liệu tập trung (Big data), trí tuệ nhân tạo (AI), đô thị thông minh (Smart cities), các kinh tế chia sẻ (shared economies), internet kết nối vạn vật (IoT), tiền ảo…), từ đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">TS. Nguyễn Việt Lâm (2019), <em>Chính sách an ninh mạng trong quan hệ quốc tế hiện nay và đối sách của Việt Nam</em> (Sách tham khảo), NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Với kết cấu 03 chương, cuốn sách đã làm rõ các vấn đề sau: (i) An ninh mạng và thực trạng, trong đó có đề cập đến vấn đề an ninh mạng trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (ii) Chính sách an ninh mạng và tình hình hợp tác về an ninh mạng của một số quốc gia trên thế giới và (iii) Kiến nghị đề xuất chính sách về an ninh mạng cho Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (Chủ biên) (2019), <em>Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống</em>, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận về an ninh phi truyền thống; thách thức, yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hình sự; quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam nhằm ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống; đồng thời đánh giá, phân tích thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật hình sự hiện hành đối với các tội phạm phi truyền thống và đề xuất các giải pháp kiến nghị nhằm bảo đảm thực thi, hoàn thiện các quy định này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (2019), “<em>Chính sách hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư</em>”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 7/2019. Tác giả đã xây dựng bài viết với kết cấu gồm 03 nội dung lớn: (1) Khái niệm, đặc điểm của chính sách hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (2) Những tác động tích cực, một số thách thức đặt ra đối với chính sách hình sự Việt Nam và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; (3) Những định hướng lớn trong chính sách hình sự Việt Nam cần triển khai nghiên cứu trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bài viết thể hiện góc nhìn tổng thể và toàn diện về nguy cơ, thách thức trong việc hoàn thiện chính sách hình sự Việt Nam trước những phát sinh từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Bên cạnh đó, liên quan đến chính sách hình sự trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác giả - PGS.TS. Trịnh Tiến Việt cũng có bài nghiên cứu trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam mang tên “<em>Chính sách, pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)”</em>. Bài viết đã cập nhật, làm rõ nhận thức khoa học về chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặc điểm của chính sách hình sự trong giai đoạn này; đồng thời phân tích, đưa ra những ảnh hưởng tích cực, các thách thức Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra đối với chính sách hình sự và việc xây dựng, áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam để từ đó đưa ra định hướng cần hoạch định nhằm triển khai nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta trước thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (2019), <em>Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý trong pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp 4.0</em> (Kỳ 1, Kỳ 2 và hết), Tạp chí Khoa học Kiểm sát số 5/2019, Hà Nội. Bài viết đã đề cập đến vấn đề tiếp tục đổi mới tư duy pháp lí trong pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức Cách mạng công nghiệp 4.0: khái niệm trách nhiệm hình sự, cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự...</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Lê Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thị Thùy Linh (2018), <em>Tội phạm mạng trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2018. Bài viết đã khái niệm và các thuộc tính của tội phạm sử dụng công nghệ cao; nhận thức về tội phạm mạng sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa tội phạm công nghệ cao trong thời đại công nghệ 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở cấp độ bài viết trên các báo, tạp chí, đầu tiên phải kể đến bài viết: (1) GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2007), “<em>Sự phát triển trong 20 năm đổi mới luật hình sự Việt Nam</em>”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Luật học số 01/2007, bài viết đã khái quát sự phát triển của luật hình sự trong giai đoạn trước BLHS năm 1999 và những đổi mới trong BLHS năm 1999 cũng như định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta; (2) PGS.TS Hà Hùng Cường, (2016), “<em>Bộ luật hình sự năm 2015 - bước phát triển quan trọng trong chính sách hình sự của Nhà nước ta</em>”, Báo nhân dân điện tử ngày 16/02/2016, theo đó làm rõ những điểm mới trong các quy định của BLHS năm 2015 so với các Bộ luật trước đó và đưa ra khái quát kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật mới của Bộ Tư pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2. Tình hình nghiên cứu tài liệu nước ngoài</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhóm tài liệu nước ngoài về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động, ảnh hưởng đối với các lĩnh vực và yêu cầu hoàn thiện pháp luật có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bộ Ngoại giao (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, Klaus Schwab; Bộ Ngoại giao dịch, hiệu đính, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội. Cuốn sách giới thiệu khái quát về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các công nghệ cốt lõi mang tính chuyển đổi, đồng thời nghiên cứu những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một số thách thức về các khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật… được đặt ra, từ đó đề xuất giải pháp để thích nghi, định hình và khai thác hiệu quả tiềm năng của cuộc chuyển đổi này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Klaus Schawab (2018), <em>Shaping the Fourth Industrial Revolution,</em> xuất bản năm 2018, Portfolio Penguin phân tích cả ba cuộc Cách mạng công nghiệp: cuộc Cách mạng về sản xuất cơ khí vào những năm cuối thế kỷ XVIII, cuộc Cách mạng về sản xuất hàng loạt vào cuối thế kỷ XIX, và cuộc Cách mạng số hoá vào những năm 1960. Qua nội dung cuốn sách, các cuộc Cách mạng công nghiệp đều là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên của xã hội loài người, (nhất là trước áp lực cạnh tranh thị trường và sự nhận diện ngày càng rõ hơn giới hạn của nguồn lực sẵn có trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người) nhưng đều gắn với những bước phát triển mang tính đột phá về nền tảng công nghệ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Yadong Cui (2020), <em>Artificial Intelligence and Judicial Modernization,</em> Shanghai, China: Springer (2020) (Yadong Cui, <em>Trí tuệ nhân tạo và hiện đại hóa tư pháp,</em> Thượng Hải, 2020). Ngoài việc giải thích bản chất và tính năng của trí tuệ nhân tạo, chiến lược quốc gia của Trung Quốc và Hoa Kỳ về trí tuệ nhân tạo, tác giả đã phân tích khả năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xét xử. Tác giả cũng phân tích thực tiễn ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xét xử tại Trung Quốc (nhất là ứng dụng tại Tòa án ở Thượng Hải - với tư cách là hoạt động mang tính thí điểm - được gọi tắt là “Hệ thống 206” - “206 System”). Tác giả cũng cho rằng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo sẽ là một trong những điểm nhấn của việc hiện đại hóa hệ thống xét xử của Trung Quốc trong tương lai.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Klaus Schwab (2016), <em>The fourth industrial revolution: </em><em>W</em><em>hat it means, how to respond, </em>World Economic Forum Geneva, (Klaus Schwab, Cách mạng công nghiệp 4.0: Là gì? Ứng phó như thế nào?, Diễn đàn Kinh tế thế giới Geneva, 2016); Enrique Schaerer et al: <em>Robots as Animals: A Framework for Liability and Responsibility in Human - Robot Interactions</em>; The 18<sup>th</sup> IEEE International Symposium on Robot and Human Interactive Communication Toyama, Japan, Sept. 270-Oct.2, 2009 (Enrique Schaerer et al: Rô-bốt như động vật: Khung pháp lý về trách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với các tương tác của Robot; Hội thảo quốc tế lần thứ 18 về Tương tác giữa người và Rô-bốt, 2009); và bài viết của Stephanie Weber, “<em>How artificial intelligence is transforming the criminal justice system”; </em>Thought Works Blog (2020) (Stephanie Weber, “<em>Trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi hệ thống tư pháp hình sự như thế nào”, </em>Blog Thought Works, 2020); Matilda Claussén-Karlsson, <em>Artificial Intelligence and the External Element of the Crime: An Analysis of the Liability Problem</em>, JU101A, Final Thesis for the Law Program, Second Cycle, 30 Credits, Spring 2017 (Matilda Claussén-Karlsson, <em>Trí tuệ nhân tạo và yếu tố cấu thành tội phạm: Phân tích vấn đề trách nhiệm pháp lý</em>, JU101A, Luận án tốt nghiệp chương trình luật, Vòng II, 2017); Ikuo MISUMI (2021), The Background of the development of Japan's Cybersecurity Strategies (Tạm dịch: Bối cảnh phát triển của chiến lược an ninh mạng của Nhật Bản), Volume 34 Issue 3; Mori, Shigeo & Goto, Atsuhiro (2018), <em>Reviewing National Cybersecurity Strategies</em> (Tạm dịch: Rà soát chiến lược an ninh mạng quốc gia của Nhật Bản), Journal of Disaster Research.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhìn chung, các nghiên cứu trên đều làm rõ khái niệm và các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với không chỉ riêng lĩnh vực hình sự mà đối với mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội tại các quốc gia. Từ đó, các tác giả cũng đưa ra các định hướng thay đổi phù hợp với mỗi lĩnh vực, bao gồm cả các thay đổi trong hệ thống tư pháp hình sự (như nghiên cứu của Stephanie) và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, cuốn sách chuyên khảo <em>New Technology, Big Data and the Law</em> (Công nghệ mới, dữ liệu lớn và pháp luật) do Marcelo Corrales, Mark Fenwick, và Nikolaus Forgó đồng chủ biên cũng là một công trình bước đầu làm rõ một số khía cạnh pháp lý về dữ liệu lớn, việc sử dụng công nghệ điện toán đám mây (clouding), Internet vạn vật ở châu Âu, việc thu thập và xử lý chứng cứ điện tử tại Đức. Tương tự, cuốn sách <em>Robotics, AI and the Future of Law</em> (Robot, Trí tuệ nhân tạo và Tương lai pháp luật) do Marcelo Corrales, Mark Fenwick, và Nikolaus Forgó đồng chủ biên nghiên cứu về một trong những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là trí tuệ nhân tạo cũng đã tập trung thảo luận về tư cách pháp lý của người máy và các phần mềm trí tuệ nhân tạo, các quy tắc điều chỉnh các thiết bị bay không người lái, và vấn đề ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Một số vấn đề cụ thể như xử lý chứng cứ điện tử hay liên quan đến tiền mã hóa cũng được phân tích trong các công trình: Maria Angela Biasiotti, Jeanne Pia Mifsud Bonnici, Joe Cannataci, và Fabrizio Turchi đồng chủ biên, <em>Handling and Exchanging Electronic Evidence Across Europe, </em>Switzerland: Springer (2018); (Maria Angela Biasiotti, Jeanne Pia Mifsud Bonnici, Joe Cannataci, và Fabrizio Turchi: <em>Xử lý và trao đổi chứng cứ điện tử ở Châu Âu</em>, 2018); và Rosario Girasa, <em>Regulation of Cryptocurrencies and Blockchain Technologies: National and International Perspectives, </em>Switzerland: Springer, (2018) (Rosario Girasa, <em>Điều chỉnh tiền mã hóa và công nghệ chuỗi khối: góc nhìn quốc gia và quốc tế</em>, Thụy Sỹ, 2018). Trong công trình thứ nhất, các tác giả đã nhận diện các loại chứng cứ điện tử liên quan tới hành vi, giao dịch của cá nhân, tổ chức qua môi trường mạng Internet, mạng xã hội. Các tác giả cũng phân tích thực trạng pháp luật về chứng cứ điện tử của Liên minh châu Âu và một số quốc gia ở châu Âu, phân tích thực trạng trao đổi chứng cứ điện tử qua biên giới của các quốc gia châu Âu và các khía cạnh pháp lý phát sinh cần giải quyết. Trong công trình thứ hai, tác giả trình bày được thực tiễn điều chỉnh tiền mã hóa (tiền kỹ thuật số) ở một số quốc gia trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước thuộc Châu Âu... chỉ rõ thái độ rất khác nhau của các quốc gia trong việc thiết kế chính sách liên quan tới việc chấp nhận hay không chấp nhận việc lưu hành và sử dụng tiền mã hóa.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Một số nhận xét:</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về pháp luật hình sự trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm mục đích nhận diện, làm rõ thực trạng nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó làm rõ những vấn đề liên quan đã được nghiên cứu; những vấn đề chưa được nghiên cứu, cần được tiếp tục nghiên cứu sâu. Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, việc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu vô cùng cấp thiết đặt ra nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung trước yêu cầu đổi mới toàn diện do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp này, đồng thời đưa ra những giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, chủ yếu dưới dạng sách chuyên khảo, Kỷ yếu hội thảo, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật, báo điện tử, cụ thể các công trình đã làm rõ các vấn đề lớn sau: (i) Làm rõ được tổng quan về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các trụ cột chính; những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia; làm rõ được sự phát triển lịch sử của các cuộc Cách mạng công nghiệp; (ii) Làm rõ được tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với một số lĩnh vực pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, như: lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hợp đồng điện tử, mô hình kinh tế chia sẻ, hoạt động ngân hàng, lao động việc làm, an sinh xã hội, thuế và quản lý thuế, xây dựng và vận hành chính phủ điện tử và đô thị thông minh, tội phạm mạng, chứng cứ điện tử và tố tụng tòa án, quyền con người…; (iii) Đã đưa ra được những định hướng hoàn thiện một số lĩnh vực pháp luật đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây là nguồn tài liệu rất quan trọng, đề tài kế thừa trong quá trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, mặc dù đã có một số công trình đã cập đến hoàn thiện nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ một số lĩnh vực cơ bản của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nguy cơ mà tội phạm có thể lợi dụng hoạt động phạm tội (cơ sở dữ liệu tập trung (Bigdata), trí tuệ nhân tạo (AI), đô thị thông minh (Smart cities), các kinh tế chia sẻ (shared economies), internet kết nối vạn vật (IoT), tiền ảo…), từ đó, đưa ra một số khuyến nghị chung về phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay mà chưa đi sâu vào nghiên cứu, làm rõ các vấn đề cốt lõi về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật hình sự. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về chính sách hình sự nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thường chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hình sự hiện hành mà chưa tham khảo nhận thức, lý luận từ các quốc gia khác đã có kinh nghiệm, vì vậy kết quả nghiên cứu phụ thuộc lớn vào chất lượng của các quy phạm pháp luật hình sự và nhiều vấn đề về tội phạm và hình phạt chưa phù hợp hoặc mới phát sinh chưa được đặt ra hoặc đã được đặt ra nghiên cứu, nhưng chưa phản ánh một cách đầy đủ, sâu sắc về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn, do đó, cũng chưa đưa ra được hệ thống các giải pháp toàn diện hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, về hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, còn nhiều vấn đề cốt lõi chưa được các tài liệu, công trình nghiên cứu hiện nay làm rõ, cần tiếp tục nghiên cứu mà Ban Chủ nhiệm muốn hướng tới trong việc triển khai đề tài này, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i). Nhận diện những khía cạnh lý luận về các loại tội phạm mới, vấn đề mới liên quan đến tội phạm phát sinh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii). Thực trạng điều chỉnh bằng pháp luật hình sự đối với các loại tội phạm mới hoặc xử lý những vấn đề mới liên quan đến tội phạm phát sinh trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii). Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự để phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv). Yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>4. Kết cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài có kết cấu gồm ba chương:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 1: Nhận diện một số vấn đề lý luận về luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 2: Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam và kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của một số quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</span></span></p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG MỘT</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">NHẬN DIỆN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.1. Khái quát về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động đối với hệ thống pháp luật</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.1. Về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc Cách mạng công nghiệp đang diễn ra và được nhắc đến thường xuyên là “<em>Cuộc CMCN lần thứ tư</em>” (sau đây gọi tắt là CMCN 4.0). Vào năm 2011, tại Hội chợ triển lãm công nghệ tại Hannover Đức, thuật ngữ “CMCN 4.0” (The Fourth Industrial Revolution) mới được đề cập trực tiếp và sau đó lan tỏa nhanh chóng trên toàn thế giới. CMCN 4.0 đã và đang tạo ra sự thay đổi chưa từng thấy trong cuộc sống của con người trên toàn thế giới. Cuộc cách mạng này đánh dấu sự ra đời của một loạt các công nghệ mới, kết hợp tất cả các kiến thức trong lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số, sinh học và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp. Trung tâm cuộc Cách mạng này đang nổi lên những thành tựu công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau như<a href="https://www.itgvietnam.com/tri-tue-nhan-tao-la-gi-ai-thay-doi-tuong-lai-cua-loai-nguoi-ra-sao/"> trí tuệ nhân tạo (AI)</a>, một rô-bốt, <a href="https://www.itgvietnam.com/iot-se-lam-thay-doi-co-ban-the-gioi-nhu-the-nao-trong-nam-2020/">Internet vạn vật (IoT)</a>, công nghệ sinh học, xe tự lái, công nghệ in 3D, và công nghệ nano…; trong đó, những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số sẽ là: Trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối - Internet of Things (IoT) và dữ liệu lớn (Big Data)<a href="#_ftn4" name="_ftnref4" title=""><sup><sup>[4]</sup></sup></a> và gây ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 có sự thay đổi mang tính hệ thống và sâu sắc chưa từng có trong lịch sử với nhiều xu hướng lớn, có quy mô và phạm vi toàn cầu với sự thay đổi các tầm vóc lớn lao về nhiều phương diện, lĩnh vực có sự dịch chuyển lớn, đối tượng mà chúng ta khó có thể hình dung được vì nó được gọi là “<em>Cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm</em>”<a href="#_ftn5" name="_ftnref5" title=""><sup><sup>[5]</sup></sup></a>. CMCN 4.0 đã, đang và sẽ tiếp tục tác động mạnh mẽ và toàn diện các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến chính trị, an ninh quốc gia, chính sách, pháp luật; tác động đến các đối tượng, cơ quan quản lý từ Chính phủ, Bộ, ngành đến từng doanh nghiệp, tổ chức, người dân... Những tác động đa chiều đó đem lại nhiều thuận lợi, tiện ích to lớn cho xã hội và hữu ích, tiết kiệm lớn về mọi phương diện cho con người (ví dụ: công nghệ cấy ghép, siêu máy tính bỏ túi, dịch vụ lưu trữ, Internet kết nối vạn vật, thành phố thông minh, ô tô không người lái, AI<a href="#_ftn6" name="_ftnref6" title=""><sup><sup>[6]</sup></sup></a>), nhưng cũng có các mối đe dọa, tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội và quyền con người, quyền công dân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hiện nay, thế giới đang ở chặng đường đầu tiên bước vào cuộc CMCN 4.0 với đặc trưng là tích hợp toàn bộ những thành tựu của ba cuộc cách mạng trước đây nhưng nâng lên một bước phát triển mới về chất, gắn liền với các trụ cột về trí thông minh nhân tạo (artificial intelligence), người máy thông minh có thể tự học hỏi (learning machines), Internet vạn vật kết nối (Internet of things), công nghệ điện toán đám mây (cloud computing) và xử lý dữ liệu lớn (big data). Sự ứng dụng rộng rãi những thành tựu từ cuộc CMCN 4.0, nhất là sự gia tăng của nền kinh tế số, kinh tế sáng tạo, kinh tế chia sẻ, sự thông minh hóa quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng sản phẩm, thông minh hóa quá trình quản trị xã hội, hình thành các mối quan hệ xã hội mới, những tương tác mới giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với người lao động và người tiêu dùng, giữa người dân và chính quyền đang thách thức những quan điểm pháp lý truyền thống, đòi hỏi hệ thống pháp luật cần phải có những điều chỉnh tương ứng nhằm đảm bảo phát triển đồng thời ngăn ngừa những rủi ro pháp lý và vi phạm pháp luật trong bối cảnh mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.2. Về tác động của Cách mạng lần thứ tư trong một số lĩnh vực pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Sự ứng dụng rộng rãi những thành tựu từ cuộc CMCN 4.0, nhất là sự gia tăng của nền kinh tế số, kinh tế sáng tạo, kinh tế chia sẻ, quản trị xã hội, hình thành các mối quan hệ xã hội mới, thách thức những quan điểm pháp lý truyền thống và tác động mạnh mẽ đối với hệ thống pháp luật. Theo nghiên cứu, có thể thấy, CMCN 4.0 tác động trực tiếp tới các lĩnh vực pháp luật quan trọng sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, tác động đối với pháp luật dân sự; trong đó, sự phát triển của công nghệ tạo ra khoảng trống về pháp lý đối với các loại tài sản “ảo”, tài sản mã hóa, tài sản kỹ thuật số. CMCN 4.0 cũng tác động trực tiếp vào pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: khi hợp đồng được giao kết nhiều hơn trên môi trường số hóa, các quy tắc truyền thống liên quan tới chứng cứ về giao kết hợp đồng, địa điểm giao kết hợp đồng, thẩm quyền tài phán liên quan tới giao kết hợp đồng có thể phải được tính toán lại. Pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng cần được điều chỉnh lại để xử lý những trường hợp quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người máy (một rô-bốt) gây ra trong quá trình vận hành (sẽ do người sở hữu người máy chịu hay người thiết kế ra phần mềm điều khiển hoạt động của người máy phải chịu).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, tác động trực tiếp tới pháp luật về sở hữu trí tuệ trong bối cảnh phát triển công nghệ như: xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng; trách nhiệm của các nhà cung cấp; xác định quyền tác giả hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với những tác phẩm do một rô-bốt hoặc ứng dụng trí thông minh nhân tạo tạo nên.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, tác động trực tiếp tới lĩnh vực pháp luật về an sinh xã hội và pháp luật lao động: khi người máy được ứng dụng rộng rãi, hình thành nên các nhà máy sản xuất thông minh (smart factories), lượng công nhân lao động bị thất nghiệp nhiều (nhất là các loại lao động thủ công) thì ứng xử của nhà nước đối với vấn đề này ra sao? Việc ứng dụng người máy thay cho nhân viên đang làm việc có được xem là căn cứ hợp lý để chấm dứt hợp đồng lao động với người làm công bị thay thế không? Nếu chấm dứt thì trách nhiệm của chủ sử dụng lao động thế nào (nhất là trong việc đào tạo hoặc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp)?</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, tác động trực tiếp tới lĩnh vực pháp luật về bảo hộ dữ liệu cá nhân, bảo đảm quyền riêng tư của mỗi người dân trên môi trường số/môi trường Internet cũng như trong đời thực. Cụ thể, trong bối cảnh CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ, yêu cầu về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cá nhân sẽ ngày càng lớn hơn.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong><em>,</em> tác động trực tiếp tới lĩnh vực pháp luật ngân hàng, tài chính, tiền tệ: các vấn đề nổi bật như việc phát triển các ứng dụng tài chính mới; trách nhiệm của các bên và nhà nước trong quản lý các giao dịch số; việc phát minh ra các dạng tiền ảo được một bộ phận dân chúng sử dụng, đầu tư và đầu cơ đang đặt ra nhiều bài toán về chính sách tiền tệ và đảm bảo an ninh tiền tệ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ sáu</strong>, tác động trực tiếp tới lĩnh vực quản trị công với xu hướng xây dựng Chính phủ điện tử (e-government), Chính phủ thông minh (smart-government) là tất yếu để đảm bảo Chính phủ thích ứng với một xã hội đang ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu của trí thông minh nhân tạo, tự động hóa, số hóa để có thể nhận diện chính xác hơn vấn đề cần xử lý và phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt hơn. Tương tác giữa chính quyền với người dân ngày càng trực diện hơn và tăng tính dân chủ, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ở cấp chính quyền địa phương, nhất là chính quyền các thành phố, cần nhận diện xu hướng xây dựng thành phố thông minh để có cơ chế quản trị thành phố thông minh.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh trên, Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm những cách thức ứng xử phù hợp về mặt pháp luật để giải quyết các vấn đề đã và sẽ phát sinh, nhằm tận dụng các cơ hội to lớn mà cuộc cách mạng này mang lại và hạn chế những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội<a href="#_ftn7" name="_ftnref7" title="">[7]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.1.3. Về tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với </em><em>pháp luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 đã có tác động đến và đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết đối với hệ thống pháp luật, trong đó, với số lượng người dân và doanh nghiệp, cơ quan tổ chức ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới, việc các vi phạm pháp luật và tội phạm thực hiện trên môi trường số được dự báo sẽ ngày càng phức tạp và gia tăng. Với chức năng <em>bảo vệ</em> vốn có của mình, pháp luật hình sự có nhiệm vụ điều chỉnh và xử lý kịp thời những hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc có khả năng xảy ra, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội dưới tác động của cuộc Cách mạng này, hoặc dự báo được những thay đổi về phương thức, thủ đoạn phạm tội của các loại tội phạm mà chủ thể đã lợi dụng thành tựu của CMCN 4.0 thực hiện tội phạm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản liên quan đã thể chế các chính sách quan trọng nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm trong bối cảnh mới, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước đối với một số đối tượng cụ thể như: chính sách giảm hình phạt tử hình, chính sách giảm hình phạt tù, chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội, quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại và quy định với một số loại tội phạm mới phát sinh trong quá trình phát kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 với các thành tựu nổi bật bên cạnh mang lại những tác động tích cực cũng làm xuất hiện rất nhiều thách thức, các thế lực thù địch và tội phạm cũng lợi dụng và sử dụng thành tựu của CMCN 4.0 để chống phá, phạm tội, tạo nên những thách thức không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh, trật tự và phòng, chống tội phạm. Trước những thách thức đó, vai trò của pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ là việc tội phạm hóa đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội, hình sự hóa qua việc ghi nhận các mức và loại hình phạt đối với các hành vi vi phạm, mà còn phải tạo cơ sở pháp lý vững chắc, công minh khi xử lý. Trong số những vấn đề mới phát sinh của CMCN 4.0 đối với pháp luật hình sự, Đề tài tập trung nhận diện, phân tích, góp phần làm rõ và bước đầu đưa ra những đề xuất, kiến nghị đối với những nội dung sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong>, nhận diện một số vấn đề lý về luật hình sự như: đánh giá một số nguy cơ, khả năng làm phát sinh chủ thể mới của tội phạm là thực thể trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, một số yếu tố cấu thành tội phạm như khách thể, hành vi khách quan, hậu quả từ hành vi khách quan cũng phát sinh vấn đề mới như xuất hiện khách thể an ninh mạng, sử dụng phương tiện, thủ đoạn mới do tác động của cuộc CMCN 4.0. Đối với các vấn đề về hình phạt, việc nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá khả năng và kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc áp dụng các chế tài mới, phù hợp và với sự hỗ trợ của những công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả của áp dụng hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, nhận diện các vấn đề mới về tội phạm hóa và phi tội phạm hóa trong bối cảnh tác động của CMCN 4.0. Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu mà Nhà nước ta sử dụng để đấu tranh với tội phạm. Khả năng tác động đến hiệu quả của cuộc đấu tranh với tội phạm phụ thuộc đáng kể vào việc đánh giá đúng đắn và xác định càng chính xác, càng cụ thể càng tốt những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì thế đòi hỏi phải phân hoá cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội. Với diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm cùng với sự xuất hiện của không ít hành vi phạm tội mới chưa được điều chỉnh trong bối cảnh CMCN 4.0, nhu cầu tội phạm hóa và phi tội phạm hóa đối với một số tội phạm sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là rất cần thiết.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong>, những vấn đề pháp lý đối với hành vi xâm phạm an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng: Trong bối cảnh bùng nổ của cuộc CMCN 4.0 trên mọi lĩnh vực của đời sống, Internet đóng vai trò rất lớn. Việt Nam cũng không tránh khỏi việc trở thành “nạn nhân” của nhiều vụ tấn công trên không gian mạng, gây ảnh hưởng đến an ninh mạng nói riêng và an ninh quốc gia nói chung. Các cuộc tấn công mạng có quy mô, mức độ ngày càng tinh vi với mục tiêu nhằm vào những thông tin quan trọng, tuyệt mật của quốc gia. Ví dụ: năm 2017, khi mã độc tống tiền WannaCry được phát tán, Việt Nam là một trong 20 nước thiệt hại nặng nề nhất và thống kê của hệ thống giám sát virus của Bkav cũng cho thấy con số 1,6 triệu lượt máy tính bị mất dữ liệu riêng trong năm 2018 tại Việt Nam. Với tầm quan trọng của an ninh mạng là chủ đề then chốt chính trên trường quốc tế trong 10 năm tới mà đã được đánh giá bởi các chuyên gia, học giả của Mỹ, Trung Quốc, ASEAN, việc hoàn thiện khung pháp lý để phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng là vô cùng cần thiết, cấp bạch. Bên cạnh đó, nhiều đối tượng cũng sử dụng không gian mạng để tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động biểu tình, bạo loạn. Hoạt động này diễn ra thường xuyên đã tác động không nhỏ đến tư tưởng chính trị của quần chúng nhân dân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong>, xâm phạm quyền riêng tư, thông tin, dữ liệu cá nhân của con người, cơ quan, tổ chức: Trong bối cảnh Internet vạn vật và cơ sở dữ liệu tập trung (Big data) đang ngày càng phát triển, một khi làm chủ được dữ liệu lớn thì sẽ có cơ hội thành công lớn hơn trong bối cảnh cạnh tranh, thế giới sẽ được hưởng lợi hơn từ việc trích xuất thông tin một cách chính xác hơn, hữu ích hơn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, vấn đề quyền riêng tư của người dùng có nguy cơ rất cao bị xâm phạm. Việc thu thập Big data có thể sẽ đi kèm thông tin khả năng định dạng người dùng mà không được sự đồng ý của họ và điều đó vi phạm pháp luật ở một số quốc gia. Theo đó, tội phạm sẽ lợi dụng thu thập các thông tin về quyền riêng tư để thực hiện hành vi phạm tội, nếu không được ngăn chặn và có biện pháp bảo mật, những hành vi đó sẽ gây ra những hậu quả nhất định đe dọa an ninh, trật tự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, hoạt động tấn công, xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu, website của các cơ quan, doanh nghiệp để thu thập dữ liệu, tống tiền cũng có xu hướng gia tăng. Tin tặc sử dụng các loại virus, phần mềm gián điệp, mã độc ngày càng được mã hóa tinh vi, phức tạp phát tán qua thư điện tử, website khiêu dâm, diễn đàn, mạng xã hội, ứng dụng trên các điện thoại thông minh (smartphone) để xâm nhập trộm cắp dữ liệu, phá hoại của các cá nhân, doanh nghiệp. Ví dụ: ngày 27/4/2017, tin tặc đã tấn công hệ thống mạng của công ty VNG, chiếm đoạt, công bố thông tin 163.666.400 tài khoản Zing (bao gồm tên tài khoản, mật khẩu, email, số điện thoại, ngày sinh, địa chỉ, số CMND). Theo các chuyên gia công nghệ thông tin, trong kỷ nguyên Internet vạn vật (Internet of things - IoT), các vụ tấn công mạng ngày càng tinh vi và hậu quả gây ra ngày càng lớn. IoT như một “cơn bão” mà không một quốc gia nào tránh khỏi, trong cơn bão đó, nếu quốc gia nào chuẩn bị kỹ sẽ tồn tại, nếu quốc gia nào không chuẩn bị kỹ họ sẽ nhanh chóng bị cơn bão càn quét và thiệt hại là không thể hình dung được.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong>, xâm phạm về sở hữu với những hình thức mới, tài sản mới cần được điều chỉnh. Ở Việt Nam, trong các quy định của pháp luật hiện hành (bao gồm cả BLDS năm 2015) chưa có quy định cụ thể về tài sản ảo là tiền mã hóa (hay còn gọi là tiền ảo với tư cách là một loại hình tài sản ảo). Pháp luật hình sự hiện hành cũng chưa có quy định cụ thể về xử lý hình sự đối với hành vi mua, trữ, cung ứng, giao dịch các loại tiền ảo như một loại hàng hoá hay tài sản. Do đó, việc xử lý hành vi xâm phạm về sở hữu (như chiếm đoạt tài sản) liên quan đến tiền mã hóa hiện nay chưa có khung pháp lý đầy đủ để áp dụng trên thực tiễn và các tranh chấp phát sinh trên thực tiễn chưa có cơ chế giải quyết. Bên cạnh đó, thực tiễn khung pháp lý quy định xử lý hình sự đối với các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua môi trường thương mại điện tử nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng cần hoàn thiện (như trường hợp lợi dụng môi trường Internet để lừa đảo bằng cách đăng sản phẩm kém chất lượng nhưng lại bán với giá của sản phẩm chất lượng cao, hoặc kinh doanh sàn vàng trái phép,…), đồng thời tránh thất thu thuế với khoản lợi nhuận phát sinh. Ngoài ra, hoạt động lợi dụng không gian mạng kinh doanh đa cấp để lừa đảo cũng diễn ra phổ biến trên cả nước, nhất là các tỉnh vùng sâu, vùng xa, nơi trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt tâm lý muốn “giàu nhanh nhưng dễ dàng”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ sáu</strong>, các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng ngày càng gia tăng với tính chất tinh vi và mức độ nguy hiểm ngày càng cao. Một trong các loại tiền mã hóa là Bitcoin đang trở nên nguy hiểm vì với chế độ ẩn danh, các đối tượng có thể sử dụng Bitcoin để rửa tiền hay tài trợ khủng bố (chuyển tiền cho bọn khủng bố dễ dàng hơn). Tiền “ảo” Bitcoin còn có thể trở thành phương tiện để rửa tiền. Bên cạnh đó, trong lĩnh vực thanh toán thẻ, thanh toán điện tử, tội phạm móc nối tạo thành các đường dây, diễn đàn trên mạng Internet với hàng chục nghìn thành viên trong và ngoài nước, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, chặt chẽ để trộm cắp, mua bán, trao đổi, sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng để đặt vé máy bay, mua bán các loại hàng hóa có giá trị cao hoặc thanh toán khống. Tình trạng các nhóm đối tượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, làm và sử dụng thẻ tín dụng giả móc nối với đối tượng người Việt Nam thực hiện các thanh toán khống, chiếm hưởng trái phép có xu hướng gia tăng. Ngày càng phổ biến tình trạng các đối tượng sử dụng đồng bộ nhiều loại thiết bị, tiến hành thực hiện đầy đủ các công đoạn làm thẻ giả và tiến hành giao dịch; hoặc sử dụng các thiết bị chuyên dụng skimming nhỏ, mỏng gắn vào phía trong của khe cắm thẻ tại các máy ATM để trộm cắp dữ liệu thông tin thẻ sau đó làm giả thẻ để rút tiền chiếm hưởng. Trong lĩnh vực viễn thông, tình trạng phát tán thư rác, tin nhắn rác có nội dung quảng cáo, lừa đảo ngày càng gia tăng gây bức xúc cho người sử dụng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhìn chung, các nội dung trên đã khái quát phần nào các tác động của CMCN 4.0 trong các lĩnh vực pháp luật khác nhau, dự báo các vấn đề pháp lý tạo cơ sở đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Các nội dung tiếp theo sẽ nhận diện và tập trung làm rõ sáu vấn đề nêu trên, đồng thời phân tích yếu tố kỹ thuật hình sự như là một cấu thành quan trọng góp phần đảm bảo hiệu quả thi hành của pháp luật hình sự trong bối cảnh, tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.2. Nhận diện một số vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2.1. Trí tuệ nhân tạo và tác động đối với lý luận về trách nhiệm hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Một số ứng dụng của trí tuệ nhân tạo trên thực tiễn</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với CMCN 4.0, sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) thực sự là điểm nhấn quan trọng tạo nên những tác động nhiều mặt cả đối với thực tiễn cuộc sống và nhận thức của con người. Từ hàng thiên niên kỷ nay, nhân loại đã mơ ước tạo ra một sinh vật nhân tạo có thể suy nghĩ và hành động theo con người, trong tiểu thuyết viễn tưởng cũng như triết học. Theo chức năng, AI có thể được phân chia thành 4 loại với mức độ hoàn thiện từ thấp đến cao, gồm: <em>Máy phản ứng</em> (reactive machines) thuần tuý là loại trí tuệ nhân tạo cơ bản nhất. Các hệ thống AI này không lưu trữ ký ức hoặc kinh nghiệm quá khứ từ các hành động trong tương lai, nó chỉ tập trung vào các tình huống hiện tại và phản ứng theo hành động tốt nhất có thể; <em>Bộ nhớ giới hạn</em> (Limited memory) máy tính có bộ nhớ hạn chế có thể lưu trữ trải nghiệm quá khứ hoặc một số dữ liệu trong một khoảng thời gian ngắn; <em>Lý thuyết về tâm trí</em> (Theory of mind) lý thuyết về trí tuệ nhân tạo nên hiểu được cảm xúc con người, niềm tin của con người và có thể tương tác xã hội như con người; <em>Tự nhận thức</em> (Self awareness) là tương lai của trí tuệ nhân tạo, là những cỗ máy siêu thông minh và sẽ có ý thức, tình cảm và nhận thức về bản thân<a href="#_ftn8" name="_ftnref8" title="">[8]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với những tính năng vượt trội của mình, AI được sử dụng ngày càng rộng rãi trong các ngành và lĩnh vực khác nhau. Trong ngành vận tải, AI được ứng dụng trên những phương tiện vận tải tự lái, điển hình là ô tô. Sự ứng dụng này góp phần mang lại lợi ích kinh tế cao hơn nhờ khả năng cắt giảm chi phí cũng như hạn chế những tai nạn nguy hiểm đến tính mạng<a href="#_ftn9" name="_ftnref9" title="">[9]</a>. Trong sản xuất, AI được ứng dụng để xây dựng những quy trình sản xuất tối ưu hơn. Công nghệ AI có khả năng phân tích cao, làm cơ sở định hướng cho việc ra quyết định trong sản xuất. Trong y tế, ứng dụng tiêu biểu của AI thiết bị bay không người lái được sử dụng trong những trường hợp cứu hộ khẩn cấp với tốc độ nhanh hơn xe chuyên dụng đến 40% và vô cùng thích hợp để sử dụng ở những nơi có địa hình hiểm trở. Thông qua việc thu thập và phân tích dữ liệu, công nghệ AI có thể nắm bắt thông tin về hành vi sử dụng dịch vụ của khách hàng, từ đó mang lại những giải pháp phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng<a href="#_ftn10" name="_ftnref10" title="">[10]</a>. Cùng với sự xuất hiện ngày càng phổ biến của AI, các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng AI ngày càng trở nên ưu việt và đóng góp vai trò ngày càng lớn đối với cuộc sống. Theo kết quả một nghiên cứu năm 2020, AI có thể có tác động tích cực đến 58% mục tiêu trong mục tiêu phát triển bền vững thứ 16 của Liên hợp quốc “Hòa bình, Công lý và các thể chế mạnh mẽ”<a href="#_ftn11" name="_ftnref11" title="">[11]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nghiên cứu trên cho thấy, AI có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, từ những AI hẹp chỉ thực hiện được một loại nhiệm vụ đến AI tổng hợp có thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ trí tuệ nào với hiệu quả y như con người và đặc biệt hơn là siêu AI có thể vượt qua trí thông minh của con người và có thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào tốt hơn con người với những đặc tính nhận thức; từ những AI thuần tuý là máy móc, không có nhận thức, cảm xúc đến những AI hiểu được cảm xúc con người, niềm tin của con người và có thể tương tác xã hội như con người và đặc biệt là những cỗ máy siêu thông minh, có ý thức, tình cảm và nhận thức về bản thân. Tất cả những đặc điểm gắn với các loại AI có thể xuất hiện trong cuộc sống cho thấy AI ngày càng đem lại những tác động tích cực lớn lao cho cuộc sống nhưng cũng đồng thời tạo ra những nguy cơ về nhiều mặt. Thực tế cho thấy nhiều AI cũng đã tham gia vào các vụ tai nạn chết người. Điều này đã làm dấy lên mối lo ngại của công chúng rằng sẽ có những tội phạm được thực hiện mà không có bất kỳ khả năng nào để bắt con người phải chịu trách nhiệm<a href="#_ftn12" name="_ftnref12" title="">[12]</a>. Nói cách khác, với sự có mặt của AI, công nghệ tuyệt vời đi kèm với trách nhiệm lớn vì gắn với tất cả những đóp góp trên, một yêu cầu quan trọng vẫn là: AI phải đi kèm với các hướng dẫn đạo đức và phải được thực hiện một cách công bằng và minh bạch. Nếu không được thực hiện một cách thích hợp, công nghệ có thể tạo ra tác động xấu đến xã hội và thể chế của chúng ta<a href="#_ftn13" name="_ftnref13" title="">[13]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. </em><em>Tác động của trí tuệ nhân tạo đối với lý luận về trách nhiệm hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong khoa học luật hình sự, trách nhiệm hình sự được hiểu là một dạng trách nhiệm pháp lý, gắn liền với việc thực hiện hành vi phạm tội và là hậu quả pháp lý bất lợi của mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước. Trong bối cảnh CMCN 4.0, sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của AI tác động đến nhận thức về trách nhiệm hình sự. Trước hết, cần nhấn mạnh rằng AI có những đặc tính góp phần đặt ra một số thay đổi trong lý luận về trách nhiệm hình sự bao gồm: (i) quyền tự chủ, (ii) tính không thể đoán trước và (iii) không thể chịu trách nhiệm<a href="#_ftn14" name="_ftnref14" title="">[14]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, cuộc chạy đua hướng tới việc tạo ra một sinh vật nhân tạo siêu thông minh đang tạo ra thách thức luật hình sự vì sự kiểm soát của con người là một trong những chìa khóa quan trọng khi bắt một người phải chịu trách nhiệm về tội phạm. Khi AI hoạt động một cách tự chủ, sự kiểm soát của con người có giới hạn trên AI dường như đã tạo ra vấn đề xác định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm. Rõ ràng là các đặc điểm của AI sẽ xung đột với các yêu cầu thiết lập trách nhiệm pháp lý<a href="#_ftn15" name="_ftnref15" title="">[15]</a>. Trước thực trạng AI thực hiện tội phạm mà không thể quy trách nhiệm cho con người, một số nhà khoa học cho rằng trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều giá trị cho cuộc sống loài người nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ. Ấn tượng về việc con người giao quyền kiểm soát cho máy móc đã làm dấy lên nỗi sợ hãi về khoảng trống trách nhiệm mới xuất hiện, khiến nạn nhân phần lớn không được đền bù thiệt hại và cho phép kẻ gian ẩn sau mã phần mềm mà không ai phải chịu trách nhiệm<a href="#_ftn16" name="_ftnref16" title="">[16]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của AI trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong khi luật hình sự hiện hành chưa có các quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý AI cũng như những tác nhân liên quan đến hoạt động của AI đặt ra cho các nhà nghiên cứu câu hỏi: <em>có cơ sở lý luận về tội phạm và hình phạt tạo nền tảng cho việc xây dựng các quy định mới liên quan đến việc AI thực hiện tội phạm hay không? </em>Nói cách khác, sự xuất hiện các hành vi phạm tội do AI thực hiện mà không có sự kiểm soát, điều khiển của con người có làm thay đổi lý luận về tội phạm và hình phạt hay không?</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khi xem xét vấn đề trách nhiệm pháp lý, nếu luật dân sự chỉ cần tổn hại có thể được dự liệu trước, thì luật hình sự đi xa hơn và yêu cầu các nguy hại phải đã được dự định. Tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới đều coi trọng yếu tố <em>mens rea</em> (mặt chủ quan của tội phạm). Khi các ứng dụng AI tham gia vào việc thực hiện tội phạm, tòa án và các chủ thể pháp lý khác sẽ phải phân vân xem <em>ai là người chịu trách nhiệm và dựa trên học thuyết nào, hoặc liệu có bắt bất kỳ cá nhân nào phải chịu trách nhiệm về hậu quả mà người đó có thể không có ý định cụ thể hay thấy trước không</em><a href="#_ftn17" name="_ftnref17" title="">[17]</a><em>.</em> Cả sự tự chủ và tính không thể đoán trước trong hành vi của AI đều khiến cho việc truy tìm vai trò tác động của con người trong hành vi gây thiệt hại của AI trở nên khó khăn. Trong khi đó, trách nhiệm pháp lý do lỗi vẫn là một yếu tố quan trọng của trách nhiệm pháp lý trong thời đại kỹ thuật số<a href="#_ftn18" name="_ftnref18" title="">[18]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Liên quan đến vấn đề này, các nhà khoa học trên thế giới đang có những ý kiến khác nhau. Một số ý kiến nhấn mạnh: luật hình sự nhắm vào con người, và nếu chúng ta muốn duy trì chức năng trừng phạt và răn đe trong luật hình sự, chúng ta cần hướng luật vào con người với khả năng chịu trách nhiệm đạo đức, tức là <strong>con người chịu trách nhiệm</strong> chứ không phải AI<a href="#_ftn19" name="_ftnref19" title="">[19]</a>. Bên cạnh đó, cũng có không ít ý kiến theo hướng cần xem xét trách nhiệm hình sự của chính AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Một trong những giải pháp được đề xuất để giải quyết vấn đề là trao cho AI <strong>tư cách cá nhân điện tử</strong>, tức là thừa nhận rằng các rô-bốt và tác nhân phần mềm đặc biệt rất tinh vi có thể tự mình là người giải quyết các nghĩa vụ và nghĩa vụ pháp lý cũng như chủ sở hữu các quyền hợp pháp. Cuộc tranh luận về vấn đề này đã được thúc đẩy mạnh mẽ bởi Nghị viện châu Âu thông qua Nghị quyết về Quy tắc dân luật về người máy vào năm 2017. Theo đó, về lâu dài, các nhà lập pháp nên trao tư cách pháp nhân cho một số AI rất tiên tiến. Ý tưởng này cũng được tăng cường bởi các báo cáo về việc Ả Rập Xê Út trao quyền công dân cho một rô-bốt có tên Sophia và về việc các công ty toàn cầu bầu AI làm thành viên Hội đồng quản trị. Trong bối cảnh xác định trách nhiệm pháp lý, ý tưởng nếu ngày càng khó truy tìm con người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà AI gây ra, thì việc bắt chính AI phải chịu trách nhiệm là điều đương nhiên.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tuy nhiên, đề xuất trên đã nhận sự phản đối rất lớn. Phần lớn sự phản đối có nguồn gốc từ những cân nhắc về đạo đức, với lý do bất kỳ nỗ lực nào nhằm đặt máy móc ngang hàng với con người và dành cho chúng những quyền giống hoặc tương tự quyền của con người đều có thể giúp làm mờ đi sự khác biệt cơ bản giữa con người và vạn vật. Cũng có một lý do khác là, rõ ràng, việc bắt bản thân AI phải chịu trách nhiệm là không có ý nghĩa trừ khi AI có đủ khả năng tài chính để trả tiền bồi thường, có nghĩa là AI sẽ phải được trang bị quỹ hoặc được bảo hiểm tương đương. Mặt khác, sẽ đơn giản hơn nhiều nếu chủ thể chịu trách nhiệm là các nhà phát triển, nhà sản xuất, nhà khai thác hoặc người dùng AI. Xem xét vấn đề kỹ hơn, có vẻ như tác dụng duy nhất của việc công nhận tư cách con người điện tử có thể là lá chắn, tạo điều kiện cho con người thoát khỏi việc phải chịu trách nhiệm về AI. Đây là lý do tại sao tư cách cá nhân điện tử không phải là giải pháp tối ưu<a href="#_ftn20" name="_ftnref20" title="">[20]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc trao cho AI tư cách cá nhân điện tử còn làm nảy sinh thêm một số thách thức pháp lý liên quan đến hai yếu tố chính cần thiết để xác lập trách nhiệm hình sự bao gồm: (i) actus reus (hành vi phạm tội - là yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm); và (2) mens rea (mục đích, ý thức phạm tội - là yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm). Cụ thể, đây là hai yếu tố bắt buộc để xác lập trách nhiệm hình sự, nhưng việc xác định hai yếu tố này của AI là vấn đề phức tạp, khó chứng minh. Một số nhà khoa học cho rằng, vấn để này có thể so sánh tương tự với việc xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp của động vật, theo đó họ cho rằng động vật nếu cắn người không phải chịu trách nhiệm hình sự do không có yếu tố về mặt chủ quan để cấu thành tội phạm. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên khả năng đưa ra các phán quyết đạo đức và khả năng chịu trách nhiệm của chủ thể cũng như nhu cầu truy tố tội phạm và thực hiện công lý. Vì vậy, các vấn đề pháp lý liên quan đến trách nhiệm hình sự của AI là một thách thức lớn đặt ra do AI “<em>không có khả năng đưa ra các phán quyết đạo đức, có thể có thiệt hại nhưng không có tội phạm</em>” <a href="#_ftn21" name="_ftnref21" title="">[21]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, có thể kết luận ba nhóm quan điểm về trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến tội phạm do AI thực hiện như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, phải xác định trách nhiệm hình sự đối với con người liên quan đến việc thực hiện tội phạm của AI.</em> Cơ sở chung của trách nhiệm hình sự thường là yêu cầu về hành vi nguy hiểm cho xã hội và chỉ những hành vi của con người mới là cơ sở để áp đặt hình phạt. Khi bàn đến trách nhiệm của con người, nhiều nhà khoa học lập luận phải có con người để có thể quy cho tội phạm của AI vì chỉ có con người mới có thể thực hiện một hành vi phạm tội. Quyền tự chủ của AI tăng lên đồng nghĩa với việc giảm khả năng kiểm soát của con người. Như vậy, trong khi AI thực hiện hành động tích cực theo nghĩa pháp lý, thì con người, ngược lại, không hành động hoặc ít nhất là thụ động. Tuy nhiên, trong hầu hết các hệ thống pháp luật, hành vi khách quan cũng bao gồm việc không hành động, tức là hành vi thiếu sót. Trong những trường hợp như vậy, người bị buộc tội có nghĩa vụ hành động để tránh gây thiệt hại, nhưng lại không hành động. Liên quan đến các tội phạm mà AI thực hiện, khả năng con người phạm tội do sơ suất là cơ sở để họ bị trừng phạt. Khi AI phạm tội, có một số tình huống trong đó nghĩa vụ hành động như vậy có thể phát sinh đối với các tác nhân được xác định. Tội phạm của AI phải có khả năng gán cho con người, có thể đáp ứng các yếu tố để chịu trách nhiệm hình sự (yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trước hết, các ý kiến đều khẳng định trách nhiệm của những người sử dụng AI như là công cụ thực hiện tội phạm. Rõ ràng, có nhiều cách một người có thể tham gia vào một tội phạm mà không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm trên thực tế. Con người có thể khuyến khích hành vi phạm tội của AI thông qua hỗ trợ, tiếp tay, cố vấn, mà không tự mình phạm tội. Khi con người là người phạm tội trên thực tế nhưng thông qua một tác nhân vô tội, họ là người tham gia thứ cấp nhưng được coi là chủ thể chính của tội phạm. Chẳng hạn, một người điều khiển từ xa và sử dụng AI như một tác nhân vô tội để thực hiện hành vi phạm tội. Trong khi AI không có trách nhiệm và không có năng lực trách nhiệm hình sự đối với các hành động của mình, con người sử dụng AI như một công cụ để phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, đối với những trường hợp con người không chủ ý sử dụng AI như công cụ phạm tội thì việc xác định vai trò của con người đối với tội phạm do AI thực hiện vẫn cần được đặt ra theo một cách phù hợp khác. Cơ sở của nhận định này là bất kỳ tác nhân nào được xác định có khả năng ảnh hưởng đến việc ra quyết định của AI có thể được coi là nguyên nhân của tội phạm. Cụ thể, một AI không thể được coi là một tác nhân vô tội thay mặt cho bị cáo nếu chính AI đó đã nghĩ ra hành động, theo đó nghĩa vụ phải hành động của bị cáo là khả năng duy nhất để buộc họ phải chịu trách nhiệm. Vì AI không phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình nên cần phải theo dõi hành vi phạm tội của con người đứng sau AI. Con người trong trường hợp đó phải ở một vị trí mà họ có thể tác động, làm ảnh hưởng đến AI và hành vi của AI theo cách này hay cách khác<a href="#_ftn22" name="_ftnref22" title="">[22]</a>. Từ đó, các nhà khoa học đều bàn đến đến vai trò của người sản xuất, người giám sát, người sở hữu, người sử dụng khi AI thực hiện hành vi gây thiệt hại, cụ thể như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Người giám sát hoạt động của AI luôn nhận được ý kiến đánh giá khẳng định về trách nhiệm của họ trong việc để AI thực hiện tội phạm vì đây là người có khả năng can thiệp vào việc ra quyết định của AI nếu cần thiết. Người giám sát ở vị trí gần với AI khi nó thực hiện các nhiệm vụ của mình, với khả năng kiểm soát các quyết định của AI, và thực tế có trách nhiệm tác động lên các quyết định sai lầm của AI tương ứng, hay chính là nghĩa vụ phải hành động của người giám sát. Chỉ người ở vị trí giám sát mới có thể được coi là có trách nhiệm cụ thể và do đó có nghĩa vụ hành động để tránh tác hại do AI gây ra, khi phụ trách AI<a href="#_ftn23" name="_ftnref23" title="">[23]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Nhà sản xuất cũng được bàn đến với vai trò là một tác nhân. Đây là người có vai trò tạo ra AI và có thể chịu trách nhiệm về mọi thứ liên quan đến việc sản xuất AI, chẳng hạn như phần cứng, phần mềm và các tính năng khác. Nhà sản xuất cũng biết công nghệ đằng sau quá trình ra quyết định trong AI, ít nhất là ở trạng thái của nó khi giới thiệu AI ra thị trường. Người phát triển phần mềm được coi là một phần của nhà sản xuất trong phân tích này, mặc dù người phát triển phần mềm có thể là bên thứ ba hành động thay mặt cho nhà sản xuất. Các nhà sản xuất AI, thường thiếu năng lực và cơ hội để can thiệp vào quá trình ra quyết định của AI sau khi AI được bán. Đối với các nhà sản xuất, câu hỏi đặt ra là liệu một nhà sản xuất có thể tạo ra nguy cơ gây hại nghiêm trọng và do đó, nhà sản xuất có nghĩa vụ phải hành động để tránh rủi ro hay không. Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định miễn là bản thân AI là hợp pháp và việc sản xuất tuân theo các quy tắc cụ thể cho loại hình đó AI, nhà sản xuất đã không tạo ra nguy cơ gây hại nghiêm trọng chỉ bằng cách bán AI. Không thể phủ nhận nguy cơ một số AI hoạt động sai hoặc không thực hiện nhiệm vụ của chúng như mong đợi, tuy nhiên đây là vấn đề về việc chấp nhận rủi ro của AI. Việc cập nhật chương trình trong AI là cách duy nhất để nhà sản xuất tác động đến hành vi của AI, sau khi được bán. Có thể lập luận rằng nhà sản xuất có nghĩa vụ phải hành động và tránh nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng trong một số trường hợp phải cập nhật chương trình của AI để tránh rủi ro.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tác nhân tiếp theo được xem xét là người sử dụng AI. Người sử dụng là người khởi chạy AI ngay từ đầu và hướng dẫn nó về các nhiệm vụ của nó và được hưởng lợi bởi hoạt động của AI. Khi xem xét đến vai trò của những người khởi chạy AI, các nhà khoa học xác định miễn là AI về bản chất không bị cấm một cách rõ ràng, việc sử dụng hoặc khởi chạy AI đơn thuần là không đủ để coi là một nguy cơ gây hại nghiêm trọng. Không thể nói rằng bản thân việc khởi chạy AI thông thường là hành vi chứa đựng nguy cơ gây hại nghiêm trọng cho xã hội. Chủ sở hữu được xác định trong hầu hết mọi trường hợp đều trùng khớp với người sử dụng hoặc người giám sát, và trước khi bán, chủ sở hữu trùng với nhà sản xuất.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"> - Tác nhân cuối cùng được xem xét là người bên ngoài có khả năng ảnh hưởng đến hành vi của AI hoặc tương tác với nó bằng cách nào đó. Đó có thể là một hacker hoặc một người nào đó tương tự, hoặc là một phần mềm độc hại hoặc vi rút nào đó<a href="#_ftn24" name="_ftnref24" title="">[24]</a>. Trong trường hợp này, người bên ngoài phải chịu trách nhiệm về việc cố ý tác động đến AI để qua đó gây thiệt hại cho xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Quan điểm trên cũng được thể hiện ở mô hình trách nhiệm pháp lý của một số nhà khoa học trong nước với nội dung xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể phạm tội thông qua chủ thể khác. Mô hình này được xây dựng dựa trên quan niệm dù khoa học, công nghệ và xã hội có phát triển đến thế nào thì máy móc vẫn sẽ luôn là máy móc và thực thể AI không thể sở hữu bất kỳ thuộc tính nào của con người nên thực thể AI chỉ được coi là tác nhân vô tội (vật trung gian, công cụ…). Bên cạnh đó, chủ thể tác động, chỉ đạo AI thực hiện hành vi (chủ thể phạm tội thông qua chủ thể khác) mới là thủ phạm chính (tư cách là người chủ mưu và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm của “tác nhân”).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, nhiều tác nhân được xem xét để xác định trách nhiệm pháp lý trong đó có trách nhiệm hình sự khi AI thực hiện tội phạm. Trách nhiệm của tác nhân đối với AI về cơ bản phụ thuộc vào mức độ kiểm soát của tác nhân đối với AI. Trách nhiệm sẽ thay đổi tùy theo tình huống, tác nhân là ai và loại AI gây hại. Người sử dụng và người giám sát là những tác nhân dễ phải chịu trách nhiệm vì việc AI phạm tội nhất, vì họ ở gần AI khi nó hoạt động<a href="#_ftn25" name="_ftnref25" title="">[25]</a>. Tuy nhiên, với quy định của luật hình sự Việt Nam hiện hành, cách tiếp cận này chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý để chuyển tải vào thực tiễn và buộc tác nhân tương ứng phải chịu trách nhiệm hình sự khi AI thực hiện hành vi phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai, phải xác định trách nhiệm hình sự của AI liên quan đến tội phạm mà AI thực hiện.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Quan điểm này dựa trên cơ sở quyền tự chủ của AI tăng lên đồng nghĩa với sự kiểm soát của con người giảm xuống. Tuy nhiên, luật hình sự hiện nay chỉ điều chỉnh hành vi của con người, không có luật nào điều chỉnh hành vi của AI. Quan điểm này dựa trên lập luận nếu AI có khả năng đưa ra phán quyết đạo đức, thì có nên hình thành mặt chủ quan cần thiết để chịu trách nhiệm hình sự giống hệt như con người hay không<a href="#_ftn26" name="_ftnref26" title="">[26]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Một số nhà khoa học cho rằng trong ứng dụng AI có một nguồn tác nhân tương tác tự chủ và tự học hỏi ngày càng cao để thực hiện những nhiệm vụ đòi hỏi có trí thông minh và sự can thiệp của con người. Những tác nhân nhân tạo đó (artificial agents - AA) được thông tin đầy đủ, “thông minh”, tự chủ và có khả năng thực hiện những hành động có liên quan một cách có đạo đức và độc lập với những người tạo ra AI đó. Mô hình trách nhiệm hình sự tương ứng được đưa ra là <em>trách nhiệm hình sự trực tiếp</em> - thực thể AI được cho là tương đương với chủ thể phạm tội là con người với điều kiện AI phát triển ở mức độ “siêu việt” nhất (tự xử lý, tự quyết định cao), có thể đáp ứng yêu cầu về yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong đối với hành vi phạm tội. Tương lai đang cho thấy với sự xuất hiện trí tuệ với tên gọi ASI (artificial superinteligence) chỉ việc máy móc thông minh siêu việt hơn con người thông minh nhất trên tất cả mọi khía cạnh thì rõ ràng đáp ứng yếu tố chủ quan được<a href="#_ftn27" name="_ftnref27" title="">[27]</a>. Như vậy, cách tiếp cận ở quan điểm này hướng đến loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự của con người trong những trường hợp AI có đầy đủ khả năng nhận thức, phán quyết về đạo đức, tự ra quyết định khi thực hiện tội phạm và không có tác nhân con người nào có lỗi trong việc thực hiện tội phạm của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, phải xác định trách nhiệm hình sự của cả con người và của AI.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Quan điểm này dựa trên quan niệm cho rằng trách nhiệm hình sự của AI dù độc lập vẫn liên quan đến người lập trình phần mềm hay người sử dụng (liên đới). Do đó, cũng không có lý do gì loại trừ trách nhiệm hình sự của AI hay của con người trong trường hợp có sự thông đồng (nhất trí) giữa hai chủ thể này. Nếu AI và một con người nào đó có thể phối hợp như là đồng phạm thì trách nhiệm hình sự được áp dụng tương ứng của đồng phạm trên cơ sở chung<a href="#_ftn28" name="_ftnref28" title="">[28]</a>. Chúng tôi đánh giá đây là cách tiếp cận phù hợp để xác định trách nhiệm hình sự khi AI có đầy đủ các phẩm chất cần thiết để trở thành chủ thể của tội phạm, đã thực hiện tội phạm dựa trên quyết định của chính AI, đồng thời các tác nhân khác cũng đã có lỗi khi không thực hiện các nghĩa vụ cần thiết theo luật định để ngăn chặn tội phạm mặc dù có đủ điều kiện, khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình. Như vậy, về cơ bản, những vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt liên quan đến con người (cá nhân) không bị biến đổi dưới tác động của AI. Bên cạnh đó, các nhà khoa học vận dụng lý luận trong luật hình sự để xem xét đến khả năng AI trở thành chủ thể của tội phạm (chủ thể của trách nhiệm hình sự). Tất cả các nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được đều thống nhất khẳng định <strong>chỉ khi</strong> <strong>AI có đầy đủ các đặc tính về khả năng nhận thức, khả năng phán xét về đạo đức đối với hành vi và có cảm xúc như con người thì AI mới có thể</strong><strong> được xem xét</strong><strong> trở thành chủ thể của tội phạm. </strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.2.2. Một số thay đổi về nhận thức đối với các yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Về các yếu tố cấu thành tội phạm</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định khái niệm tội phạm như sau: <em>Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Dưới tác động của CMCN 4.0, nhận thức về các yếu tố cấu thành tội phạm có thể dẫn đến một số thay đổi, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) </em><em>Làm xuất hiện khách thể mới cần được bảo vệ bằng luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 làm xuất hiện một số khách thể mới hay quan hệ xã hội mới bị hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến. Để làm rõ được vấn đề này, trước hết cần có sự nhận thức đầy đủ liên quan đến khái niệm an ninh quốc gia trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">“An ninh” nói chung là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu của con người, mỗi quốc gia và toàn nhân loại; đồng thời, an ninh cũng là điều kiện cơ bản và quan trọng số một bảo đảm cho sự phát triển của mỗi quốc gia<a href="#_ftn29" name="_ftnref29" title=""><sup><sup>[29]</sup></sup></a>. An ninh được hiểu là “<em>trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của từng tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội</em>”<a href="#_ftn30" name="_ftnref30" title=""><sup><sup>[30]</sup></sup></a>. Gắn khái niệm này với lợi ích quốc gia, an ninh quốc gia được hiểu “<em>là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc</em>”<a href="#_ftn31" name="_ftnref31" title=""><sup><sup>[31]</sup></sup></a>. An ninh quốc gia là tổng thể các an ninh trên các lĩnh vực khác nhau như an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh quốc phòng, an ninh đối ngoại…<a href="#_ftn32" name="_ftnref32" title=""><sup><sup>[32]</sup></sup></a> Để phù hợp với tình hình mới hiện nay, khái niệm về an ninh quốc gia, và từ đó coi an ninh quốc gia như là khách thể của các tội phạm cũng cần có những sự thay đổi. Theo đó, “<em>an ninh quốc gia không nên hiểu theo nghĩa hẹp là bảo vệ nhà nước trước những cuộc tấn công quân sự qua biên giới lãnh thổ mà an ninh quốc gia còn phải đối mặt với những thách thức phi truyền thống, bao gồm: khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức, an ninh môi trường, di cư bất hợp pháp, an ninh năng lượng và an ninh con người</em><em>”</em><a href="#_ftn33" name="_ftnref33" title=""><sup><sup>[33]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia từ góc độ hành vi và hậu quả cũng đã không còn theo những cách thức truyền thống, mà còn cả các hành vi tận dụng không gian mạng, với tầm ảnh hưởng lớn hơn để thực hiện hành vi phạm tội. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cũng xác định rõ an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong biên giới hành chính quốc gia, mà còn bên ngoài biên giới hành chính quốc gia (an ninh đối ngoại), an ninh không gian, vùng trời quốc gia, an ninh dưới lòng đất quốc gia (an ninh mạng, an ninh không gian mạng, an ninh hàng không, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước…)<a href="#_ftn34" name="_ftnref34" title=""><sup><sup>[34]</sup></sup></a>. Đồng thời, các hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhất là an ninh phi truyền thống đã có sự giao thoa quốc tế, hoà nhập, “xoá nhoà” lãnh thổ quốc gia truyền thống. Vì vậy, đường lối xử lý nói chung, chế tài đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia nói chung cũng cần được xác định trên cơ sở cân nhắc đặc điểm thời đại này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong thời đại toàn cầu hóa và trong bối cảnh CMCN 4.0, một quốc gia đơn lẻ khó giải quyết được các vấn đề trên không gian mạng (cụ thể là bảo vệ an ninh mạng), tội phạm mạng, mà cần có sự hợp tác trên bình diện quốc tế, cũng như hệ thống pháp luật hình sự quốc gia cần có những quy định bảo đảm an toàn và bảo vệ kịp thời cho khách thể này. Trong bối cảnh CMCN 4.0, hành vi nguy hiểm cho xã hội không chỉ thực hiện ở môi trường vật chất (truyền thống), mà còn có thể được thực hiện trên <em>không gian mạng</em>, thậm chí ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác... dẫn đến đặt ra nhận thức vấn đề chủ thể của tội phạm mới (nếu có) và vấn đề hiệu lực trên không gian mạng<a href="#_ftn35" name="_ftnref35" title="">[35]</a> của pháp luật hình sự và khách thể bị tội phạm xâm phạm đến.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Luật An ninh mạng năm 2018 đã xác định Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Do đó, khách thể “<em>an ninh mạng</em>” cần được cụ thể hóa trong pháp luật hình sự quốc gia với tư cách là khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự (ghi nhận tại Điều 1 và Điều 8 BLHS năm 2015), đồng thời sửa đổi một số cấu thành tội phạm tương ứng xâm phạm đến khách thể này trong Phần các tội phạm của BLHS với các tội phạm cụ thể xử lý kịp thời. Từ đây, hiệu lực của pháp luật hình sự mới phát huy hiệu quả trên “không gian này”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Sự thay đổi về không gian thực hiện hành vi phạm tội</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Không gian phạm tội là một trong những dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng viễn thông, không gian phạm tội không còn chỉ được hiểu một cách truyền thống. Cụ thể, hành vi nguy hiểm cho xã hội còn có thể được thực hiện trên <em>không gian mạng</em>, thậm chí ngoài trái đất, ở trên vũ trụ hay hành tinh khác... dẫn đến đặt ra nhận thức vấn đề về hiệu lực trên không gian mạng<a href="#_ftn36" name="_ftnref36" title=""><sup><sup>[36]</sup></sup></a> của pháp luật hình sự và khách thể bị tội phạm xâm phạm đến. Trong bối cảnh CMCN 4.0, những phát triển công nghệ đã khiến cho những giao dịch được thực hiện không cần giấy tờ như trước đây. Việc tạo ra các tiêu chuẩn mới về tốc độ, hiệu quả và độ chính xác trong thông tin liên lạc, đã trở thành công cụ quan trọng để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và tăng năng suất tổng thể. Bên cạnh đó, máy tính được sử dụng rộng rãi để lưu trữ dữ liệu bảo mật về chính trị, xã hội, kinh tế hoặc thông tin cá nhân đã mang lại lợi ích to lớn cho xã hội. Không gian mạng trở thành một phần của lãnh thổ quốc gia, một phần không gian sống của con người. Cùng với đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ Internet và máy tính trên toàn cầu đã dẫn đến sự phát triển của các hình thức tội phạm xuyên quốc gia đặc biệt là tội phạm liên quan đến Internet. Những tội phạm này thực hiện trên không gian mạng, hầu như không có ranh giới và có thể ảnh hưởng đến bất kỳ quốc gia nào trên toàn cầu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Mặc dù BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm đoạn 2 khoản 1 Điều 5 về không gian phạm tội: “…<em>quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam</em>”, tuy nhiên, ứng phó dưới tác động của CMCN 4.0, so với pháp luật hình sự các nước trên thế giới (Ví dụ: Cộng hòa Liên bang Đức<a href="#_ftn37" name="_ftnref37" title="">[37]</a>, Phần Lan<a href="#_ftn38" name="_ftnref38" title="">[38]</a>…), rõ ràng quy định này vẫn chưa bao quát một số trường hợp xảy ra như trường hợp có đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt... để giải quyết “<em>bài toán</em>” hành vi phạm tội gây hậu quả cho xã hội ở một hoặc nhiều nơi khác nhưng những hoạt động đã nêu lại không xử lý được khi bị phát hiện vì xảy ra ở nơi khác. Thậm chí, nếu hành vi nguy hiểm được thực hiện trên “<em>không gian mạng</em>” mà không được điều chỉnh thì hiệu lực của pháp luật hình sự sẽ không phát huy tác dụng được và không bảo vệ được các lợi ích của cá nhân, của xã hội và cộng đồng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại gây ra từ hành vi phạm tội </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong khoa học luật hình sự, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm, là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ<a href="#_ftn39" name="_ftnref39" title="">[39]</a>. Trong bối cảnh CMCN 4.0 và với sự xuất hiện mạnh mẽ của tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao đã gây ra thiệt hại cho tổ chức, cá nhân và Nhà nước lên đến hàng nghìn tỷ đồng và có xu hướng gia tăng mạnh mẽ. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) theo dõi các cuộc tấn công mạng nhằm vào các cơ quan chính phủ, cơ quan quốc phòng và các công ty công nghệ cao cũng như tội phạm kinh tế gây thiệt hại ít nhất 01 triệu đô la. Dữ liệu của CSIS cho thấy 105 trong số các cuộc tấn công này đã xảy ra vào năm 2019, tăng 400% so với mức năm 2009. Chỉ riêng tháng 8 năm 2022, tin tặc đã tấn công rất nhiều trang Web của các chính phủ và tập đoàn lớn với mục đích nhằm lấy cắp thông tin để tống tiền hoặc phá hoại<a href="#_ftn40" name="_ftnref40" title="">[40]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tại Việt Nam, số lượng bị can bị khởi tố thông qua các vụ vi phạm mà Cơ quan công an đã triệt phá cho thấy tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng hoạt động tinh vi theo nhóm được tổ chức chuyên nghiệp và có sự liên kết giữa tội phạm trong nước và cả nước ngoài, gây ra hậu quả, thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về kinh tế và xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của con người. Bảng số liệu thống kê dưới đây thể hiện mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại gây ra từ hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao giai đoạn 2015 - 2020:</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Bảng 1. Ước tính thiệt hại và giá trị tài sản thu hồi của tội phạm</strong></span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>sử dụng công nghệ cao giai đoạn 2015 - 2020</strong></span></span></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width:614px;" width="614">
<tbody>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Năm</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Số vụ vi phạm</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Ước tính </strong></span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>thiệt hại</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Khởi tố</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Giá trị tài sản </strong></span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>thu hồi</strong></span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2015</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">116 (14 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 10 tỷ đồng</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">15 vụ, 37 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 10 tỷ đồng và các tài sản khác.</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2016</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">210 (18 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 20 tỷ đồng</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">18 vụ, 25 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thu hồi hơn 10 tỷ đồng và 820 máy tính xách tay, linh kiện điện tử.</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2017</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">225 (22 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 12 tỷ đồng và 235.000 đô la Mỹ</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">32 vụ, 81 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thu giữ khoảng 12 tỷ đồng và 235.000 đô la Mỹ.</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2018</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">276 (33 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 16 tỷ đồng</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">49 vụ, 87 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thu giữ tiền và nhiều tài sản trị giá hơn 10 tỷ đồng.</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2019</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">302 (35 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 329.000 đô la Mỹ</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">47 vụ, 73 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">329.842 đô la Mỹ và các tài sản khác.</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2020</span></span></p>
</td>
<td style="width:123px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">326 (38 chuyên án)</span></span></p>
</td>
<td style="width:142px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khoảng 1300 tỷ đồng</span></span></p>
</td>
<td style="width:94px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">53 vụ, 100 bị can</span></span></p>
</td>
<td style="width:161px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">-</span></span></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Công an</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ bảng thống kê trên, có thể thấy số lượng và các loại tội phạm mạng có sự tăng nhanh cả về phạm vi, quy mô cũng như mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại. Bên cạnh những thiệt hại kinh tế trực tiếp (tổn thất tài chính) cho các nạn nhân như trộm cắp tiền trong thẻ tín dụng, mã hóa tài liệu, chiếm đoạt thông tin, khống chế, đe dọa cá nhân để tống tiền, chúng còn gây ra những thiệt hại gián tiếp (tổn thất phi tài chính) như: làm mất uy tín, gián đoạn hoạt động của các cơ quan, tổ chức; hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đe dọa đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn trên mạng Internet. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, viễn thông, tội phạm sử dụng công nghệ cao trên thế giới và Việt Nam cũng đang diễn biến phức tạp và làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại từ tội phạm đó gây ra. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Về hình phạt </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hình phạt là một biện pháp, một phương thức quan trọng trong công cuộc phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm. Nhà nước sử dụng hình phạt bởi nó có những vai trò, mục đích, chức năng và hiệu quả nhất định trong phòng ngừa, giáo dục, cải tạo, nghiêm trị người phạm tội. Trong khoa học luật hình sự, hình phạt là vấn đề đã và đang được nghiên cứu một cách có hệ thống; là chế tài hình sự được luận giải, làm sáng tỏ rất nhiều khía cạnh lý luận và thực tiễn. Dưới tác động của CMCN 4.0, những vấn đề lý luận về hình phạt cơ bản không có sự thay đổi; tuy nhiên, CMCN 4.0 mà cụ thể là sự phát triển của AI cũng làm phát sinh nhận thức mới trong lý luận về hình phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cụ thể, cùng với sự nhận diện những thay đổi trong nhận thức về trách nhiệm hình sự dưới tác động của AI ở tiết 1.1.1 sự thay đổi trong quan niệm về hình phạt đối với đối tượng này cũng phát sinh như một điều tất yếu. Tương ứng với hai khả năng chủ thể sử dụng AI hoặc do chính AI thực hiện hành vi phạm tội trong tương lai, hệ thống biện pháp cưỡng chế về hình sự cũng cần được sửa đổi, bổ sung để mang tính chất <em>công nghệ</em>, <em>giám sát, định vị</em> để phòng ngừa tội phạm, tái phạm...<a href="#_ftn41" name="_ftnref41" title="">[41]</a> (thu giữ, tiêu hủy phần mềm AI; tịch thu tài khoản, cấm truy cập; đeo vòng giám sát định vị...). Thậm chí, có quan điểm khoa học cho rằng, trong tương lai xa, nếu quy định thực thể AI là chủ thể của tội phạm, thì dự kiến các hình phạt có khả năng áp dụng với thực thể AI phải đặt ra bao gồm: Lao động công ích; tạm đình chỉ có thời hạn; xóa bỏ phần mềm AI kiểm soát thực thể AI...<a href="#_ftn42" name="_ftnref42" title="">[42]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.3. Nhận diện một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc chuyển đổi số quốc gia đã và đang mang lại những lợi ích to lớn cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, nhưng cũng đặt ra một số vấn đề cần phải giải quyết đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và quyền con người trong pháp luật hình sự. Song hành cùng với sự phát triển và những thành tựu mà cuộc CMCN 4.0 mang lại thì có không ít khó khăn, thách thức đã và đang ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến các lĩnh vực đối với việc bảo đảm quyền con người trong pháp luật hình sự, cụ thể như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc CMCN 4.0 đã mang lại nhiều tiến bộ trong việc đảm bảo tốt hơn các quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, đó là việc ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng và quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu qủa của những sản phẩm, dịch vụ cung cấp đến mọi người dân, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống từ vật chất đến tinh thần cho mọi người dân, từ đó cũng nâng cao yêu cầu đảm bảo tốt hơn các quyền con người, quyền công dân theo đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 ở nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau, thể hiện qua việc người dân tiếp cận được các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, chi phí thấp; người dân được tiếp nhanh chóng các thông tin trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu mà không bị giới hạn bởi ranh giới quốc gia, lãnh thổ, vùng miền, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; người dân được sống trong môi trường an toàn, trong lành. Từ việc tiếp cận được những vấn đề trên mà cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao cả về chất và về lượng, hiểu biết của người dân ngày càng được nâng cao, qua đó họ biết được họ có những quyền lợi và nghĩa vụ gì; những quyền và lợi ích hợp pháp mà họ sẽ được bảo đảm, những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện với nhà nước, với xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tuy nhiên, những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của CMCN 4.0 đến việc đảm bảo quyền con người cũng không nhỏ. Cùng với sự phát triển nhanh chóng mà những thành tự của CMCN 4.0 mang lại thì các quyền riêng tư của người dân cũng đứng trước nguy cơ xâm hại nghiêm trọng. Khả năng kết nối vạn vật và hệ thống siêu dữ liệu (Big data) mang lại những thành tựu to lớn nhưng cũng là nơi mà các thông tin, tài liệu mật, riêng tư của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị phát tán trong thời gian vô cùng ngắn ngủi với phạm vi rộng lớn. Những thông tin riêng tư này bị đánh cắp hoặc mua bán công khai và sử dụng vào những mục đích trái pháp luật. Vệc phổ biến và lan tỏa thông tin nhanh chóng trên mạng xã hội có thể dẫn đến sự xâm hại quyền tự do thông tin riêng tư bởi khi đã được chia sẻ thì rất khó đính chính hoặc xóa bỏ khi cần thiết. Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, quyền bảo vệ danh dự, uy tín cũng người dân sẽ gặp không ít khó khăn và thách thức. Cùng với đó, kết quả tất yếu trong xã hội chuyển đổi số là sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp người dân và đây chính là nơi tiềm ẩn sự bất bình đẳng trong quá trình bảo đảm quyền con người, đặc biệt là sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, khai thác và sử dụng các thông tin đó.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc CMCN 4.0 đặc biệt tác động đến các nhóm dễ bị tổn thương, như phụ nữ, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi. Đây là các nhóm cần sự hỗ trợ đặc biệt trong việc tiếp cận và thực hiện quyền con người. Sự ra đời của công nghệ số với các nền tảng trực tuyến có thể góp phần thúc đẩy bình đẳng giới thông qua việc hỗ trợ phụ nữ tiếp cận thông tin, giáo dục và kết nối với các cơ hội phát triển, nhưng cũng làm tăng nguy cơ bị tấn công, quấy rối, bạo lực tình dục qua mạng. Công nghệ mới có thể cung cấp cơ hội học tập và thông tin cho trẻ em, đồng thời cũng làm phát sinh nhiều rủi ro mới cho quyền trẻ em, bao gồm sự gia tăng tình trạng nô lệ hiện đại, bóc lột lao động trẻ em, tình trạng bạo lực, xâm hại trẻ em qua mạng, buôn bán trẻ em và nhiều vi phạm khác về quyền riêng tư của trẻ em.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.4. Nhận diện một số vấn đề về nguồn của luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự thay đổi nhanh chóng của các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, việc nghiên cứu về cách thức quy định tội phạm và hình phạt cần tiếp tục được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trên thế giới, khi bàn về nguồn của pháp luật (source of law), các học giả thường chỉ tới “nơi” chứa đựng các quy phạm pháp luật có hiệu lực áp dụng để giải quyết các vụ việc cụ thể. Tùy theo truyền thống pháp luật (dòng họ pháp luật) khác nhau mà các quốc gia xác định những “nơi” chứa đựng quy phạm pháp luật có hiệu lực áp dụng khác nhau mặc dù ở tất cả các truyền thống pháp luật thì văn bản quy phạm pháp luật (nhất là các đạo luật do Quốc hội ban hành) luôn được xác định là nguồn của pháp luật<a href="#_ftn43" name="_ftnref43" title="">[43]</a>. Với các quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn (civil law) (nhất là ở các quốc gia châu Âu lục địa) nguồn của pháp luật nói chung chỉ là các văn bản quy phạm pháp luật (legislation), các phán quyết của tòa án (án lệ) thường không được xem là nguồn pháp luật chính thức. Ở các quốc gia theo truyền thống luật án lệ (common law), bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật thì các án lệ (nhất là các phán quyết của tòa án cấp phúc thẩm hoặc tòa án tối cao) được coi là nguồn pháp luật chính thức<a href="#_ftn44" name="_ftnref44" title="">[44]</a>. Với cách đặt vấn đề như vậy, có thể coi nguồn của pháp luật hình sự chính là “nơi” chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực áp dụng hay “nơi” chứa đựng các quy định pháp luật về tội phạm và hình phạt có giá trị áp dụng để giải quyết các vụ việc thực tế. Tùy truyền thống pháp luật khác nhau mà nguồn của pháp luật hình sự có thể là văn bản quy phạm pháp luật, các án lệ hoặc các loại nguồn pháp luật khác<a href="#_ftn45" name="_ftnref45" title="">[45]</a>.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở Việt Nam, nguồn của pháp luật hình sự là khái niệm được du nhập từ nước ngoài từ thuật ngữ “source du droit pénal” trong tiếng Pháp hay “source of criminal law” trong tiếng Anh. Dưới góc độ nghiên cứu, trước thời điểm ban hành BLHS năm 1985, các nhà luật học ở Việt Nam không phân biệt rõ sự khác nhau giữa các khái niệm “văn bản pháp luật hình sự” và “nguồn của (pháp) luật hình sự” <a href="#_ftn46" name="_ftnref46" title="">[46]</a>. Với sự ra đời của BLHS năm 1985 và các BLHS sau này, tư duy lý luận về nguồn pháp luật hình sự cũng ngày càng phát triển và đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung này<a href="#_ftn47" name="_ftnref47" title="">[47]</a>. Theo đó, nguồn pháp luật hình sự được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp<a href="#_ftn48" name="_ftnref48" title=""><sup><sup>[48]</sup></sup></a>. Theo nghĩa rộng, nguồn của pháp luật hình sự được hiểu là nguồn của pháp luật liên quan đến hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, án lệ và các loại nguồn khác có quy định về tội phạm, hình phạt hoặc có quy định liên quan tới tội phạm và hình phạt. Theo nghĩa hẹp, nguồn của pháp luật hình sự chỉ gồm những văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp chứa đựng các quy định về tội phạm và hình phạt<a href="#_ftn49" name="_ftnref49" title=""><sup><sup>[49]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Dưới góc độ pháp luật thực định, cho đến thời điểm hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam, mà cụ thể là BLHS vẫn khẳng định nguyên tắc <em>“tội phạm và hình phạt được quy định trong BLHS”</em>, <em>“chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” </em>và<em> “hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS”.</em> Các văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành quy định của BLHS chỉ được quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn những nội dung đã được quy định trong BLHS mà không được phép quy định một tội phạm mới hoặc một hình phạt khác với hình phạt đã được BLHS quy định đối với tội phạm đó. Chính vì thế, mặc dù dưới góc độ nghiên cứu, các nhà khoa học còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng theo quy định của pháp luật thực định, đến thời điểm hiện nay, nguồn của pháp luật hình sự ở Việt Nam chỉ là BLHS<a href="#_ftn50" name="_ftnref50" title=""><sup><sup>[50]</sup></sup></a>. Trong bối cảnh tác động của CMCN 4.0, các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng có sự thay đổi nhanh chóng, việc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS có thể dẫn đến nhiều hạn chế như sau:</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ nhất, phải sửa đổi BLHS thường xuyên để kịp</em><em> thời </em><em>để xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phát sinh</em>. Trong tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ của CMCN 4.0, nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục được hình thành và phát triển. Song hành với quá trình ấy là sự xuất hiện những hành vi mới nguy hiểm cho xã hội có thể rất cần được tội phạm hóa kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, bảo vệ lợi ích công và trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, nếu cho phép quy định về tội phạm và hình phạt trong luật chuyên ngành thì mỗi khi ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung luật chuyên ngành đều có thể bổ sung quy định về tội phạm và hình phạt được nhận diện trong quá trình điều chỉnh pháp luật. Việc không cho phép đạo luật chuyên ngành được quy định tội phạm và hình phạt dẫn tới thông lệ lập pháp là các hành vi nguy hiểm cho xã hội phát sinh trong các lĩnh vực chuyên ngành mặc dù đã được nhận diện ngay từ giai đoạn ban hành luật điều chỉnh lĩnh vực này (thể hiện khá rõ trong các điều luật quy định về hành vi bị cấm hoặc hành vi bị nghiêm cấm) nhưng phải chờ tới khi BLHS được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới thì mới có cơ hội tội phạm hóa<a href="#_ftn51" name="_ftnref51" title="">[51]</a>. Tình trạng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới khi mà nhiều lĩnh vực mới, hành vi nguy hiểm mới phát sinh cần tội phạm hóa như: Vấn đề tội phạm phát sinh trên không gian mạng, nhất là các hành vi liên quan đến tài sản mã hóa, xâm phạm thông tin cá nhân... bằng pháp luật hình sự đã cho thấy những vướng mắc, bất cập nhất định nếu chỉ áp dụng quy định của BLHS hiện hành.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ hai,</em> <em>có độ vênh giữa cơ quan được giao xây dựng Luật chuyên ngành với cơ quan chủ trì sửa đổi, bổ sung BLHS. </em>Thông thường, khi cơ quan lập pháp xem xét ban hành BLHS với hàng trăm tội danh khác nhau thì thông tin, dữ liệu về nhu cầu tội phạm hóa đối với từng hành vi (để xác lập một tội danh nào đó) khó đầy đủ so với thời điểm cơ quan lập pháp chỉ tập trung xem xét, ban hành đạo luật chuyên ngành. Thêm vào đó, việc không cho phép luật chuyên ngành quy định về tội phạm và hình phạt thường đưa tới thực tế có sự khác nhau trong cách đánh giá, nhìn nhận xử lý một hành vi nhất định, ngay cả khi các Luật này đều được thông qua tại các kỳ họp của Quốc hội.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ ba, khi đạo luật chuyên ngành được ban hành mà không được phép quy định về tội phạm và hình phạt thì cơ quan soạn thảo và cơ quan lập pháp cũng không cần tính tới nhu cầu tội phạm hóa</em><a href="#_ftn52" name="_ftnref52" title=""><sup><sup>[52]</sup></sup></a>. Thông lệ lập pháp này làm cho không ít quy định trong BLHS chứa đựng từ, thuật ngữ không thống nhất với quy định trong các văn bản luật chuyên ngành. Một số khái niệm theo cách hiểu của BLHS và các luật chuyên ngành thiếu thống nhất, gây vướng mắc trong quá trình thực thi<a href="#_ftn53" name="_ftnref53" title=""><sup><sup>[53]</sup></sup></a>. Các luật chuyên ngành không chỉ chiếm số đông mà còn có tính “linh hoạt”, “nhanh” thay đổi do sự phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Trong khi đó, BLHS lại có tính “ổn định” hơn, khó có thể thay đổi nhanh vì lý do kỹ thuật. Thực tiễn cho thấy, các lần sửa đổi BLHS đều có phạm vi sửa đổi rộng, sửa nhiều nội dung của Bộ luật và đều sau thời gian nhiều năm. Theo đó, việc thay đổi kịp thời BLHS để đáp ứng (đầy đủ và chính xác) yêu cầu tội phạm hóa của một luật khác cũng khó khả thi<a href="#_ftn54" name="_ftnref54" title=""><sup><sup>[54]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ tư, để đảm bảo tính khái quát và có thể áp dụng các quy phạm hình sự cho các lĩnh vực khác nhau nên trong BLHS tồn tại nhiều quy định khái quát</em><em>, </em><em>thiếu sự </em><em>cụ thể.</em><a href="#_ftn55" name="_ftnref55" title="">[55]</a> Điều này dẫn đến thực tế là quá trình áp dụng BLHS, các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn không thể chỉ dựa vào quy định của BLHS để xác định tội phạm mà còn phải dựa vào các quy định của pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, do BLHS và các luật chuyên ngành luôn ban hành ở những thời điểm khác nhau, do các cơ quan soạn thảo khác nhau, việc bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ luôn là điều thách thức. Điều đó dẫn đến việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn. Nguyên nhân của hạn chế này một phần là do chỉ có BLHS được quy định về tội phạm và hình phạt trên tất cả các lĩnh vực, cần khả năng bao quát rất rộng, nên với mỗi loại tội phạm, việc quy định cụ thể, chi tiết từng hành vi, việc định lượng là khó khăn và nhiều trường hợp nhà làm luật không thể quy định cụ thể ngay từ đầu, nhất là trong bối cảnh tình hình các vi phạm mới phát sinh do tác động của CMCN 4.0.</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Thứ năm,</em> <em>việc duy trì nguyên tắc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS làm cho tính tương thích với quy định của các điều ước quốc tế của BLHS có những hạn chế nhất định</em><em>. </em>Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa các quy định của các Công ước quốc tế, các điều ước quốc tế song phương vào BLHS. Tuy nhiên, chính hạn chế về nguồn của pháp luật hình sự chỉ là BLHS nên mỗi khi Việt Nam tham gia các công ước có liên quan, yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự theo yêu cầu của công ước quốc tế lại được đặt ra<a href="#_ftn56" name="_ftnref56" title="">[56]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">1.5. Nhận diện các yếu tố tác động, ảnh hưởng đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, cả về mặt lý luận và thực tiễn, khi đánh giá mức độ hoàn thiện hoặc chất lượng của hệ thống pháp luật nói chung hoặc một ngành luật, một chế định luật thường dựa vào những tiêu chí về tính phù hợp, thống nhất; đồng bộ, toàn diện; tính khả thi; tính ổn định, tính dự báo của pháp luật và kỹ thuật lập pháp<a href="#_ftn57" name="_ftnref57" title="">[57]</a>. Do đó, đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự, trước hết cũng cần nhận diện được các yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến các tiêu chí hoàn thiện pháp luật, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.5.1. Yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nhiều mặt như chúng phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, điều kiện chính trị của đất nước, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng cầm quyền; phù hợp với đạo đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác... Trong đó, việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0 cần đảm bảo đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về các giải pháp ứng phó với CMCN 4.0, đảm bảo tính đồng bộ với các giải pháp hoàn thiện các lĩnh vực pháp luật liên quan. Ngoài ra, pháp luật hình sự phải được xây dựng phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của các điều ước và thông lệ quốc tế, có phương pháp điều chỉnh pháp luật phù hợp cho mỗi loại quan hệ xã hội, nhất là đối với những vấn đề pháp lý phát sinh trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Với điều kiện Việt Nam, với tính đến năm 2022, có 68,72 triệu người sử dụng Internet, chiếm 70,3% dân số<strong>,</strong> theo số liệu từ của Trung tâm Internet Việt Nam. Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, đặc biệt trong giai đoạn giãn cách xã hội và xu hướng chuyển đổi số phát triển mạnh. Tốc độ Internet tại Việt Nam được đánh giá ở mức tốt so với thế giới, khi tốc độ download của Internet cố định và di động trung bình trên thế giới trong tháng 11 lần lượt là là 58 Mb/giây và 29,06 Mb/giây. Nhờ đó, ở hai loại hình kết nối này, Việt Nam đang xếp lần lượt thứ <strong>42</strong> và <strong>48</strong> trên thế giới, tăng hạng so với vị trí 50 và 53 hồi tháng 1. Xét riêng trong khu vực Đông Nam Á, Internet Việt Nam đứng sau Singapore, Thái Lan, Malaysia và cao hơn các quốc gia còn lại<a href="#_ftn58" name="_ftnref58" title="">[58]</a>. Với điều kiện hạ tầng kết nối, bên cạnh những lợi ích mang lại cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội, quản trị thì nguy cơ rủi ro từ kết nối Internet ở Việt Nam cũng rất cao, đòi hỏi pháp luật hình sự phải nhận diện và có những điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, để đảm bảo tính khả thi, pháp luật hình sự phải bảo đảm được ban hành phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng pháp luật hiện hành. Nghĩa là, khi ban hành ngoài việc phải xem xét tới điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước thì cần tính đến các điều kiện để có khả năng thực thi các quy định. Đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0, cần tính toán đến những yếu tố về điều kiện đầu tư hạ tầng kỹ thuật công nghệ, mô hình tổ chức bộ máy cơ quan phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật có tính chất đặc thù, tính toán, cân nhắc các phương án chế tài đảm bảo tính răn đe nhưng cũng phù hợp với điều kiện Việt Nam, các yếu tố dư luận xã hội trong nhận thức và chấp hành pháp luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>1.5.2. Yếu tố pháp lý</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Về tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đồng bộ và thống nhất là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Sự thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật. Tính thống nhất của pháp luật được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa các ngành luật trong hệ thống pháp luật; giữa các chế định pháp luật trong cùng một ngành luật; giữa các quy phạm pháp luật trong một chế định pháp luật cũng phải thống nhất. Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật. Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tính thống nhất, đồng bộ của pháp luật hình sự còn thể hiện ở sự thống nhất, đồng bộ với các luật khác cùng điểu chỉnh đối với các vấn đề pháp lý mới phát sinh từ CMCN 4.0. Với tác động mạnh mẽ đối với hệ thống pháp luật, việc nhận diện, phân tích nhằm đề xuất hoàn thiện những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hình sự cần phải được đặt trong bối cảnh chung của hệ thống pháp luật với những chuẩn mực pháp lý, chính sách thích ứng của pháp luật đối với CMCN 4.0 được thể hiện trong các luật chuyên ngành khác, nhất là luật dân sự, kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, an ninh mạng và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trước tác động của CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Về truyền thống pháp lý và năng lực tổ chức thi hành pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hoàn thiện pháp luật nói chung và nhất là pháp luật hình sự. Trong đó, pháp luật hình sự hiện nay được coi là thành tựu pháp điển hóa từ BLHS đầu tiên (năm 1985). Việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong các lần sau đó và cho đến hiện nay đều được nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng nhằm đảm bảo kế thừa những thành tựu nghiên cứu, đúc kết về lý luận luật hình sự và tổng kết đánh giá thực tiễn thi hành một cách công phu. Các sửa đổi, bổ sung đều được đảm bảo thực hiện một cách cẩn trọng. Đây có thể coi là một dấu hiệu đặc trưng của việc hoàn thiện pháp luật hình sự (so với các lĩnh vực pháp luật khác) và điều này xuất phát từ tính chất quan trọng của các quy phạm hình sự với nhiệm vụ bảo vệ những khách thể quan trọng nhất của quốc gia, tính mạng, tài sản, danh dự nhân phẩm của con người.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối với năng lực tổ chức thi hành pháp luật hình sự, bên cạnh những yếu tố tác động như năng lực lập pháp (các điều luật được thiết kế rõ ràng, thống nhất, khả thi), thì việc hoàn thiện pháp luật hình sự cũng cần tính toán đến tổ chức và cách thức vận hành hệ thống tư pháp hình sự trong điều kiện được dự báo là số lượng các tội phạm có thể tăng lên với tính chất và mức độ phức tạp hơn. Những đặc điểm này đòi hỏi năng lực cao hơn của hệ thống tư pháp với sự đầu tư lớn hơn nhằm đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong điều kiện mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>c. Về tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, bảo đảm kỹ thuật lập pháp, lập quy</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Kỹ thuật xây dựng văn bản là tiêu chuẩn đánh giá trình độ, năng lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong soạn thảo, ban hành và hoàn thiện pháp luật hình sự. Nội dung các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng với một trình độ kỹ thuật pháp lý cao có kết cấu chặt chẽ, lô-gíc, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của các quy phạm pháp luật cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Với tiêu chí này, việc hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0 cần đảm bảo yêu cầu cao hơn về kỹ thuật lập pháp với những thuật ngữ mới về công nghệ, mô tả hành vi và những cách thức tính toán và xác định hậu quả của hành vi vi phạm. Những yêu cầu mới này cũng bao gồm việc tương thích với luật pháp quốc tế, tiếp thu được những thành tựu lập pháp hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0 của các quốc gia trong khu vực và thế giới, phù hợp với điều kiện Việt Nam.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>KẾT LUẬN CHƯƠNG MỘT</strong></span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 đã và đang có những tác động tích cực và đặt ra thách thức toàn diện, sâu sắc đến toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chính sách, hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Toàn bộ hệ thống và tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và pháp luật phải thay đổi để thích ứng trong điều kiện mới. CMCN 4.0 đặt ra những thách thức lớn đòi hỏi phải giải quyết trên nhiều phương diện, trong đó có pháp luật hình sự. Vì vậy, nhận diện những vấn đề lý luận mới và thay đổi hệ thống tư pháp hình sự nói chung, pháp luật hình sự Việt Nam ứng phó với các thách thức của cuộc Cách mạng này và trong bối cảnh mới để từng bước điều chỉnh, ứng phó có hiệu quả là nhiệm vụ cấp bách. Qua nghiên cứu, Chương Một của Đề tài đã nhận diện một số vấn đề lý luận pháp luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0 bao gồm:</span></span></p>
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>trên cơ sở tham khảo công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, cần tiếp tục khẳng định các vấn đề lý luận là nền tảng của trách nhiệm hình sự mà nhân loại đã tạo ra và vận dụng chúng để xem xét vấn đề tội phạm do AI thực hiện. Từ đó, có thể kết luận các yếu tố mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm vẫn là những yếu tố bắt buộc để xác định tội phạm và như vậy, chỉ chủ thể nào có đủ khả năng thiết lập mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm. Hiện tại, AI chưa có đủ các phẩm chất về nhận thức, khả năng phán xét về đạo đức và cảm xúc để được coi là chủ thể của tội phạm, do đó AI không phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi được quy định là tội phạm do nó gây ra.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>dưới tác động của CMCN 4.0, nhận thức về các yếu tố cấu thành tội phạm có thể dẫn đến một số thay đổi như: làm xuất hiện khách thể mới cần được bảo vệ bằng luật hình sự; sự xuất hiện ngày càng phổ biến của không gian thực hiện hành vi phạm tội là không gian mạng; làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của hậu quả, thiệt hại gây ra từ hành vi phạm tội và kéo theo một số khả năng thay đổi hệ thống hình phạt trong tương lai.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>cuộc CMCN 4.0 đã và đang tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có quyền con người. Khi xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự trước tác động của CMCN 4.0, các nhà làm luật cần tính đến trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, thông qua việc hạn chế rủi ro vi phạm quyền con người do hậu quả tác động của CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư, </strong>việc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS cũng có những hạn chế, nhất là khó đáp ứng kịp thời nhu cầu tội phạm hóa, hình sự hóa để xử lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới phát sinh trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế phần nào được nhận diện trong quá trình xây dựng các đạo luật chuyên ngành. Bên cạnh đó, khi các đạo luật chuyên ngành không được phép quy định tội phạm và hình phạt thì cơ quan soạn thảo và cơ quan lập pháp cũng không cần tính tới nhu cầu tội phạm hóa. Điều này làm cho việc ban hành các đạo luật chuyên ngành không thực sự ăn khớp với BLHS và kéo theo yêu cầu cần nghiên cứu mở rộng nguồn của luật hình sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong>, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng trong bối cảnh CMCN 4.0 cần được nhận diện và đánh giá những yếu tố liên quan nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính khả thi; đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy luật khách quan và điều kiện kinh tế - xã hội.</span></span></p>
<p>
</p>
<p style="margin-left: 1pt;">
</p>
<p>
</p>
<p align="center" style="margin-left: 1pt;">
</p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG HAI</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">KINH NGHIỆM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.1. Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.1. Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm an ninh quốc gia </em><em>và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Xâm phạm an ninh quốc gia là những hoạt động gây nguy hại đến sự ổn định, vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội và chủ quyền của quốc gia. Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã đặt sự quan tâm hàng đầu với loại tội phạm này, thể hiện bằng việc ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định với chế tài nghiêm khắc đối với những người có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia như: Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946, Sắc lệnh số 151 ngày 12/4/1953, Sắc lệnh số 133 ngày 20/1/1955... Đặc biệt, ngày 27/6/1985, Quốc hội đã thông qua BLHS, trong đó dành một chương trong phần các tội phạm quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (từ Điều 72 đến Điều 100). BLHS năm 1999 sau đó cũng dành Chương XI quy định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đến nay, các tội xâm phạm an ninh quốc gia tiếp tục được quy định trong một Chương riêng - Chương XIII của BLHS năm 2015, theo đó gồm 14 điều, từ Điều 108 đến Điều 122 quy định các tội phạm cụ thể. Về cơ bản, Chương này kế thừa các quy định của BLHS năm 1999 và có một số sửa đổi, bổ sung như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>phi hình sự hóa đối với tội “Hoạt động phỉ” (Điều 83 BLHS năm 1999). Trong quá trình sửa đổi, xây dựng BLHS năm 2015, có một số ý kiến không đồng tình với việc bãi bỏ tội danh này vì tội hoạt động phỉ có dấu hiệu đặc trưng là “hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản” và trong thực tế, trong tương lai vẫn xảy ra hành vi phạm tội này. Tuy nhiên, ý kiến này không được chấp nhận vì nếu có các hành vi hoạt động phỉ xảy ra, thì hành vi này được xét xử tùy theo các dấu hiệu của các tội phạm trong Chương này như tội bạo loạn, khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>sửa tên tội danh và quy định rõ ràng hơn đối với tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 88 BLHS năm 1999), cụ thể thành “tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 117 BLHS năm 2015).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>bổ sung tội danh mới quy định tại Điều 120 BLHS năm 2015: “Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân” để điều chỉnh hành vi phạm tội phát sinh bối cảnh mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư, </strong>bổ sung thêm khách thể vào Điều 108 về tội phản bội Tổ quốc là “tiềm lực quốc phòng, an ninh”, theo đó “công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm, </strong>sửa tên tội danh tội chống phá trại giam thành tội Chống phá cơ sở giam giữ (Điều 119 BLHS năm 2015) vì có thể hành vi được thực hiện ở nhà tạm giam giữ, tạm giam và những nơi đang giam giữ người thực hiện hành vi phạm tội được gọi chung là cơ sở giam giữ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ sáu, </strong>bổ sung hành vi chuẩn bị phạm tội và mức hình phạt đối với các hành vi này được quy định trong từng tội phạm cụ thể.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ bảy, </strong>bổ sung quy định riêng tại Điều 122 BLHS năm 2015 về hình phạt bổ sung có thể được áp dụng đối với các tội phạm trong nhóm này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh CMCN 4.0, bên cạnh những thay đổi tích cực trong đời sống xã hội cũng kéo theo không ít tác động tiêu cực và thách thức đối với Việt Nam, trong đó có thách thức về xử lý các hành vi xâm phạm trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị… trong bối cảnh này, cụ thể thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật để xử lý các hành vi này trong bối cảnh CMCN 4.0 như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về xử lý hành vi kích động người dân chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên không gian mạng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Không gian mạng được hiểu là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian<a href="#_ftn59" name="_ftnref59" title=""><sup><sup>[59]</sup></sup></a>. Một cách tiếp cận khác, dưới góc độ là một tính chất xã hội, không gian mạng là môi trường xã hội đặc biệt của con người hội tụ đủ 06 thành tố: (1) chính sách, pháp luật; (2) năng lực công nghệ; (3) nội dung thông tin; (4) nguồn nhân lực; (5) cơ cấu tổ chức bộ máy; (6) ý thức của con người trên không gian mạng, tạo ra môi trường xã hội đặc biệt của con người<a href="#_ftn60" name="_ftnref60" title=""><sup><sup>[60]</sup></sup></a>. Tuy nhiên, sự phát triển của không gian mạng cũng trở thành một công cụ đắc lực cho lực lượng chống chính quyền cả trong nước và quốc tế sử dụng để đe dọa đến chủ quyền quốc gia trên không gian mạng cũng như hệ thống chính trị, an ninh quốc gia trong thực tế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hành vi phạm tội sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia của các thế lực thù địch, phản động ngày càng phức tạp và nguy hiểm, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình chống đối, bạo loạn, lật đổ chính quyền… Thông qua các trang mạng xã hội để liên kết, móc nối trong ngoài, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền đương nhiệm, điển hình trên thế giới là các phong trào “<em>Cách mạng hoa lài</em>” hay “<em>mùa xuân Ả Rập</em>”<a href="#_ftn61" name="_ftnref61" title=""><sup><sup>[61]</sup></sup></a>. Cũng trong một cuộc điều tra của báo Al Jazzera, một thông tin đáng chú ý là có tới 90% người tham gia “<em>Cuộc Cách mạng màu</em>” được hỏi tại Tunisia và Ai Cập đã thừa nhận từng sử dụng mạng xã hội Facebook để loan truyền lời kêu gọi biểu tình. Hàng vạn thông tin giả mạo bị cắt xén để dàn dựng có chủ đích của lực lượng chống đối. Thậm chí, không ít các chuyên gia đánh giá chính các trang mạng xã hội đã đánh sập các chính phủ dân cử tại Tunisia và Ai Cập<a href="#_ftn62" name="_ftnref62" title=""><sup><sup>[62]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tại Việt Nam, năm 2020, Bộ Công an đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu, trong đó có 31 trang mạng, blog, 55 kênh Youtube, 49 trang fanpage, 765 tài khoản facebook, 149 hội nhóm chống đối cực đoan, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video, clip có nội dung xấu, độc hại. Trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, phá hoại, phổ biến các quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta<a href="#_ftn63" name="_ftnref63" title=""><sup><sup>[63]</sup></sup></a>. Các đối tượng thù địch triệt để sử dụng mạng xã hội để thực hiện âm mưu “<em>diễn biến hòa bình</em>”, đẩy mạnh khoét sâu các mâu thuẫn tồn tại trong xã hội để hô hào, kích động người dân xuống đường biểu tình chống đối, kêu gọi các quốc gia khác can thiệp và tập hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền; tuyên truyền, gây mất đoàn kết và phá hoại nội bộ lãnh đạo, gây suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước<a href="#_ftn64" name="_ftnref64" title=""><sup><sup>[64]</sup></sup></a>. Theo Thống kê của Cục An ninh mạng (Bộ Công an), từ năm 2011 đến năm 2021, các thế lực thù địch, phần tử xấu đã, đang sử dụng 8.784 web, blog có tên miền nước ngoài; 381 trang web, blog có tên miền trong nước thường xuyên đăng tải thông tin xấu độc. Cơ quan công an các cấp đã phát hiện 279 vụ sử dụng Internet xâm phạm an ninh quốc gia, đấu tranh với hơn 200 đối tượng, bắt giữ và xử lý 140 đối tượng. Trong số đó, có 219 vụ kích động biểu tình trên không gian mạng; 138 hội, nhóm trá hình hoạt động trên không gian mạng<a href="#_ftn65" name="_ftnref65" title=""><sup><sup>[65]</sup></sup></a>. Chỉ trong 08 tháng từ ngày 01/10/2020 đến ngày 31/7/2021, Cơ quan an ninh điều tra các cấp đã khởi tố 21 vụ án, bắt 28 bị can có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia<a href="#_ftn66" name="_ftnref66" title=""><sup><sup>[66]</sup></sup></a>. Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng, năm 2019, A05 đã khởi tố 10 vụ với 116 bị can; bắt giữ và bàn giao cảnh sát các nước 555 đối tượng; 71 phối hợp xử phạt hành chính và trục xuất 254 đối tượng. Điều này cho thấy tình hình tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông đang có chiều hướng ngày càng phức tạp, với diễn biến tăng cả về số vụ và tính chất, mức độ, hậu quả. Đây mới chỉ là số vụ việc được phát hiện, còn theo đánh giá của cơ quan chức năng và các chuyên gia thì số vụ còn ẩn là vô cùng lớn, bởi tính đặc thù hoạt động trong thế giới “ảo” của loại tội phạm này. Điều này cũng chỉ ra rằng, thực tế số vụ vi phạm pháp luật hình sự phát hiện tương đối nhiều, nhưng số vụ khởi tố và truy tố rất thấp, bởi chủ thể tội phạm thực hiện trên không gian mạng, có thể ở một nơi nhưng lại gây ra hậu quả toàn cầu, do đó rất khó xác định chủ thể để truy nguyên và bắt giữ, do rào cản về không gian mạng và lãnh thổ<a href="#_ftn67" name="_ftnref67" title=""><sup><sup>[67]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thủ đoạn của các đối tượng phạm tội thường lợi dụng những sự kiện lớn, trọng đại của đất nước để kích động người dân; lôi kéo, hô hào người dân tập hợp đông người, xuống đường biểu tình và sau đó dẫn đến bạo động. Có thể kể đến như đối tượng Trần Minh Huệ (37 tuổi, Thanh Hóa) và Nguyễn Đình Thành (27 tuổi, Bình Dương), sau khi truy cập một số trang mạng của các tổ chức phản động từ nước ngoài đã bị dụ dỗ rải truyền đơn kêu gọi biểu tình trái phép. Sau đó, Huệ đã soạn tay với nội dung kêu gọi biểu tình phản đối việc cho thuê đất tại đặc khu kinh tế. Huệ và Thành đều bị bắt khi đang phát tờ rơi mang nội dung kích động này<a href="#_ftn68" name="_ftnref68" title=""><sup><sup>[68]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Sau khi kích động tụ tập, tuần hành, gây rối nhằm tạo ra các đợt “<em>biểu tình toàn quốc kéo dài</em>”, điểm nóng bạo loạn bị thất bại, các thế lực thù địch tiếp tục xuyên tạc việc xử lý những người vi phạm pháp luật khi gây rối trật tự công cộng, đốt phá tài sản của Nhà nước là “<em>đàn áp dã man</em>” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc. Đặc biệt, sau khi Chủ tịch nước ký lệnh công bố ban hành Luật An ninh mạng, các đối tượng tiếp tục thổi phồng đạo luật này nhằm “<em>bịt mồm nhân dân</em>”, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống của người dân và vi phạm chính bản Hiến pháp năm 2013. Ngoài ra, chúng cũng phát động phong trào “<em>bất tuân dân sự</em>” đối với Luật An ninh mạng và sự quản lý của Nhà nước<a href="#_ftn69" name="_ftnref69" title=""><sup><sup>[69]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đến tháng 02/2022, Bộ Công an đã tổ chức đấu tranh, thực hiện đối sách với 124 đối tượng phản động, chống phá, phá hoại bầu cử; quản lý giám sát 1.251 đối tượng phản động, chống đối, đấu tranh; phá rã 04 nhóm phản động; ngăn chặn 02 chiến dịch tuyên truyền chống phá cuộc bầu cử của phản động lưu vong; thu giữ hàng trăm đầu tài liệu phản động; khởi tố, bắt 03 đối tượng vi phạm pháp luật chống phá bầu cử; khởi tố 11 đối tượng đưa tin xuyên tạc sự thật liên quan đến bầu cử trên không gian mạng. Cục An ninh mạng đã đấu tranh, vô hiệu hóa hơn 200 mục tiêu trên không gian mạng, gỡ bỏ 658 video clip có nội dung xuyên tạc cuộc bầu cử<a href="#_ftn70" name="_ftnref70" title=""><sup><sup>[70]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii)</em><em> Về xử lý hành vi sử dụng Internet làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nếu như trước đây, những hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống chính quyền nhân dân được các đối tượng chuyền tay nhau hoặc được cất giữ bí mật trong nhà riêng, nơi làm việc… thì hiện nay, với sự phát triển của Internet, các tài liệu này được các đối tượng tích cực lan truyền trên các mạng xã hội với tầm ảnh hưởng đến nhiều người hoặc lưu trữ trên hệ thống lưu trữ đám mây với khối lượng khổng lồ. BLHS năm 2015 quy định tại Điều 117 về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực tiễn cho thấy thủ đoạn phạm tội của các đối tượng thường xuyên đưa những thông tin xuyên tạc sai sự thật đối với một số cán bộ cấp cao, hoặc những vụ án, sự kiện trong nước nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điển hình có thể kể đến như vụ án tại Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, Hà Nội), ngay sau khi 29 bị cáo có hành vi giết người, gây rối trật tự công cộng bị bắt, một loạt các đối tượng của các tổ chức phản động đã “<em>lên bài</em>” trên các trang mạng xã hội hoặc trang web nhằm mục đích đưa ra những thông tin sai sự thật về vụ án trên. 02 đối tượng Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm đã lợi dụng mạng xã hội, phát tán các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân “<em>Trịnh Bá Phương</em>”, “<em>Nguyễn Thị Tâm</em>”, “<em>Tâm Dương Nội</em>” các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm. Tuy nhiên, những thông tin này đã tuyên tạc, bịa đặt tình hình đang diễn ra tại Đồng Tâm, phỉ báng chính quyền nhân dân, kích động nhân dan chống đối chính quyền, thóa mạ, hạ uy tín lực lượng chức năng, xúc phạm uy tín danh dự của người khác, gây hoang mang trong nhân dân. Đáng lưu ý, các thông tin và nội dung này thu hút rất nhiều lượt người xem, tương tác, chia sẻ, bình luận có nội dung tiêu cực, phản đối chính quyền, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước. Hội đồng xét xử TAND TP. Hà Nội nhận định “<em>hành vi của các bị cáo gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; đe dọa phá vỡ sự vững mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây ảnh hưởng đến uy tín và sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân; gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội, chính trị của Nhà nước và từng địa phương</em>”. Việc các bị cáo lại nhiều lần đưa những thông tin sai sự thật lên trang mạng xã hội nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng “<em>phạm tội 02 lần trở lên</em>”. Do đó, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Trình Bá Phương 10 năm tù và Nguyễn Thị Tâm 06 năm tù về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 117)<a href="#_ftn71" name="_ftnref71" title=""><sup><sup>[71]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Lợi dụng vụ án Đồng Tâm, nhiều đối tượng cũng đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật gây kích động đối với một số người dân, như đối tượng Chung Hoàng Chương (Cần Thơ) - chủ tài khoản facebook “<em>Chương may mắn</em>” đã chia sẻ nhiều bài viết chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lãnh đạo Trung ương, địa phương. Trong vụ án Đồng Tâm, đối tượng này đã có viết và chia sẻ nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, xúc phạm uy tín, danh dự của 03 chiến sĩ công an hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ<a href="#_ftn72" name="_ftnref72" title=""><sup><sup>[72]</sup></sup></a>. Hoặc như đối tượng Trần Hoàng Minh (Hà Nội) đã sử dụng facebook của mình và nhóm facebook do mình làm chủ để có hành vi đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung vu khống, xúc phạm lãnh đạo Công an thành phố Hà Nội, kêu gọi người thuộc xã Đồng Tâm giết thẩm phán xét xử sơ thẩm vụ án<a href="#_ftn73" name="_ftnref73" title=""><sup><sup>[73]</sup></sup></a>… Tuy nhiên, những đối tượng này, trong quá trình điều tra chỉ xác định có hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước, cụ thể đây là lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội mà không nhằm mục đích chống chính quyền nên chỉ bị xét xử về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Về xử lý hành vi phá hoại không gian mạng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các hoạt động xâm phạm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trên thực tế hiện nay có thể kể đến gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>C</em><em>hiến tranh mạn</em><em>g</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đây là một hình thái chiến tranh mới, vượt ra khỏi khuôn khổ khái niệm về chiến tranh quân sự truyền thống, là cuộc chiến tranh bất đối xứng, chỉ một lực lượng nhỏ cũng có thể gây thiệt hại lớn cho đối phương. Các đối tượng sử dụng lực lượng tinh nhuệ để lập trình, chế tạo, sản xuất và nhân bản hàng loạt vũ khí mạng như mã độc, hệ thống công cụ tấn công mạng, hệ thống công cụ tình báo mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>G</em><em>ián điệp mạng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hành vi này tấn công vào hệ thống máy tính của các cơ quan chính quyền, tập đoàn kinh tế, hệ thống ngân hàng hoặc hệ thống thông tin của các cảng sân bay hàng không quốc tế… để đánh cắp dữ liệu số, thông tin bí mật hoặc tấn công mã độc, chiếm quyền kiểm soát, điều khiển thông tin<a href="#_ftn74" name="_ftnref74" title=""><sup><sup>[74]</sup></sup></a>…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>C</em><em>ác hành vi khủng bố mạng hoặc tội phạm mạng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chính những hình thức tấn công mới đã đặt Việt Nam đối mặt với những nguy cơ hiện hữu, xâm phạm trực tiếp chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, với những cách thức phi truyền thống nhưng sức ảnh hưởng lại lớn hơn rất nhiều. Cũng vì lý do đó, Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI, về “<em>Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới</em>” khẳng định, nguy cơ xảy ra khủng bố, chiến tranh mạng, mất an ninh thông tin ngày càng gia tăng. Mục tiêu tấn công của kẻ địch trong trường hợp chiến tranh mạng xảy ra đối với Việt Nam là hệ thống hạ tầng truyền dẫn vật lý (cáp truyền dẫn quốc tế, trục truyền dẫn nội bộ quốc gia); các hạ tầng dịch vụ lõi (router, thiết bị mạng…); các hệ thống cơ sở dữ liệu, mạng máy tính, hệ thống điều khiển tự động hóa của các cơ sở quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh, như nhà máy thủy điện, nhiệt điện, giàn khoan, sân bay, hải cảng<a href="#_ftn75" name="_ftnref75" title=""><sup><sup>[75]</sup></sup></a>…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đáng chú ý là theo đánh giá chỉ số an toàn không gian mạng quốc gia (Nation Cyber Security Index - gọi tắt là NCSI) với các dữ liệu được thu thập được chỉ đánh giá chỉ số Phòng chống tội phạm mạng của Việt Nam trong năm 2022 đạt 1/9 điểm. Theo thống kê của NCSI, các quốc gia có mức độ rủi ro thấp là những nước có sự đầu tư rất lớn cho việc phòng ngừa. Trong đó, 3 quốc gia có mức độ rủi ro thấp nhất với tội phạm mạng là Đan Mạch, Đức và Hoa Kỳ<a href="#_ftn76" name="_ftnref76" title="">[76]</a>. Myanma, Camphuchia, Honduras là 3 quốc gia có nguy cơ bị tấn công cao nhất. Việt Nam đạt 36,36 điểm và xếp hạng 86 về chỉ số an ninh mạng quốc gia. Cụ thể các chỉ số được thể hiện trong số liệu dưới đây:</span></span></p>
<p align="center">
</p>
<p align="right">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(Nguồn: Nation Cyber Security Index)</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực trạng tại Việt Nam hiện nay, 100% cơ quan Nhà nước có cổng thông tin điện tử, sử dụng mạng nội bộ LAN, Extranet, Internet; sử dụng các kênh liên lạc trên không gian mạng để giao dịch. Tuy nhiên, Việt Nam lại bị đánh giá là quốc gia đứng đầu thế giới về nguy cơ bị nhiễm mã độc, phần mềm độc hại với 70% người dùng máy tính có nguy cơ bị lây nhiễm cao; đứng thứ ba về số lượng người dùng di động bị mã độc tấn công nhiều nhất thế giới; đứng thứ tư trên thế giới về nguy cơ bị nhiễm độc khi sử dụng Internet. Theo thống kê, có 45.498 lượt cổng thông tin, trang điện tử có tên miền “.vn” bị tấn công, trong đó có 2.113 lượt tấn công các cổng thông tin, trang tin điện tử của cơ quan Đảng, Nhà nước, gây ra những hậu quả nghiêm trọng<a href="#_ftn77" name="_ftnref77" title="">[77]</a>. Năm 2020, Việt Nam có tới 73% số vụ lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra trên không gian mạng, tăng khoảng 3% so với năm 2019<a href="#_ftn78" name="_ftnref78" title="">[78]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hoặc như vụ việc vào tháng 7 năm 2016, một nhóm tin tặc Trung Quốc đã tấn công vào hệ thống thông tin của Tổng Công ty hàng không Việt Nam. Cuộc tấn công diễn ra trên diện rộng với 02 điểm chính là càng Hàng không Nội Bài và Tân Sơn Nhất và một số sân bay nhỏ. Ngoài ra, website của Vietnam Airlines và hệ thống điều khiển màn hình, loa phát thanh ở các sân bay cũng bị xâm nhập và thay đổi dữ liệu, trong đó có những hình ảnh kích động, xuyên tạc về biển Đông hoặc thông tin nói xấu Việt Nam và Philippines<a href="#_ftn79" name="_ftnref79" title="">[79]</a>. Tuy nhiên, vụ việc tấn công vào Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, chỉ có thể khắc phục sự cố chứ không thể tìm ra những người thực hiện tội phạm và xử phạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các tội xâm phạm an ninh quốc gia còn gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>khó khăn trong việc xác định mục đích của những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Thực tiễn cho thấy những hành vi trực tiếp xâm phạm đến an ninh quốc gia nếu không chứng minh được nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì sẽ chỉ xử lí theo Mục 2 - Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đồng thời, nếu không có sự hợp tác quốc tế, nhất là trong tương trợ tư pháp giữa các quốc gia thì rất khó để phát hiện, tiến hành tố tụng để xử lý các hành vi phạm tội này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>chưa bổ sung quy định cụ thể về việc xác định yếu tố nước ngoài trong các vụ án, vụ việc xâm phạm an ninh quốc gia dẫn đến lúng túng trong việc xác định yếu tố nước ngoài. Đồng thời, hệ thống pháp luật liên quan đến hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và các biện pháp ngăn chặn nói riêng còn chưa được hoàn thiện, cụ thể như đối với những nước chưa có hiệp định tương trợ tư pháp về việc bắt giữ, dẫn độ đối tượng đang cư trú ở nước đó thì việc bắt giữ, dẫn độ bị phụ thuộc bởi hiệu quả đàm phán và thoả thuận song phương.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>trong bối cảnh CMCN 4.0, nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia có sự câu kết giữa các đối tượng trong nước với các phần tử chống đối lưu vong ở nước ngoài được thực hiện trên không gian mạng, tại lãnh thổ nước ngoài gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc phát hiện cũng như các đối tượng phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.2. Thực trạng pháp luật về hành vi xâm phạm thông tin cá nhân và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam có nền tảng là nguyên tắc bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và bí mật cá nhân, được ghi nhận tại Điều 21 Hiến pháp 2013. Cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp là một loạt các luật, bộ luật và văn bản chuyên ngành với các quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân, như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Công nghệ thông tin năm 2006, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Viễn thông năm 2009, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật Quản lý thuế năm 2006, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị định 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Nghị định 58/2016/NĐ-CP về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự, xuất nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự, và Nghị định 25/2014/NĐ-CP về quy định phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao<a href="#_ftn80" name="_ftnref80" title="">[80]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về chế tài hình sự, BLHS năm 2015 có quy định về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác” tại Điều 159 và “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” (Điều 288). Đối với tội phạm xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác: (i) mức thấp nhất là áp dụng hình phạt tiền (từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng) hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm; (ii) Hình phạt cao nhất được áp dụng khi có thêm tình tiết tăng nặng là phạt tù từ 01 năm đến 03 năm và hình phạt bổ sung có thể được áp dụng với người phạm tội là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Để bảo vệ quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong môi trường mạng xã hội thì những người có hành vi vi phạm quyền riêng tư thông tin cá nhân, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 288 BLHS năm 2015 về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù, phạt tiền từ 20 triệu đến 200 triệu đồng; trường hợp có tình tiết tăng nặng thì phạt tối đa 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, từ thực tế diễn biến vi phạm pháp luật trong thời gian gần đây cho thấy cả 02 tội danh này chưa quy định cụ thể, trực tiếp về các hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới dữ liệu cá nhân đang diễn ra hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử đã có một số quy định bước đầu về việc xử lý hành vi vi phạm trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cụ thể, theo quy định tại Điều 84, 85, 86 của Nghị định này, các vi phạm quy định về thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; về cập nhật, sửa đổi và hủy bỏ thông tin cá nhân; về bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng đều bị phạt tiền.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đáng chú ý trong thời gian gần đây là Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua vào năm 2018 và Nghị định quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trong quá trình dự thảo. Luật An ninh mạng năm 2018 gồm 43 điều chia thành 7 chương với các nội dung: quy định chung (Chương I); bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia (Chương II); phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng (Chương III); hoạt động bảo vệ an ninh mạng (Chương IV); bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng (Chương V); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Chương VI); và điều khoản thi hành (Chương VII). Luật An ninh mạng năm 2018 có những nội dung nổi bật như nghiêm cấm thông tin sai sự thật gây hoang mang trên mạng, doanh nghiệp nước ngoài phải lưu trữ dữ liệu người dùng tại Việt Nam, ngừng cung cấp dịch vụ mạng khi có yêu cầu của cơ quan chức năng, doanh nghiệp phải cung cấp thông tin người dùng để phục vụ điều tra, thông tin vi phạm trên mạng bị xóa bỏ trong vòng 24 giờ, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, “nghe lén” các cuộc đàm thoại được coi là hành vi gián điệp mạng, và khuyến khích cá nhân và tổ chức tham gia phổ biến kiến thức an ninh mạng<a href="#_ftn81" name="_ftnref81" title="">[81]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự bùng nổ mạng xã hội, vạn vật kết nối, tự động hóa, thanh toán điện tử… cuộc CMCN 4.0 đã và đang tạo ra một không gian sinh tồn của con người có sự song hành và đan quyện giữa thế giới ảo (cyberspace) với thế giới thực (offline). Mỗi cá nhân, tổ chức hiện nay có thể có hai đời sống, một ở trên không gian mạng và một ở thế giới thực tại, trong đó thế giới ảo đóng vai trò ngày càng lớn trong sinh hoạt của mỗi người. Trong thế giới ảo đó, các cá nhân được phân biệt với nhau bằng các dữ liệu giúp xác định danh tính (còn gọi là thông tin cá nhân - personal data). Những thông tin cá nhân này có thể bao gồm nhiều thông tin thiết yếu và quan trọng gắn với mỗi cá nhân con người như họ tên, quê quán, số tài khoản ngân hàng, mật khẩu truy cập, hay thậm chí là lịch sử duyệt web… Nắm được những thông tin cá nhân này có thể là chìa khóa để tạo lợi thế trong kinh doanh. Thông tin cá nhân về bản chất là các thông tin gắn với mỗi cá nhân. Vì thế, từ lâu thông tin cá nhân đã được thu thập để phục vụ công tác quản trị của nhà nước. Con người càng tiến bộ, các thông tin cá nhân càng phát huy giá trị. Thực tế, việc bảo vệ thông tin cá nhân đã nổi lên như một vấn đề chính sách từ khoảng những năm 1960 - 1970 (khởi điểm của cuộc CMCN lần thứ ba) khi nhiều quốc gia châu Âu đưa ra các cải cách xã hội trên nhiều mặt mà để triển khai những cải cách này, chính quyền cần thu thập và xử lý lượng lớn dữ liệu của các công dân thông qua mạng máy tính<a href="#_ftn82" name="_ftnref82" title=""><sup><sup>[82]</sup></sup></a>. Ngày nay, không chỉ nhà nước, mà các nhà cung cấp dịch vụ internet, các ngân hàng và công ty hay cả các cá nhân cũng đều có thể dễ dàng lấy, xin, hoặc tiếp cận thông tin cá nhân, nhờ kết nối ảo rộng khắp mà cuộc CMCN 4.0 đem lại. Bảo vệ thông tin cá nhân chính là ngăn chặn những hành vi không chính đáng, gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu (data subject).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bảo vệ thông tin cá nhân càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh tình hình vi phạm và tội phạm trên không gian mạng ngày càng phức tạp. Theo Cuộc Khảo sát Rủi ro và Bảo hiểm Mạng Toàn cầu năm 2022 được thực hiện với hơn 7.000 người tham gia từ 14 quốc gia, các cuộc tấn công ransomware đã tăng từ 21% lên 28%, vi phạm dữ liệu tăng từ 32% lên 43% và lừa đảo trên mạng tăng từ 38% lên 46%. Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi là ba quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất<a href="#_ftn83" name="_ftnref83" title=""><sup><sup>[83]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Dưới góc độ pháp lý, bảo vệ thông tin cá nhân cũng là bảo vệ quyền riêng tư của con người. Các quy định của pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân “được tiếp cận và phát triển từ quyền riêng tư”<a href="#_ftn84" name="_ftnref84" title=""><sup><sup>[84]</sup></sup></a>. Các quy định này hướng đến ba nhóm mục tiêu: (1) bảo vệ sự riêng tư và các giá trị xã hội có liên quan của cá nhân; (2) nâng cao trách nhiệm của bên lưu trữ và bên sử dụng các thông tin cá nhân; và (3) cải thiện tính liêm chính và hiệu quả của các quy trình đưa ra quyết định<a href="#_ftn85" name="_ftnref85" title=""><sup><sup>[85]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân cũng dần được quan tâm ở góc độ các quốc gia, các thiết chế khu vực và quốc tế. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra Hướng dẫn OECD năm 1980 về Bảo vệ Quyền Riêng tư và Chuyển Thông tin cá nhân qua Biên giới. Hướng dẫn đưa ra những chuẩn tối thiểu để các quốc gia và tổ chức tham khảo. Bước tiến tiếp theo là Công ước năm 1981 về Bảo vệ Cá nhân trên khía cạnh Xử lý Thông tin cá nhân Tự động của Hội đồng châu Âu được xây dựng để các quốc gia ký kết gia nhập, theo đó các bên tham gia có nghĩa vụ áp dụng các quy định của Công ước cho “các tệp thông tin cá nhân tự động và việc xử lý thông tin cá nhân tự động trong khu vực công và tư”<a href="#_ftn86" name="_ftnref86" title=""><sup><sup>[86]</sup></sup></a>. Quy định chung về Bảo vệ Dữ liệu (GDPR) của EU được ban hành năm 2016, tạo ra một khung khổ pháp lý cho các quốc gia EU trong giải quyết kịp thời các vấn đề (nhất là những vấn đề mới phát sinh) liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân dưới nhiều góc độ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tại Việt Nam, sự gia tăng của xu hướng làm việc kết hợp và sự thay đổi liên tục của các phương thức tấn công tinh vi đang đặt ra vô vàn thách thức về an ninh mạng trong năm 2022<a href="#_ftn87" name="_ftnref87" title="">[87]</a>. Nguyên nhân gia tăng các cuộc tấn công trong nước là: lỗ hổng bảo mật trong các hệ điều hành, ứng dụng; người dùng phần mềm ứng dụng không bản quyền; trang thiết bị về an toàn thông tin chưa được đầu tư; chính sách an toàn thông tin chưa chặt; nhận thức về an toàn thông tin chưa cao<a href="#_ftn88" name="_ftnref88" title=""><sup><sup>[88]</sup></sup></a>. Các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân diễn ra bằng những cách thức phức tạp với nhiều mục đích và nhiều nhóm đối tượng khác nhau: đánh cắp, tiết lộ thông tin cá nhân, trở thành tài sản bị mua bán tràn lan làm tiềm ẩn nhiều nguy cơ, rủi ro cho cá nhân; tiết lộ thông tin cá nhân của người nổi tiếng trên báo chí, mạng xã hội; tiết lộ thông tin cá nhân của một số nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội như trẻ em hay người mắc bệnh hiểm nghèo; và thu thập thông tin cá nhân từ việc xâm nhập, can thiệp một cách trái phép vào hệ thống thông tin điện tử bằng mã độc<a href="#_ftn89" name="_ftnref89" title=""><sup><sup>[89]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc bảo vệ thông tin cá nhân trong pháp luật Việt Nam có nền tảng là nguyên tắc bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và bí mật cá nhân, được ghi nhận tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013. Cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp là một loạt các luật, bộ luật và văn bản chuyên ngành với các quy định bảo vệ thông tin cá nhân<a href="#_ftn90" name="_ftnref90" title="">[90]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, những khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân phần lớn xuất phát từ bất cập trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về thông tin cá nhân, cụ thể<a href="#_ftn91" name="_ftnref91" title="">[91]</a>:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất,</strong> phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân chưa đủ toàn diện. Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân mới tập trung điều chỉnh việc bảo vệ thông tin cá nhân trên môi trường mạng<a href="#_ftn92" name="_ftnref92" title=""><sup><sup>[92]</sup></sup></a>. Việc bảo vệ thông tin cá nhân trong thế giới vật lý/thực (không trên môi trường mạng) chưa được đặt ra<a href="#_ftn93" name="_ftnref93" title=""><sup><sup>[93]</sup></sup></a>. Điều này có nghĩa rằng, các hành vi thu thập và xử lý thông tin cá nhân bằng cách thức thủ công chưa bị điều chỉnh theo các chuẩn mực pháp lý về thu thập và xử lý thông tin cá nhân được quy định rõ ràng trong văn bản quy phạm pháp luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai,</strong> có sự chồng chéo giữa nội dung các quy định tại Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các quy định tại Điều 17, 18 và 19 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, đồng thời có nội dung mâu thuẫn giữa các quy định này<a href="#_ftn94" name="_ftnref94" title="">[94]</a>. Có sự không thống nhất trong quy định về định nghĩa “thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (Khoản 15 Điều 3)<a href="#_ftn95" name="_ftnref95" title=""><sup><sup>[95]</sup></sup></a> và một số văn bản dưới Luật (chẳng hạn, Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước<a href="#_ftn96" name="_ftnref96" title=""><sup><sup>[96]</sup></sup></a>, Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT ngày 15/11/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; Khoản 13 Điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử)<a href="#_ftn97" name="_ftnref97" title=""><sup><sup>[97]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba,</strong> các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa dự liệu tới những tình huống thực tế trong thu thập, xử lý thông tin cá nhân như: việc thu thập và xử lý thông tin cá nhân là trẻ em cần lấy ý kiến đồng ý của những ai, việc chuyển thông tin cá nhân xuyên biên giới cần được kiểm soát như thế nào, việc vô danh hóa thông tin cá nhân để sử dụng phải chịu những ràng buộc pháp lý nào…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư,</strong> các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân hiện nay chưa có quy định về quyền được quên (right to be forgotten) trong những trường hợp cần thiết (một loại quyền năng có giá trị nhân bản mà pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của nhiều quốc gia đã có quy định).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm, </strong>các chế tài đối với hành vi xâm phạm thông tin cá nhân còn một số bất cập và chưa đủ răn đe, còn nhẹ so với quy định của nhiều quốc gia. Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện nay đã có các quy định xử phạt đối với một số hành vi vi phạm liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân, nhưng các quy định trên chưa bảo đảm đầy đủ, toàn diện để làm cơ sở xử phạt đối với các hành vi vi phạm không thuộc lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tần số vô tuyến điện, thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Bên cạnh đó, mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân còn nhẹ<a href="#_ftn98" name="_ftnref98" title=""><sup><sup>[98]</sup></sup></a> so với thông lệ của nhiều quốc gia trên thế giới<a href="#_ftn99" name="_ftnref99" title=""><sup><sup>[99]</sup></sup></a> và cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ sáu, </strong>BLHS năm 2015 mới chỉ có một số quy định bước đầu tại Điều 159 về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác và Điều 288 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông<a href="#_ftn100" name="_ftnref100" title=""><sup><sup>[100]</sup></sup></a>. Tuy nhiên, 02 tội danh này chưa quy định cụ thể, trực tiếp về các hành vi vi phạm pháp luật liên quan tới thông tin cá nhân đang diễn ra hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.3. Thực trạng pháp luật về các tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Pháp luật hình sự từ trước đến nay đã có quy định liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Qua nghiên cứu BLHS đầu tiên của Việt Nam là BLHS năm 1985, có thể thấy, các nhà làm luật không xây dựng một cấu thành tội phạm nào đối với hành vi phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng mà chỉ có một tội danh cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ở Điều 174. Sau đó, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng chính thức được ban hành vào năm 1997 đã quy định cụ thể về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Đây cũng chính là cơ sở pháp lý để nhà làm luật quy định các hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng vào trong BLHS năm 1999, tuy nhiên hầu hết các quy định còn mang tính chất định tính trong việc xác định hậu quả. Khi BLHS năm 2015 ra đời, cùng với những quy định mới về tội phạm ngân hàng nói riêng, dấu hiệu phản ánh hậu quả có tính chất định tính trước đây đã được thay thế bởi các dấu hiệu mang tính định lượng. Với việc định lượng hóa các dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, nhất là với những tội phạm có thể xác định được thiệt hại như trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng là điều thực sự cần thiết, cho thấy quan điểm của các nhà làm luật nước ta đã có sự thay đổi đáng kể, tạo điều kiện cho việc thực thi trong thực tiễn. Trong các hành vi liệt kê tại Điều 206 BLHS năm 2015 về tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng, chỉ có hành vi “kinh doanh vàng trái phép hoặc kinh doanh ngoại hối trái phép” không cùng dấu hiệu chủ thể, các hành vi còn lại vẫn là hành vi vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng do các chủ thể là người có chức vụ hoặc có quyền hạn nhất định hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện. Bên cạnh tội danh này, một số tội danh có liên quan đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng mà có sử dụng công nghệ cao, sử dụng thiết bị công nghệ thông tin để phạm tội cũng được quy định mới hoặc bổ sung trong một số cấu thành tội phạm trong BLHS, đó là các hành vi: Phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử đối với hệ thống tài chính, ngân hàng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 286 BLHS năm 2015); hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử đối với hệ thống tài chính, ngân hàng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 287 BLHS năm 2015); hành vi xâm phạm trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của hệ thống tài chính, ngân hàng (quy định tại điểm b khoản 3 Điều 289 BLHS năm 2015); hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội, cụ thể là sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ (điểm a khoản 2 Điều 290 BLHS năm 2015); hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (Điều 291 BLHS năm 2015); hành vi rửa tiền (Điều 324 BLHS năm 2015).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật để xử lý các hành vi phạm tội trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng nổi lên cho thấy, hình thức phạm tội thông qua các ứng dụng tài chính - ngân hàng đang ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là dưới tác động mạnh mẽ của công nghệ số. Bên cạnh những tiện ích mang lại, những dịch vụ trên cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Một số đối tượng lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người dùng để thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản với nhiều chiêu thức tinh vi. Một số hành vi phạm tội tiêu biểu trong lĩnh vực này có thể kể đến bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tài khoản là bản ghi chép các giao dịch giữa các bên giao dịch<a href="#_ftn101" name="_ftnref101" title=""><sup><sup>[101]</sup></sup></a>. Tài khoản ngân hàng là bản ghi chép các giao dịch giữa cá nhân, tổ chức với ngân hàng, được đăng ký tại ngân hàng, cho phép cá nhân, tổ chức gửi tiền vào để tiết kiệm hoặc thanh toán. Tài khoản ngân hàng thường được chia làm 2 loại là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (tài khoản vãng lai, tài khoản thanh toán) và tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo khoản 3, 4 Điều 2 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp các thông tin có liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng, thông tin về tài khoản ngân hàng, thẻ ngân hàng gồm những thông tin liên quan đến tiền gửi của khách hàng (số hiệu tài khoản, mẫu chữ ký của chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản uỷ quyền, các thông tin về doanh số hoạt động và số dư tài khoản); các thông tin liên quan đến giao dịch gửi, rút tiền, chuyển tiền và tài sản của khách hàng; nội dung các văn bản, giấy tờ, tài liệu; tên và mẫu chữ ký của người gửi tiền và tài sản; các thông tin khác như số thẻ, hiệu lực thẻ, mã số bảo vệ in trên mặt sau thẻ, mật khẩu giao dịch ngân hàng trực tuyến, mã PIN, mã số nhận thông tin và giao dịch về tiền gửi của khách hàng qua mạng máy tính. Khi có thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của nạn nhân, người phạm tội sẽ sử dụng tài khoản, thẻ ngân hàng đó để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ như rút tiền, chuyển tiền sang tài khoản khác hoặc thẻ ngân hàng khác hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa mà người phạm tội sử dụng hoặc mua.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để có được thông tin tài khoản, thẻ ngân hàng của nạn nhân, người phạm tội có thể ngẫu nhiên biết được, trộm cắp thông tin, mua hoặc có được thông tin từ những người bán, cung cấp bất hợp pháp. Ví dụ: H đã trộm cắp 01 thẻ ATM Shinhan Bank của chị O (cùng phòng trọ với nhau). Do biết được mật khẩu thẻ ATM của chị O, H đã dùng thẻ ATM trộm cắp được đến cây ATM để rút tiền. H đã rút được số tiền 2.250.000 đồng và chiếm đoạt số tiền này. Như vậy, H đã có hành vi sử dụng thẻ và mật khẩu thẻ ATM để chiếm đoạt số tiền trong tài khoản ngân hàng của nạn nhân. Hành vi của H bị Toà án kết án về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 290 BLHS năm 2015<a href="#_ftn102" name="_ftnref102" title=""><sup><sup>[102]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận. Thẻ ngân hàng bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012, “<em>thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ</em>”<a href="#_ftn103" name="_ftnref103" title=""><sup><sup>[103]</sup></sup></a>. Thẻ ngân hàng giả là thẻ không do tổ chức phát hành thẻ phát hành nhưng có chứa các thông tin của thẻ thật, chủ thẻ thật. Người phạm tội có thể thực hiện một hoặc tất cả các công đoạn của quá trình làm gia thẻ ngân hàng giả. Ví dụ: Năm 2011, Looi Hawshyan và A Phong người Malaysia đến Việt Nam. Sau khi đến Việt Nam, Looi HawShyan được A Phong hướng dẫn qua điện thoại cách sử dụng thiết bị làm thẻ ngân hàng giả. A Phong cho người có tên là Nun giao phôi thẻ đến Looi Hawshyan, sau năm lần nhận tổng cộng khoảng từ 180-190 phôi thẻ do Nun giao. Sau khi nhận phôi thẻ, Looi HawShyan dùng thiết bị in dữ liệu vào thẻ (Dữ liệu do A Phong gửi vào email của Looi HawShyan). Kết quả Looi HawShyan đã làm được khoảng 175 thẻ ngân hàng giả, trong đó có 60 thẻ giả loại ATM, 115 thẻ giả loại Visa và Master. A Phong thỏa thuận chia cho Looi HawShyan hưởng 5% số tiền chiếm đoạt được và Looi HawShyan giao thẻ cho các đối tượng của A phong để thực hiện các giao dịch rút tiền và thanh toán hàng hóa, dịch vụ hàng trăm triệu đồng ở TP. Hồ Chí Minh<a href="#_ftn104" name="_ftnref104" title=""><sup><sup>[104]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: tài khoản ngân hàng; tài khoản các mạng xã hội như Facebook, Zalo, email... Hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc các phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác có thể là truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng của nạn nhân để rút tiền, chuyển tiền sang tài khoản khác; sử dụng tài khoản để lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác. Mục đích chiếm đoạt tài sản là điểm để phân biệt giữa hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 290) với hành vi xâm nhập trái phép mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 289).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ví dụ: H đã lừa chị L cung cấp tên đăng nhập và mật khẩu Facbook của mình cho H để truy cập vào tài khoản Facebook của chị L, đổi mật khẩu và chiếm quyền sử dụng. H sử dụng tài khoản Facebooke của chị L gửi tin nhắn cho các tài khoản Facebook trong danh sách bạn của chị L với nội dung thiếu tiền, cần nhờ mua thẻ điện thoại để giải quyết công việc. Một số người bạn của chị đã tin và mua các thẻ cào điện thoại di động của các nhà mạng, cào mã thẻ, chụp ảnh mã thẻ và số seri thẻ gửi qua facbook cho H. Sau khi nhận được mã thẻ cào điện thoại gửi đến, H đã chiếm đoạt và nạp vào tài khoản game của mình để chơi bài Rikvip. Tổng số tiền H chiếm đoạt của 3 nạn nhân là trên 3,5 triệu đồng. Như vậy, H đã có hành vi truy cập trái phép vào tài khoản facbook của chị L và đã bị Toà án kết án về tội sử dụng mạng internet chiếm đoạt tài sản của người khác<a href="#_ftn105" name="_ftnref105" title=""><sup><sup>[105]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv)</em><em> Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản </em>(điểm d khoản 1 Điều 290 BLHS năm 2015).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong nhóm hành vi này, người phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thuộc một trong năm lĩnh vực sau: (i) Trong lĩnh vực thương mại điện tử: Lợi dụng đặc điểm của thương mại điện tử là người mua và người bán không trực tiếp gặp nhau và người mua phải trả tiền trước, người phạm tội thường chào hàng không đúng với hàng được giao về số lượng, chất lượng, mẫu mã, chủng loại hoặc không giao hàng sau khi đã nhận tiền; đồng thời chúng nhanh chóng rút tiền và cắt đứt liên lạc trước khi bị phát hiện; (ii) Trong thanh toán điện tử: Thủ đoạn phạm tội thường là đưa ra thông tin gian dối để nạn nhân tin là thật mà cung cấp thông tin về các công cụ thanh toán điện tử như: tên đăng nhập, mật khẩu truy cập, mật khẩu giao dịch (OTP), sau đó truy cập vào tài khoản của các công cụ thanh toán để chiếm đoạt tài sản của nạn nhân bằng cách rút tiền, chuyển tiền sang tài khoản khác hoặc thanh toán các hàng hoá, dịch vụ mà người phạm tội đã mua, sử dụng; (iii) Trong giao dịch chứng khoán: Thủ đoạn phạm tội thường là sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử làm ra các App chứng khoán giả để dụ khách hàng mua bán với hứa hẹn trả lợi nhuận cao để huy động vốn đầu tư chứng khoán sau đó chiếm đoạt tài sản của nạn nhân; hoặc dụ dỗ người mua cổ phiếu chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng trung gian để chuyển cho Công ty chứng khoán nhưng thực chất là tài khoản của đối tượng lừa đảo và các đối tượng đã chiếm đoạt số tiền trên<a href="#_ftn106" name="_ftnref106" title=""><sup><sup>[106]</sup></sup></a>. Việc mở tài khoản và áp dụng các phương thức giao dịch chứng khoán linh hoạt cũng làm cho các vi phạm thao túng thị trường chứng khoán có mức độ nghiêm trọng hơn với những thủ đoạn như mở nhiều tài khoản chứng khoán, tạo ra các cung cầu giả mạo nhằm thao túng giá cổ phiếu trên thị trường, gây thiệt hại rất lớn cho nhà đầu tư và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường, như vụ việc Trịnh Văn Quyết với nhóm cổ phiểu FLC trong thời gian gần đây<a href="#_ftn107" name="_ftnref107" title="">[107]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Rửa tiền.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 (sau đây gọi tắt là Luật PCRT), BLHS năm 2015, Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC<a href="#_ftn108" name="_ftnref108" title=""><sup><sup>[108]</sup></sup></a>, rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm: (i) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có; (ii) Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác là hành vi dùng tiền, tài sản thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Dưới tác động của CMCN 4.0, Luật PCRT và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa bao quát được đối với một số hoạt động mới phát sinh như các hoạt động liên quan đến tài sản ảo, cung ứng dịch vụ trung gian kết nối người đi vay và người cho vay dựa trên nền tảng công nghệ... Khung pháp lý của các hoạt động này đang trong giai đoạn nghiên cứu, hoàn thiện, tuy nhiên trong trường hợp khung pháp lý về cấp phép, quản lý của các hoạt động này được ban hành thì quy định tại Luật PCRT hiện nay sẽ chưa bao quát được các hoạt động mới phát sinh này. Đây là các hoạt động có tiềm ẩn rủi ro về rửa tiền do các hoạt động này hầu hết được thực hiện trực tuyến nên các bên tham gia giao dịch có tính ẩn danh cao.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo báo cáo đánh giá rủi ro quốc gia của Việt Nam về rửa tiền, tài trợ khủng bố giai đoạn 2012 - 2017, nhóm tội phạm về tham nhũng là nhóm tội phạm nguồn của tội rửa tiền được đánh giá có nguy cơ rửa tiền từ mức “trung bình cao” đến mức “cao”. Tuy nhiên, theo thống kê năm 2021, kể từ khi những điều khoản quy định về tội “Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có” (Điều 251 BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009) hoặc tội “Rửa tiền” (Điều 324 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017) được ban hành, các cơ quan thực thi pháp luật mới khởi tố được 4 đối tượng với các tội danh này và Tòa án cũng mới xét xử và kết tội được 02 người với tội danh này, trong đó, không có hành vi phạm tội nào liên quan đến sử dụng công nghệ cao hay các hình thức công nghệ mới như tiền ảo<a href="#_ftn109" name="_ftnref109" title=""><sup><sup>[109]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Vì vậy, để nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền, theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 07/12/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, để nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng sát với thực tiễn của đất nước và phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là một trong những giải pháp được đặt ra. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền là một trong những yếu tố then chốt thúc đẩy công tác phòng, chống rửa tiền nói riêng và phòng, chống tham nhũng nói chung phát triển và hoàn thiện, đặc biệt trong việc điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về rửa tiền.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>dưới góc độ pháp luật, những quy định pháp luật điều chỉnh các giao dịch liên quan đến tiền ảo, tài sản ảo còn thiếu. Mặc dù những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã có những nghiên cứu về các loại tài sản ảo nhưng cũng vẫn chỉ dừng ở mức nghiên cứu, tổ chức các cuộc hội thảo, các đợt nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, cho tới nay vẫn chưa có khung pháp lý rõ ràng cho vấn đề này. Việc cấm hoặc không có các văn bản pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tiền ảo sẽ dẫn đến các hoạt động, giao dịch liên quan đến tiền ảo rơi vào tình trạng hoạt động ngầm, khó kiểm soát. Đồng thời, pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa điều chỉnh được những đối tượng không có trụ sở tại Việt Nam, không đăng ký hoạt động tại Việt Nam nhưng cung ứng dịch vụ xuyên biên giới cho công dân Việt Nam và những người nước ngoài, người không quốc tịch đang sinh sống, hoạt động hay du lịch tại Việt Nam và có giao dịch tiền, tài sản, bao gồm cả tiền ảo, tài sản ảo trong lãnh thổ Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài đến Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>các đối tượng tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng hầu hết đều có quy mô, tổ chức chặt chẽ, có trình độ cao về công nghệ thông tin cùng những cách thức phạm tội và che giấu khá tinh vi. Không gian phạm tội là không gian mạng, trên môi trường mạng Internet nên rất khó xác định được địa bàn cụ thể, cũng như danh tính và địa chỉ trên thực tiễn. Bên cạnh đó, một số người bị hại còn tâm lý e ngại trình báo với cơ quan chức năng nên việc xác minh gặp nhiều khó khăn.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>nhiều tổ chức tài chính hiện nay mở tài khoản và thiết lập giao dịch dựa vào hạ tầng công nghệ hiện đại, không đến gặp mặt trực tiếp và các thông tin nhận dạng hết sức đơn giản, không đầy đủ theo yêu cầu của pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Thông tin chủ yếu do khách hàng khai báo, thông thường gồm các thông tin như: họ tên; địa chỉ email; số điện thoại; chứng từ nhân thân. Các thông tin như nghề nghiệp, chức vụ, địa chỉ nơi ở và nơi đăng ký hộ khẩu, thời hạn visa đối với khách hàng là người nước ngoài, địa chỉ cư trú ở nước ngoài,… thông thường không được tổ chức tài chính quan tâm nhận biết. Việc nhận dạng chủ sở hữu hưởng lợi thật sự đằng sau các tài khoản, các giao dịch trở nên khó khăn gấp bội khi môi trường cạnh tranh cùng với những áp lực về thu nhập trong một nền kinh tế có quá nhiều rủi ro, nguy cơ bị tội phạm lạm dụng để rửa tiền, tài trợ khủng bố hoặc chu chuyển các luồng tiền bất hợp pháp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.4. Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc CMCN 4.0 khiến Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều những thách thức về an ninh phi truyền thống như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ… Thực tế cho thấy cùng với sự phát triển của mạng truyền thông và các ứng dụng công nghệ thông tin, các hành vi xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng cũng đang phát triển ngày càng tinh vi và phổ biến, cụ thể tập trung ở một số hành vi cần xử lý sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Đánh bạc.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong những năm gần đây, tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc diễn ra trên mạng đã và đang gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, tác động xấu đến cuộc sống của người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, trật tự. Các vụ việc được triệt phá có quy mô ngày càng lớn và phức tạp. Điển hình như: triệt phá đường dây tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua hệ thống Evol (evol.club), với số tiền khoảng 30.000 tỉ đồng; triệt phá đường dây tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua trang Nagaclubs.com, với số tiền khoảng 87.000 tỉ đồng; triệt phá đường dây tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua trang bong88.com, với số tiền khoảng 13.500 tỉ đồng… Tính riêng năm 2021, công an các đơn vị, địa phương đã phát hiện, xử lý 694 vụ việc, triệt phá 181 chuyên án liên quan đến hoạt động tổ chức đánh bạc và đánh bạc trên mạng; trong đó, khởi tố vụ án 570 vụ, khởi tố 2.674 bị can, xử lý hành chính 154 vụ, xử phạt hành chính 1.426 đối tượng, thu giữ nhiều tiền, đồ vật, tài liệu liên quan… Phát hiện trên 20 cổng thanh toán trung gian chưa rõ nguồn gốc được sử dụng vào hoạt động tổ chức đánh bạc<a href="#_ftn110" name="_ftnref110" title="">[110]</a>. Các hình thức đánh bạc phổ biến hiện nay mà các đối tượng sử dụng bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Tổ chức đánh bạc tín chấp (trả tiền sau): </strong>Nhà cái tổ chức đánh bạc tín chấp dưới dạng cá cược thể thao, lô đề, xóc đĩa mạng…, như: Bong88, Sbobet, 3in1bet… Các nhà cái ở nước ngoài thông qua hệ thống mạng Internet tổ chức đánh bạc cho người chơi ở Việt Nam tham gia. Chúng liên kết với một số người Việt Nam, phần lớn là nhóm lưu manh, giang hồ, xã hội đen để quản lý, tổ chức phân mạng nhỏ với những khoản tiền vay nhất định tùy vào khả năng tài chính của con bạc để tham gia đánh bạc, khi có khoản tiền ứng trước trong tài khoản, con bạc có thể đánh bạc trên trang web do đối tượng lập ra. Sau kỳ hạn một ngày hoặc một tuần, con bạc phải đến “đại lý” để thanh toán số tiền thắng, thua.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Tổ chức đánh bạc thế chấp (trả tiền trước)</strong>: Nhà cái tổ chức đánh bạc thế chấp với nhiều hình thức: sòng bài (casino), cá cược thể thao, trò chơi trực tuyến có tính chất cờ bạc, như: M88, Fun88.com, 12bet… Các nhà cái ở nước ngoài thông qua hệ thống Internet tổ chức cho người chơi ở Việt Nam tham gia. Phần quản trị ở nước ngoài (nhà cái) sẽ trực tiếp kiểm soát toàn bộ hoạt động đánh bạc của các tài khoản đánh bạc do người chơi lập ra. Người tham gia đánh bạc sau khi đăng ký tài khoản đánh bạc trên mạng phải mở tài khoản ngân hàng, sau đó chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của đối tượng tổ chức hoặc có thể sử dụng hình thức nạp thẻ điện thoại và làm theo hướng dẫn trên trang web tổ chức đánh bạc. Các trang web này cài phần mềm tự động, số tiền nạp vào tài khoản ngân hàng của đối tượng sẽ quy ra điểm (loại tiền ảo để cá cược) và được chuyển vào tài khoản cá cược của người đánh bạc. Người đánh bạc dùng số điểm này để cá cược trực tiếp với nhà cái.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Thiết lập mạng lưới các website vệ tinh</strong>, mạng ẩn danh để hoạt động, xây dựng hàng trăm tên miền website khác nhau với cùng một giao diện tổ chức đánh bạc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Xây dựng, phát triển mạng lưới đại lý,</strong> quảng cáo dưới hình thức tuyển dụng nhân viên biết tiếng Việt sang các trụ sở đặt tại các trung tâm cờ bạc lớn trên thế giới để hoạt động; câu kết, móc nối với một số đối tượng trong nước để xây dựng và mở rộng mạng lưới đại lý tổ chức đánh bạc tại Việt Nam.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Sử dụng các cổng thanh toán trung gian</strong> phục vụ hoạt động cờ bạc; sử dụng các dịch vụ thanh toán tiền ảo trực tiếp trên website hoặc sử dụng qua các cổng dịch vụ thanh toán trung gian để chuyển đổi từ tiền ảo sang tiền đánh bạc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>- Lợi dụng các ứng dụng công nghệ số</strong> để quảng cáo, lôi kéo người dân tham gia đánh bạc. Các đối tượng tổ chức đánh bạc quảng cáo qua các website viết bài hướng dẫn đánh bạc, giới thiệu đường dẫn truy cập của mạng lưới đại lý; đặt banner trên các website, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội… có nhiều lượt theo dõi.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc nói chung và tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc diễn ra trên không gian mạng nói riêng đã gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, tác động xấu đến cuộc sống của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, trật tự. Các đối tượng trong nước câu kết với các đối tượng nước ngoài xây dựng mạng lưới hoạt động đánh bạc quy mô lớn, rộng khắp các tỉnh, thành phố, tổ chức thành nhiều tầng, nấc rất chặt chẽ, số lượng con bạc lên đến hàng trăm nghìn người với số tiền đánh bạc ước tính hàng triệu USD mỗi ngày; số tiền chuyển ra nước ngoài lên đến hàng nghìn tỷ đồng<a href="#_ftn111" name="_ftnref111" title="">[111]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về thực trạng pháp luật xử lý các hành vi đánh bạc, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999: Chưa có quy định xử lý một cách rõ ràng về tội phạm <em>đánh bạc qua mạng</em>, các trò chơi trực tuyến có tính chất cờ bạc, chơi đánh bạc qua các máy chơi game. Quá trình điều tra xử lý liên quan đến tội phạm đánh bạc và tội phạm tổ chức đánh bạc vẫn chủ yếu áp dụng theo văn bản hướng dẫn quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 1999, điều này đã gây ra nhiều khó khăn, bất cập vì Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP có nhiều nội dung không còn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay như: khó khăn trong xác định số lần đánh bạc của con bạc khi chơi trò chơi trực tuyến đổi thưởng; đối với các trò chơi đổi thưởng thì không quy định thành các đợt hay trận cụ thể như lô đề, cá độ bóng đá. Ở đây, các con bạc có thể chơi bất kỳ khi nào muốn, chơi bất cứ trò nào của hệ thống game (24/24). Ngoài ra, việc áp dụng Điều 321 (tội đánh bạc) và Điều 322 (tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc) cũng gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định, cụ thể trong một số điểm như sau:<a href="#_ftn112" name="_ftnref112" title="">[112]</a></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 321 (Tội đánh bạc): </strong>Khó khăn khi xác định tiền và số tiền thực hiện đánh bạc đối với con bạc tham gia trò chơi trực tuyến là game bài, game quay thưởng… ; người chơi tham gia chơi sẽ phải dùng tiền thật để mua tiền game và chơi bằng tiền game.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 322 (Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc)</strong>: Về tính chiếu bạc khi bắt quả tang: Đối với các trò chơi trực tuyến khi bắt quả tang một nhóm hay nhiều nhóm đang sử dụng điện thoại, máy tính để tham gia đánh bạc thì khó xác định theo Mục 1 khoản a điều này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 chưa quy định về <em>quy trình, thủ tục, cách thức thu thập chứng cứ từ dữ liệu điện tử</em> dẫn đến những vướng mắc trong quá trình xử lý, phối hợp giữa các cơ quan tố tụng. Chính vì vậy, cần xây dựng các quy định về quy trình, thủ tục, cách thức… thu thập chứng cứ từ dữ liệu điện tử cũng như quy chế phối hợp giữa các đơn vị trong việc sử dụng chứng cứ thu thập từ dữ liệu điện tử để phát huy hết hiệu quả phục vụ công tác đấu tranh với các đối tượng phạm tội trên mạng viễn thông, internet, cũng như trong việc giải quyết các tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Hành vi lừa đảo; mua bán, sử dụng, tàng trữ ma túy với các thủ đoạn mới</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Không chỉ với với tội phạm đánh bạc, tội phạm lừa đảo, tội phạm về ma tuý cũng lợi dụng các thành tựu của CMCN 4.0 để hoạt động với thủ đoạn vô cùng tinh vi, đặc biệt là sử dụng các phương tiện thông tin, liên lạc hiện đại khiến cho tình hình tội phạm về ma tuý diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta. Tội phạm về ma tuý ngày nay sử dụng các tài khoản ảo trên các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Telegram,..) để quảng cáo, rao bán các chất ma tuý thậm chí cả hướng dẫn sử dụng ma tuý. Sau khi đã thống nhất, các đối tượng sẽ chuyển hàng đến cho người mua bằng hình thức đóng gói, ngụy trang dưới dạng các sản phẩm như thực phẩm, hàng lưu niệm rồi dán kín, chuyển hàng bằng các dịch vụ vận chuyển (Grab, Go Việt, VN Post, Viettel Post… ). Với hình thức vận chuyển này, các đối tượng bán thường không “xuất đầu lộ diện”, tuyệt đối không giao dịch trực tiếp để tránh bị lực lượng chức năng theo dõi, bắt quả tang hành vi vi phạm pháp luật. Đáng quan ngại hơn cả là việc các đối tượng tìm hiểu và sử dụng “Darknet” - mạng ẩn, diễn đàn ngầm để mua bán ma tuý. Ở hệ thống mạng ẩn này, mọi thứ đều có thể mua bán giao dịch trong đó có cả ma tuý. Ở Việt Nam, việc sử dụng mảng ẩn mua bán trái phép chất ma tuý vẫn còn khá mới nhưng cũng bắt đầu nhen nhóm, khẳng định sẽ là xu hướng trong tương lai khi công nghệ ngày càng phát triển. Đây là nguy cơ thúc đẩy sự phát triển của tội phạm mua bán trái phép chất ma tuý xuyên quốc gia, là thách thức cho các lực lượng chuyên trách trong công tác phòng chống tội phạm này, giữ gìn trật tự công cộng. Hoạt động lợi dụng không gian mạng kinh doanh đa cấp để lừa đảo cũng diễn ra phổ biến trên cả nước. Điển hình phải kể đến vụ việc công ty cổ phần dịch vụ và hỗ trợ nhân đạo Anh Minh đã lập trang web nhandaoanhminh.com tổ chức lập quỹ từ thiện trái phép hoạt động theo mô hình đa cấp, huy động vốn; từ tháng 11/2015 đến tháng 02/2016, đã kêu gọi được 1.126 thành viên tham gia, huy động được 28.323 tỷ đồng và chiếm đoạt.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng ngày càng nhiều, BLHS năm 2015 đã quy định hẳn một điều luật cụ thể để định danh tội phạm sử dụng mạng máy tính, công nghệ thông tin mạng viễn thông xâm phạm quyền sở hữu của người khác tại Điều 290 BLHS. Hành vi khách quan của tội phạm xâm hại quyền sở hữu là hành vi sử dụng mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ thể, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hoá;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(v) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đây chính là điểm mới so với các tội phạm xâm phạm sở hữu thông thường được quy định tại Chương XVI BLHS. Điểm chung của những tội phạm này đều là những hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, xâm phạm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ tài sản, làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của minh. Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các tội phạm xâm phạm sở hữu đã lại có thêm một phương thức, công cụ mới để thực hiện hành vi chiếm đoạt của mình đó là thông qua mạng Internet.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội xâm phạm về sở hữu và trật tự công cộng gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất,</strong> còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật và còn khoảng cách giữa quy định pháp luật với việc thực thi trong thực tế. Cụ thể, BLHS còn thiếu các quy định cụ thể để xử lý những thủ đoạn phạm tội mới phát sinh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu và trật tự công cộng. Tương tự như với nhóm tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thiếu sót trong hành lang pháp lý hiện hành khi chưa có khái niệm cũng như quy định nào về tài sản ảo và quản lý tài sản ảo là thách thức lớn trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật có đối tượng là tài sản ảo. Ví dụ như cơ chế nào bảo vệ nhà đầu tư khỏi các giao dịch lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các giao dịch Bitcoin? Hay với các tội phạm cùng sử dụng không gian mạng để quảng cáo, rao bán, giao dịch và hướng dẫn buôn bán, sử dụng ma tuý thì sẽ khác với những hành vi thông thường như thế nào? Những vấn đề này chưa hề được nêu trong các quy định của pháp luật hình sự hiện hành.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>việc xác định dấu hiệu cấu thành tội phạm gặp nhiều khó khăn, nhất là việc xác định các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm xâm phạm quyền sở hữu cũng như xâm phạm trật tự công cộng, điển hình như hành vi đánh bạc trên không gian mạng. Việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ sở pháp lý để xác định, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu cũng như xâm phạm trật tự công cộng là cần thiết phải đặt ra trong bối cảnh này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>còn tồn tại sự thiếu đồng bộ trong quy định về hình phạt đối với các tội danh xâm phạm về sở hữu, cụ thể: cùng là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; nhưng ở Điều 174 BLHS năm 2015, hình phạt cao nhất là chung thân còn ở Điều 290 lại chỉ là 20 năm tù. Trong khi ở các điều luật cụ thể khác, việc sử dụng phương tiện Internet để thực hiện hành vi phạm tội thường là dấu hiệu tăng nặng định khung.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư,</strong> cơ sở vật chất, trang thiết bị để đấu tranh đối với tội phạm mạng còn hạn chế. Ví dụ, đối với điều tra vụ án có các hành vi đánh bạc chuyển khoản bằng tiền mã hóa, việc phát hiện, thu thập và bảo quản tài sản là bitcoin do phạm tội đánh bạc mà có được đặt ra như thế nào. Việc thu thập, bảo quản và đánh giá chứng cứ trên không gian mạng đòi hỏi những kỹ thuật, thiết bị hiện đại nhất<a href="#_ftn113" name="_ftnref113" title=""><sup><sup>[113]</sup></sup></a>. Do đó, việc trang bị cơ sở vật chất cho các cơ quan tố tụng là vô cùng cần thiết. Tình trạng thiếu thốn về cả số lượng lẫn chất lượng trang thiết bị phục vụ điều tra, xử lý các tội phạm này vẫn chưa thực sự được cải thiện.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>2.1.5. Thực trạng pháp luật về các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và một số khó khăn, vướng mắc</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhóm tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông, viễn thông đã được quy định thành một mục riêng (Mục 2) tại Chương XXI. Mục 2 quy định 09 tội danh, trong đó, có 05 tội danh được kế thừa trên cơ sở quy định của BLHS năm 1999 (<em>Điều 286. Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; Điều 287. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông; Điều 289. Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác và Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản</em>) và 04 tội danh mới được hình sự hóa trong BLHS năm 2015 (<em>Điều 285. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật; Điều 291. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng; Điều 293. Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh và Điều 294. Tội cố ý gây nhiễu có hại</em>).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các quy định của BLHS năm 2015 tương đối bao quát các hành vi vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin phổ biến xảy ra trong thời gian qua. Đặc biệt, việc bổ sung 04 tội danh mới vào BLHS năm 2015 nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Những hành vi phạm tội được quy định tại 04 tội danh này đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. Trước thực trạng lợi dụng nền tảng công nghệ số để phạm tội ngày càng phổ biến, cùng với việc quy định một số tội danh cụ thể trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông, BLHS năm 2015 đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “<em>sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để phạm tội</em>” tại một số tội danh cụ thể như Tội đánh bạc (Điều 321); Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322); Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326)…. Việc bổ sung tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự về phương thức thực hiện trên môi trường mạng thể hiện quan điểm, chính sách hình sự nghiêm khắc đối với thủ đoạn, phương thức phạm tội này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo số liệu thống kê tại Bảng 2, trong giai đoạn 2015-2021 Toà án trong cả nước đã xét xử sơ thẩm được 431 vụ án với 857 bị cáo về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Đây là con số phản ánh kết quả đạt được trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông của ngành Tòa án. Kết quả này góp phần đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Bảng 2. Số lượng vụ án và bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông giai đoạn 2015 - 2021</strong></span></span></p>
<table border="1" cellpadding="0" cellspacing="0" style="width:548px;" width="548">
<tbody>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Năm </strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Số vụ án</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Số bị cáo</strong></span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2015</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">70</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">139</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2016</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">85</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">202</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2017</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">63</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">118</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2018</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">49</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">87</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2019</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">47</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">73</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2020</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">53</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">100</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2021</span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">64</span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">138</span></span></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td style="width:151px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Tổng số</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:199px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>431</strong></span></span></p>
</td>
<td style="width:198px;">
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>857</strong></span></span></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(Nguồn: Số liệu thống kê của Toà án nhân dân tối cao)</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Có thể thấy, giai đoạn từ năm 2018 - 2021 là thời gian áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và cho đến nay đang ngày càng có xu hướng gia tăng trở lại về số vụ án cũng như số bị cáo. Một phần nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển của CMCN 4.0, theo đó ngày càng nhiều hành vi phạm tội sử dụng công nghệ thông tin, mạng viễn thông đã phát sinh với cách thức phạm tội tinh vi. Bên cạnh các nhóm tội phạm sử dụng công nghệ thông tin, mạng viễn thông để thực hiện hành vi phạm tội đã phân tích ở các phần trước, thực tiễn cho thấy phát sinh một số hành vi phạm tội khác trong lĩnh vực công nghệ, mạng viễn thông dưới tác động của CMCN 4.0 cần xử lí, cụ thể<a href="#_ftn114" name="_ftnref114" title=""><sup><sup>[114]</sup></sup></a>:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Hành vi xâm phạm tính nguyên vẹn, tính bí mật hoặc tính khả dụng của mạng máy tính, mạng viễn thông.</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định riêng tại Điều 285 hành vi sản xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật. Hành vi khách quan của tội phạm có thể là từng hành vi riêng lẻ như sản xuất hoặc viết phần mềm hoặc mua bán hoặc trao đổi hoặc tặng cho, nhưng cũng có thể là một quá trình bao gồm nhiều hành vi như sản xuất, sau đó bán hoặc tặng cho người khác.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">So với một số văn bản pháp luật quốc tế quy định về tội phạm này có thể thấy Điều 285 BLHS năm 2015 đã quy định khá đầy đủ các hành vi mang tính chất lạm dụng công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, còn một số hành vi khác chưa được quy định trong Điều 285 như hành vi chiếm hữu, sở hữu nhằm cho người khác sử dụng; đề nghị người khác sử dụng, nhập khẩu. Những hành vi nay đều đã được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế<a href="#_ftn115" name="_ftnref115" title=""><sup><sup>[115]</sup></sup></a>. Đối tượng tác động của tội phạm là công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử. Các đối tượng này bao gồm cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng như máy móc, các loại chíp điện tử để đọc dữ liệu thẻ, các thiết bị số dùng để thu, phát sóng, tín hiệu số hoặc phá sóng bất hợp pháp; các vi mạch, thiết bị ngoại vi, module chương trình nhập số liệu bất hợp pháp; chương trình máy tính (vi-rút, phần mềm do thám), mã số truy cập của máy tính, mật mã truy cập hoặc dữ liệu tương tự để truy cập bất hợp pháp vào một phần hoặc toàn bộ hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông<a href="#_ftn116" name="_ftnref116" title=""><sup><sup>[116]</sup></sup></a>. Đặc điểm chung của các đối tượng này là chúng đều có tính năng tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử. Các đối tượng trên có thể được sản xuất ra với mục đích để tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử hoặc được cải tiến để có được tính năng này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định riêng tại Điều 286 về tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử. Theo đó, đây là hành vi cố ý lan truyền chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử nhằm gây rối loạn hoạt động, phong tỏa, sao chép, làm biến dạng, huỷ hoại các dữ liệu của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử<a href="#_ftn117" name="_ftnref117" title=""><sup><sup>[117]</sup></sup></a>. Người phạm tội cố ý lan truyền chương trình tin học gây hại đến nhiều mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử. Nạn nhân sẽ là bất kỳ người dùng nào vô tình bị lây nhiễm chương trình tin học gây hại đó. Đối tượng của hành vi phát tán là chương trình tin học có tính năng gây hại. Đó là chương trình tự động hóa xử lý thông tin, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Hành vi sử dụng công nghệ thông tin nhằm chiếm đoạt cước viễn thông</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đây là hành vi người phạm tội sử dụng kỹ thuật VSAT (thiết bị đầu cuối khẩu độ nhỏ - very small aperture terminall) chiếm đoạt cước viễn thông. Cụ thể, người phạm tội sử dụng thiết bị thu phát tín hiệu qua vệ tinh để chuyển cuộc gọi ra nước ngoài bất hợp pháp. Với thiết bị là một ăng-ten parabol và một thiết bị xử lý tín hiệu chuyển đổi, các cuộc đàm thoại quốc tế sẽ giống như cuộc gọi trong nước. Do đó, người phạm tội chỉ phải thanh toán cước điện thoại trong nước thay vì phải thanh toán cước điện thoại quốc tế. Qua đó, chiếm đoạt được khoản tiền cước chênh lệch. Trước đây, người phạm tội hay sử dụng thủ đoạn này, nhưng do dễ bị phát hiện nên hiện nay ít sử dụng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, thủ đoạn khác trên thực tiễn hiện nay còn có thủ đoạn thuê một kênh nội bộ, sau đó bí mật sử dụng bất hợp pháp thiết bị ghép nối kênh PHS để từ mạng nội bộ có thể liên lạc trực tiếp với mạng điện thoại công cộng bằng điện thoại cố định hoặc thẻ SIM điện thoại di động. Khi gọi điện thoại quốc tế, thay vì phải trả cước viễn thông quốc tế có chi phí cao, đối tượng chỉ phải trả tiền thuê kênh nội bộ có phí Internet rẻ. Qua đó, người phạm tội chiếm đoạt được khoản tiền cước phí viễn thông quốc tế. Thủ đoạn này hiện nay đang được sử dụng phổ biến hơn kỹ thuật VSAT, vì khó phát hiện.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo quy định tại khoản 1 Điều 290, các hành vi trên chỉ được xác định là Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nếu “không thuộc trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174” của BLHS năm 2015.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh pháp luật hình sự, Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 về sửa đổi, bổ sung Điều 15 của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 6/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông và Điều 30 của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ cũng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Theo thống kê năm 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thu hồi hơn 28 triệu SIM rác, song tình trạng SIM rác trên thị trường vẫn còn rất lớn, tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực về an ninh trật tự. Bên cạnh đó, tình trạng trộm cắp cước viễn thông quốc tế cũng gây những thiệt hại lớn về kinh tế. Các đối tượng thiết lập hệ thống đường truyền viễn thông từ nước ngoài về Việt Nam, chuyển cuộc gọi quốc tế thành cuộc gọi nội hạt trên nền Internet (VoIP) để chiếm hưởng trái phép nhiều tỷ đồng, gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Về xử lý các hành vi xâm phạm an toàn, trật tự trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Điều 293 BLHS năm 2015 quy định về tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh. Theo Điều 16 Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, tổ chức, cá nhân sử dụng tần số vô tuyến điện, thiết bị vô tuyến điện phải có giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện tương ứng, trừ trường hợp các thiết bị vô tuyến điện hoạt động ở cự ly ngắn, có công suất hạn chế, ít khả năng gây nhiễu có hại theo quy định của pháp luật và thiết bị vô tuyến điện đặt trên tàu biển, tàu bay nước ngoài đi qua lãnh thổ Việt Nam được miễn giấy phép theo thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Như vậy, về nguyên tắc cá nhân, tổ chức chỉ được sử dụng tần số vô tuyến điện đã được nhà nước cấp phép. Trong trường hợp khẩn cấp gây nguy hiểm đến tính mạng con người và tài sản, theo Điều 33 Luật Tần số vô tuyến điện năm 2009, tổ chức, cá nhân có thể sử dụng tạm thời tần số và thiết bị vô tuyến điện chưa được cấp giấy phép để phục vụ cho việc gọi cấp cứu nhưng phải thông báo cho cơ quan quản lý chuyên ngành tần số vô tuyến điện. Ngoài các trường hợp trên, cá nhân sử dụng tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn hoặc cá nhân, tổ chức không được phép mà sử dụng tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích an ninh, quốc phòng sẽ bị coi là sử dụng trái phép.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối tượng tác động của tội phạm là tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng an ninh, được chia thành 2 nhóm: (i) Tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn theo quy định tại “Phụ lục tần số sử dụng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu nạn”, ban hành kèm theo Thông tư 19/2013/TT-BTTTT ngày 02 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tần số cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu nạn trên biển và hàng không dân dụng; (ii) Tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh do Bộ quốc phòng, Bộ Công an và Bộ thông tin và Truyền thông phối hợp xác định.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, BLHS năm 2015 cũng có quy định xử lí hành vi xâm phạm an toàn, trật tự trong lĩnh vực tần số vô tuyến điện, đó là Tội cố ý gây nhiễu có hại (Điều 294). Mức độ nhiễu trong vô tuyến điện được chia làm 03 mức độ, gồm: nhiễu cho phép, nhiễu chấp nhận được và nhiễu có hại. Trong đó: nhiễu cho phép là gây nhiễu thấy được hoặc dự tính được mà thỏa mãn nhiều định lượng và các điều kiện dùng chung trong khuyến nghị của Liên minh viễn thông quốc tế hoặc thỏa thuận đặc biệt; nhiễu chấp nhận được là mức độ nhiễu cao hơn nhiễu cho phép và được sự đồng ý của các cơ quan quản lý mà không ảnh hưởng đến cơ quan khác; nhiễu có hại là ảnh hưởng có hại của năng lượng điện từ do việc phát xạ bức xạ hoặc cảm ứng gây mất an toàn hoặc cản trở, làm gián đoạn hoạt động của thiết bị, hệ thống thiết bị vô tuyến điện đang khai thác hợp pháp<a href="#_ftn118" name="_ftnref118" title=""><sup><sup>[118]</sup></sup></a>. Theo quy định của Điều 294, chỉ hành vi gây nhiễu có hại là hành vi khách quan của tội này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>* Một số khó khăn, vướng mắc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua nghiên cứu, rà soát, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông còn gặp một số khó khăn, vướng mắc sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>mặc dù đã có quy định của BLHS về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và thực tế loại tội phạm này cũng xuất hiện khá phổ biến nhưng các cơ quan có thẩm quyền lại không thể xử lý hoặc xử lý được một số lượng không nhiều do hạn chế trong quy định của BLHS. Cụ thể, BLHS còn thiếu các quy định cụ thể để xử lý những thủ đoạn phạm tội mới phát sinh, trong khi đó việc sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS chưa kịp thời. Thực tiễn thi hành BLHS trong những năm qua đã chứng minh rằng, việc thiếu các quy định cụ thể để xử lý những hành vi phạm tội mới phát sinh đã gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án. Có tội dù đã được BLHS quy định nhưng lại quy định thiếu hành vi khách quan cụ thể. Bên cạnh đó, một số quy định cụ thể của BLHS năm 2015 về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông còn bất cập, hạn chế nên đã hoặc sẽ gây ra những khó khăn trong quá trình áp dụng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống và phòng ngừa tội phạm liên quan lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông chưa được quan tâm đúng mức<a href="#_ftn119" name="_ftnref119" title=""><sup><sup>[119]</sup></sup></a>. Tội phạm trên không gian mạng là tội phạm có tính chất xuyên quốc gia, số lượng bị cáo là người nước ngoài bị xét xử về tội phạm liên quan công nghệ thông tin, mạng viễn thông trong những năm vừa qua chiếm tỉ lệ khá cao so với các tội phạm khác bởi chính tính chất của không biên giới của không gian mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>tội phạm liên quan đến khoa học công nghệ thông tin, mạng viễn thông là kết quả tất yếu của cuộc CMCN, mang trong mình rất nhiều các tính chất mới, khác biệt lớn đối với các loại tội phạm truyền thống. Các chủ thể của tội phạm này là những người có hiểu biết chuyên sâu về công nghệ thông tin, áp dụng nhiều ứng dụng số để thực hiện hành vi phạm tội một cách tinh vi, phức tạp. Do vậy để có thể xử lý các loại tội này, các nhà làm luật trước tiên cũng phải có kiến thức về công nghệ thông tin ở một mức độ nhất định để hiểu rõ hành vi, thu thập và bảo quản xử lý những chứng cứ điện tử phục vụ cho việc điều tra xử lý.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.2. Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tội phạm của một số quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và khuyến nghị cho Việt Nam</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Phản ứng lập pháp của một số quốc gia về phòng, chống các tội xâm phạm an ninh mạng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Hoa Kỳ</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trên thế giới, các quốc gia đã đưa ra các giải thích về các thuật ngữ để chỉ an ninh, an toàn mạng như “cyber security”, “network security”; và “information security” (hay “security of information”) để chỉ an ninh, an toàn thông tin. Pháp luật Hoa Kỳ giải thích khái niệm “information security” (an ninh, an toàn thông tin) tại Luật “Federal Information Security Management Act of 2002” (H.R. 2458 - 48) và Luật “Federal Information Security Modernization Act of 2014” (Public Law 113-283, 113<sup>th</sup> Congress) như sau: Thuật ngữ “an ninh, an toàn thông tin” có nghĩa là bảo vệ thông tin và hệ thống thông tin không bị truy cập trái phép, sử dụng, tiết lộ, gián đoạn, thay đổi hoặc phá hoại nhằm bảo đảm: tính nguyên vẹn (nghĩa là bảo vệ chống lại việc sửa đổi hoặc phá hoại thông tin trái phép, bao gồm việc bảo đảm thông tin xác thực và không bị gián đoạn); tính bảo mật (nghĩa là hạn chế quyền tiếp cận và tiết lộ thông tin, bao gồm cả việc bảo vệ thông tin của cá nhân, tổ chức, thông tin nhà nước và thông tin riêng khác); tính khả dụng (nghĩa là bảo đảm cho việc có thể truy cập được và sử dụng được thông tin một cách kịp thời và tin cậy).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Pháp luật của các tiểu bang tại Hoa Kỳ cũng điều chỉnh các hành vi liên quan đến xâm phạm an ninh mạng. Theo thống kê mới nhất tại quốc gia này, có 22 trong số 52 tiểu bang của Hoa Kỳ đã quy định các điều khoản của luật hình sự liên quan đến an ninh mạng với mức án từ ba tháng đến hơn 10 năm<a href="#_ftn120" name="_ftnref120" title=""><sup><sup>[120]</sup></sup></a>, cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tiểu bang Washington đã thông qua một trong những đạo luật tấn công mạng đầu tiên vào năm 2004. Đó là Dự luật Hạ viện thay thế 27713, trong đó tuyên bố một người sử dụng liên lạc điện tử với “ý định quấy rối, đe dọa, hành hạ hoặc làm xấu hổ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khác” bằng ngôn ngữ dâm dục, tục tĩu; ngôn ngữ ám chỉ các mối đe dọa vật lý hoặc liên tục quấy rối một người thì được coi là tội nhẹ. Tuy nhiên, tính hợp hiến của luật này đã bị phản đối tại các Tòa án. Tháng 2 năm 2019, Thẩm phán Ronald B. Leighton của Tòa án Hoa Kỳ tại Quận Tây Washington phán quyết rằng quy định trong đạo luật trên có thể bao gồm “một loạt các lời nói không tục tĩu, không đe dọa” và “kết quả là ngay cả những lời chỉ trích công khai về các nhân vật của công chúng, các cán bộ, quan chức nhà nước đều có thể bị truy tố và chịu trách nhiệm hình sự”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Năm 2009, BLHS tiểu bang Texas đã được sửa đổi, bổ sung thêm mục 33.07 vào Phần 1 Chương 332. Nội dung điều luật này nói về những hành vi tấn công mạng như gửi thư điện tử, tin nhắn... với mục đích tìm kiếm thông tin về người khác khi họ không cho phép, có ý định lừa đảo, lừa gạt hoặc làm hại người khác.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Ngày 30/6/2008, thống đốc bang Missouri, Matt Blunt đã ký một dự luật cập nhật luật tiểu bang chống quấy rối bằng cách loại bỏ quy định yêu cầu thông tin quấy rối phải được viết hoặc thực hiện qua điện thoại. Theo đó, quấy rối từ máy tính, tin nhắn văn bản và các thiết bị điện tử khác giờ đây cũng có thể được coi là bất hợp pháp. Dự luật Thượng viện này mang tên “Sửa đổi các điều khoản khác nhau liên quan đến theo dõi và quấy rối”, ký hiệu là SB 818 (HCS SS SCS SBs 818 và 795).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Cộng hòa Liên bang Đức</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tại Đức, Luật cải thiện thực thi pháp luật trên các mạng xã hội (sau đây gọi tắt là NetzDG), được Quốc hội thông qua ngày 30/6/2017, có hiệu lực từ ngày 1/10/2017, chỉ gồm sáu điều. Trong thực tiễn, người Đức gọi NetzDG là “Luật kiểm soát Facebook”. Luật này quy định các quy tắc mà các nhà cung cấp mạng xã hội phải tuân thủ khi xử lý khiếu nại của người dùng về tội phạm chống phá chính quyền, Nhà nước; tội phạm gây hận thù, các nội dung tội phạm khác trên mạng và nghĩa vụ báo cáo theo hằng quý. Ngoài ra, nạn nhân của các hành vi vi phạm nhân cách trên mạng được quyền có thông tin về hiện trạng dữ liệu của người vi phạm dựa trên lệnh của Tòa án. Luật này được ban hành như một sự tất yếu trước sự phổ biến ngày càng tăng của tội phạm gây hận thù và các nội dung tội phạm khác, đặc biệt trên các mạng xã hội như Facebook, YouTube và Twitter. Một số nghĩa vụ được áp dụng đối với các nhà cung cấp mạng xã hội trong quy định của NetzDG. Đó là nghĩa vụ báo cáo, quản lý khiếu nại và nghĩa vụ chỉ định người đại diện, người được phép nhận tống đạt. Cốt lõi của việc quản lý khiếu nại là nhà cung cấp mạng xã hội có nghĩa vụ xóa các nội dung bất hợp pháp theo quy định của NetzDG sau khi biết, kiểm tra hoặc chặn truy cập.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Nhật Bản</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chính sách an ninh mạng của Nhật Bản đã được ban hành song song với sự phát triển của Internet tại nước này<a href="#_ftn121" name="_ftnref121" title=""><sup><sup>[121]</sup></sup></a>, với Đạo luật Cơ bản về sự hình thành xã hội mạng thông tin và viễn thông tiên tiến 2000 - Luật Công nghệ thông tin (IT) 2000 (Basic Act on the Formation of an Advanced Information and Telecommunications Network Society - Basic IT law). Trong những thập kỉ tiếp theo, xây dựng pháp luật về an ninh mạng luôn điểm là ưu tiên hàng đầu trong chính sách an ninh mạng của Nhật Bản. Trong các phiên bản Chiến lược An ninh mạng của Nhật Bản từ 2015, 2018 và gần đây nhất là 2021, xây dựng pháp luật về an ninh mạng là nguyên tắc xuyên suốt được ghi nhận với phương châm “pháp luật trên không gian mạng hiệu quả như với pháp luật ngoài đời thực”<a href="#_ftn122" name="_ftnref122" title=""><sup><sup>[122]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hiện nay, văn bản luật quy định cụ thể về an ninh mạng tại Nhật Bản là Luật Cơ bản về an ninh mạng (Basic Act on Cybersecurity - BAC), có hiệu lực năm 2015, sửa đổi, bổ sung vào năm 2016 và 2018, thừa nhận và nâng cao những quan điểm và biện pháp của luật Công nghệ thông tin 2000. Về mục đích và phạm vi điều chỉnh, Điều 1 BAC quy định mục đích của luật là củng cố chính sách an ninh mạng một cách toàn diện và hiệu quả bằng các biện pháp: (i) quy định những nguyên tắc cơ bản của chính sách an ninh mạng quốc gia; (ii) làm rõ trách nhiệm của chính phủ trung ương, cấp địa phương và các thực thể công liên quan; (iii) quy định những vấn đề quan trọng về chiến lược liên quan tới an ninh mạng như thủ tục ban hành chiến lược an ninh mạng; (iv) thành lập Cơ quan Chiến lược an ninh mạng (Cybersecurity Strategic Headquarters). Về định nghĩa, Điều 2 quy định “An ninh mạng” là những “biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc rò rỉ, mất mát hoặc hư hỏng và quản lý an toàn những thông tin được ghi lại, gửi, truyền hoặc nhận dưới dạng điện tử, dạng từ tính hoặc bất kỳ dạng nào khác không thể được nhận biết bằng giác quan của con người; những biện pháp này được thực hiện để đảm bảo an ninh và độ tin cậy (reliability) của hệ thống thông tin và mạng lưới thông tin và viễn thông, (bao gồm các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa những thiệt hại do các hoạt động trái phép hướng tới mạng máy tính thông qua mạng thông tin và truyền thông hoặc qua phương tiện lưu trữ đã liên kết với thông tin được ghi nhận ở dạng điện tử hoặc từ tính, duy trì và quản lý trạng thái này một cách phù hợp”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối với nhóm biện pháp thứ (i), Điều 3 BAC quy định: <em>một là</em>, thúc đẩy chính sách an ninh mạng phản ứng nhanh với các mối đe dọa an ninh mạng thông qua sự phối hợp giữa nhiều chủ thể, bao gồm chính phủ trung ương, cấp địa phương và các bên khai thác hạ tầng thông tin quan trọng (Critical Information Infrastructure Operators - CII Operators)<a href="#_ftn123" name="_ftnref123" title=""><sup><sup>[123]</sup></sup></a>; <em>hai là</em>, nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong xã hội về an ninh mạng và thúc đẩy tinh thần tự nguyện ngăn chặn bất kì thiệt hại nào đến từ các mối đe dọa an ninh mạng, tạo lập một hệ thống linh hoạt có thể phục hồi nhanh chóng sau thất bại (failure) hoặc thiệt hại (damage); <em>ba là</em>, duy trì hệ thống Internet và thông tin, viễn thông nâng cao để tiến tới xây dựng nền kinh tế và xã hội quan trọng dựa trên sự khai thác tối đa công nghệ thông tin và truyền thông; <em>bốn là</em>, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm xây dựng và phát triển khung quy phạm (normative) quốc tế về an ninh mạng; <em>năm là</em>, chính sách an ninh mạng phải phù hợp với những nguyên tắc của luật Công nghệ thông tin 2000; <em>sáu là,</em> chính sách an ninh mạng không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của con người.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối với nhóm biện pháp thứ (ii), Điều 4 đến Điều 11 làm rõ trách nhiệm của nhà nước và các thực thể công khác. Cụ thể: một là, chính phủ trung ương: có trách nhiệm xây dựng (formulate) và thi hành (implement) chính sách tổng thể an ninh mạng (Điều 4), thi hành bằng biện pháp lập pháp, tài chính hoặc thuế (Điều 10), nỗ lực phát triển các tổ chức quản lý (administrative organisations) và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính; hai là, chính quyền địa phương: có trách nhiệm xây dựng và thi hành chính sách an ninh mạng độc lập phù hợp với chức năng mà chính phủ trung ương phân công (Điều 5). Với các thực thể công khác, cả ba thực thể công được BAC quy định trách nhiệm là các bên khai thác CII, các chủ thể kinh doanh liên quan đến môi trường mạng và các chủ thể kinh doanh khác (chủ thể kinh doanh), các tổ chức giáo dục và nghiên cứu (tổ chức giáo dục) đều có trách nhiệm đảm bảo an ninh mạng một cách chủ động và tự nguyện, phối hợp thực hiện các biện pháp an ninh mạng do chính phủ trung ương và chính quyền địa phương ban hành. Ngoài ra, bên khai thác CII có trách nhiệm tự nâng cao hiểu biết và nhận thức về giá trị quan trọng của an ninh mạng (Điều 6), các chủ thể kinh doanh các tổ chức giáo dục có trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực chuyên môn về an ninh mạng, phổ biến nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về an ninh mạng (Điều 8).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối với nhóm biện pháp thứ (iii), Điều 12 quy định thủ tục ban hành chiến lược an ninh mạng, trong đó nhấn mạnh chính phủ có thẩm quyền ban hành chiến lược an ninh mạng thông qua quyết định của nội các (cabinet). Ngoài ra, khi ban hành chiến lược an ninh mạng, chính phủ phải báo cáo với Quốc hội, đồng thời thông báo công khai nội dung của chiến lược an ninh mạng trên Internet và các phương tiện phù hợp khác. Về những nội dung cơ bản của chính sách an ninh mạng, Điều 13 đến Điều 23 là các quy định về các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực bảo vệ an ninh mạng của các chủ thể liên quan (như trên). Trong đó, BAC dành Điều 17 nhấn mạnh chính phủ có thẩm quyền ban hành các biện pháp phòng chống tội phạm mạng và ngăn chặn sự lan rộng của thiệt hại.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đối với nhóm biện pháp thứ (iv), tổ chức của cơ quan chiến lược an ninh mạng được quy định từ Điều 24 đến Điều 35 như sơ đồ dưới đây:</span></span></p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p>
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p align="center">
</p>
<p>
</p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>Cơ cấu tổ chức của cơ quan chiến lược an ninh mạng theo BAC</em></span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(Dịch lại từ: Carapeto, Roberto (2021), tldd, tr.8)</em></span></span></p>
<p>
</p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, có thể thấy, từ sự nhận diện về thực trạng, khung pháp lý về an ninh mạng của Nhật Bản đã được xây dựng, trước hết thông qua các đạo luật mang tính ràng buộc trách nhiệm đối với an ninh mạng của nhà nước, tổ chức, cá nhân như luật Công nghệ thông tin 2000, BAC 2015. Đây là bước đi đầu tiên tạo tiền đề cho những quy định trong các lĩnh vực khác để phòng chống tội phạm trong CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Trung Quốc</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc đã thắt chặt các quy định về an ninh mạng, bảo mật dữ liệu và bảo vệ thông tin cá nhân. Các cơ quan chính phủ, chẳng hạn như Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc (gọi tắt là “CAC”), đã ban hành nhiều quy định khác nhau để thực hiện “Ba Luật Cơ bản”<a href="#_ftn124" name="_ftnref124" title=""><sup><sup>[124]</sup></sup></a>. Ngoài ra, các cơ quan chính phủ và bán chính phủ khác, chẳng hạn như Ủy ban Kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa An toàn Thông tin Quốc gia của Trung Quốc, cũng đã đưa ra nhiều tiêu chuẩn quốc gia để được hướng dẫn chi tiết hơn. Nhiều quy định và tiêu chuẩn quốc gia đang được soạn thảo hoặc chưa được soạn thảo.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Quan điểm của Trung Quốc về chủ quyền không gian mạng có những điểm mới về cách tiếp cận. Từ góc độ thực tiễn, trong thời gian qua, Trung Quốc tích cực đưa ra những lập luận, cơ sở thực tiễn trên thế giới thông qua các tuyên bố, văn kiện các hội nghị quốc tế không gian mạng. Thí dụ: Tuyên bố về các nguyên tắc của Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin (WSIS) năm 2003; Báo cáo năm 2015 và 2021 của Nhóm các chuyên gia chính phủ của Liên hợp quốc (UN GGE); Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20) năm 2015; Tuyên bố Goa của Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS) năm 2016. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bốn quyền cơ bản gồm: (1) quyền độc lập về không gian mạng, tức là cơ sở hạ tầng không gian mạng được đặt trên lãnh thổ Trung Quốc hoạt động một cách tự chủ và không thể bị can thiệp bởi các quốc gia; (2) bình đẳng trên không gian mạng, tức là mọi quốc gia đều có địa vị quản trị bình đẳng trong kết nối mạng quốc tế; (3) nhà nước có quyền tự vệ trên không gian mạng để bảo vệ không gian mạng của họ không bị xâm phạm; (4) quyền tài phán trên không gian mạng, tức là các cơ sở cấu thành không gian mạng và dữ liệu của chúng được bảo vệ bởi quyền tài phán quốc gia.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bốn nguyên tắc cơ bản gồm: (1) tôn trọng chủ quyền không gian mạng của tất cả các quốc gia; (2) mọi quốc gia không vi phạm không gian mạng của các quốc gia khác; (3) mọi quốc gia không can thiệp vào hoạt động quản lý không gian mạng của các quốc gia khác; (4) chủ quyền không gian mạng của tất cả các quốc gia có vị thế bình đẳng trong quản trị không gian mạng quốc tế các hoạt động<a href="#_ftn125" name="_ftnref125" title=""><sup><sup>[125]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nói tóm lại, <em>chủ quyền không gian mạng bao gồm các hình thức chủ quyền như: chủ quyền dữ liệu, chủ quyền thông tin, chủ quyền không gian điện từ và chủ quyền kỹ thuật.</em> <a href="#_ftn126" name="_ftnref126" title=""><sup><sup>[126]</sup></sup></a></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về cơ bản, Luật An ninh mạng Trung Quốc khá dài và chi tiết cũng như nhiều điều khoản đáng lưu ý nhất trong luật này như:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Người dùng mạng xã hội tại Trung Quốc khi bình luận khiếm nhã hay chia sẻ lan truyền những thông tin nhạy cảm không hợp pháp sẽ có thể bị phạt tù từ 5 ngày đến 11 năm tùy vào mức độ nghiêm trọng của vụ việc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tất cả mọi công ty nước ngoài khi vào thị trường trung quốc, theo luật an ninh mạng đều phải đặt máy chủ tại đất nước này và thông báo cho chính quyền địa phương. Yêu cầu này áp dụng yêu cầu trước khi hết năm 2018 các công ty nước ngoài đều phải tuân theo luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Công dân khi sử dụng internet tại Trung Quốc đều phải đăng ký dịch vụ mạng với tên thật, hình ảnh thật, thậm chí phải có chứng minh thư qua hình chụp rõ ràng. Theo giải thích của các chuyên gia bởi vì điều này sẽ gắn liền với bảng xếp hạn hạnh kiểm công dân tại quốc gia tỷ dân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Những trang web vi phạm luật an ninh mạng tại Trung Quốc sẽ bị cấm tuyệt đối, không được phép đăng tải bất kì thông tin nào mà chưa thông qua sự kiểm duyệt của siêu máy chủ do chính phủ nước này tạo nên.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Các công ty chuyên cung cấp giải pháp bảo mật hoặc mã hóa dữ liệu thông qua VPN (Virtual Private Network) đều phải tham gia vào mạng lưới dưới sự kiểm soát của chính quyền Trung Quốc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với những quy định và hệ thống các cơ quan quản lý thông tin chặt chẽ trên không gian mạng, có thể nói, Trung Quốc đã kiểm soát tốt các hành vi tin giả, lừa đảo hay bình luận xúc phạm hoặc đưa tin gây ảnh hưởng đối với các tổ chức và cá nhân một cách không hợp pháp. Việc định danh những người tham gia môi trường mạng đảm bảo hạn chế đến mức tối đa hành vi lừa đảo, mạo danh, tiến tới việc quản lý môi trường mạng tiệm cận với cách thức quản lý đối với môi trường xã hội thực. Đây là những biện pháp quản lý rất nghiêm khắc và hầu như không có quốc gia trên thế giới áp dụng. Các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm luật an ninh mạng và thông tin cá nhân của Trung Quốc rất nghiêm khắc, có tác dụng răn đe rất lớn, nhất là đối với các công ty công nghệ có lưu trữ số lượng lớn dữ liệu người dùng ở quốc gia này.Vụ việc xử phạt ứng dụng gọi xe Didi<a href="#_ftn127" name="_ftnref127" title=""><sup><sup>[127]</sup></sup></a> hay nền tảng mạng xã hội Weibo - mạng xã hội có số lượng người dùng lớn nhất Trung Quốc<a href="#_ftn128" name="_ftnref128" title=""><sup><sup>[128]</sup></sup></a> trong thời gian gần đây là minh chứng cho chính sách nghiêm khắc của Trung Quốc đối với các hành vi vi phạm trên môi trường mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Phản ứng lập pháp của một số quốc gia về phòng, chống các tội xâm phạm thông tin cá nhân trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Vương quốc Anh </strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đạo luật Bảo vệ Dữ liệu năm 2018 của Vương quốc Anh đã bổ sung thêm tội “tái nhận dạng thông tin cá nhân đã được khử nhận dạng.” Theo đó, một người được coi là phạm tội khi cố ý hoặc vô ý tái nhận dạng thông tin đã được khử nhận dạng thông tin cá nhân mà không có sự đồng ý của bên kiểm soát dữ liệu chịu trách nhiệm khử nhận dạng thông tin cá nhân. Tuy nhiên, người này có thể được coi là không phạm tội khi chứng minh được rằng việc tái nhận dạng thông tin cá nhân là cần thiết vì mục đích ngăn chặn hoặc phát hiện tội phạm; do luật hoặc lệnh của tòa án yêu cầu hoặc ủy quyền; trong những trường hợp nhất định, là chính đáng vì lợi ích công cộng; do người này tin tưởng một cách hợp lý rằng người này là chủ thể dữ liệu mà thông tin liên hệ tới hay bên kiểm soát dữ liệu chịu trách nhiệm khử nhận dạng thông tin cá nhân, có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hay bên kiểm soát dữ liệu, sẽ có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hay bên kiểm soát dữ liệu nếu họ biết về việc tái nhận dạng dữ liệu và hoàn cảnh thực hiện việc đó; người này hành động vì mục đích đặc biệt, nhằm thực hiện xuất bản phẩm báo chí, học thuật, nghệ thuật hay văn học, và tin tưởng một cách hợp lý rằng trong những trường hợp nhất định việc tái nhận dạng là chính đáng vì lợi ích công cộng hoặc đáp ứng được các điều kiện chứng minh việc tái nhận dạng là để kiểm thử tính hiệu quả của quá trình khử nhận dạng thông tin cá nhân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, người nào cố ý hoặc vô ý xử lý thông tin cá nhân là thông tin đã được tái nhận dạng khi không có sự đồng ý của bên kiểm soát chịu trách nhiệm khử nhận dạng, và trong trường hợp việc tái nhận dạng là một tội do luật định thì cũng được coi là phạm tội. Tuy nhiên, người này có thể được coi là không phạm tội nếu chứng minh được rằng việc xử lý là cần thiết để ngăn chặn hoặc phát hiện tội phạm, do luật hoặc tòa án yêu cầu hay ủy quyền, hoặc trong những trường hợp nhất định, là chính đáng vì lợi ích công cộng; người này đã tin tưởng một cách hợp lý rằng việc xử lý là hợp pháp trong khi thực hiện hành vi, tin tưởng một cách hợp lý rằng mình có sự đồng ý của bên kiểm soát dữ liệu hoặc sẽ có sự đồng ý như vậy nếu bên kiểm soát dữ liệu biết về việc xử lý và hoàn cảnh thực hiện việc đó; vì mục đích đặc biệt, phục vụ xuất bản phẩm báo chí, học thuật, nghệ thuật hay văn học, và tin tưởng một cách hợp lý rằng trong những trường hợp nhất định việc xử lý là chính đáng vì lợi ích công cộng<a href="#_ftn129" name="_ftnref129" title=""><sup><sup>[129]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở Vương quốc Anh, một công ty sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý gián tiếp khi một nhân viên cố tình làm rò rỉ thông tin một cách sai trái và cố tình để tìm cách trả đũa cấp trên của mình. Một công ty cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý theo Đạo luật Bảo vệ Dữ liệu 2018 (Vương quốc Anh), nếu nó đã thực hiện trách nhiệm giải trình để ngăn chặn thông tin bị rò rỉ. Phần lớn các vụ vi phạm dữ liệu đã xảy ra trong các trường hợp khi nhà cung cấp dịch vụ Internet đã có chế độ bảo mật hoàn hảo. Việc xâm phạm dữ liệu lớn đã gây ra một loạt tác hại ngoài những thiệt hại về tinh thần do thông tin cá nhân bị công khai.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Trung Quốc </strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân, pháp luật Trung Quốc có quy định rõ ràng về trách nhiệm hình sự của bên cung cấp dịch vụ Internet. Một số luật mới đã được ban hành ở Trung Quốc để đảm bảo rằng các nhà cung cấp dịch vụ Internet hạn chế tối đa thiệt hại hình sự mà người khác gây ra bằng việc sử dụng dịch vụ. Điều 286(1)(b) BLHS Trung Quốc quy định một trong các tội danh của nhà cung cấp dịch vụ Internet, khi “nhà cung cấp dịch vụ Internet cho phép hoặc gây ra rò rỉ thông tin người dùng, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng<a href="#_ftn130" name="_ftnref130" title=""><sup><sup>[130]</sup></sup></a>.”</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Điều 286(1)(b) dường như cũng đáp ứng ngưỡng có hại để biện minh cho việc hình sự hóa, bởi vì việc rò rỉ thông tin bí mật hoặc không ngăn được thông tin bí mật bị tấn công và rò rỉ do bảo mật kém, là có hại. Nếu một nhà cung cấp dịch vụ Internet được cảnh báo rằng khả năng bảo mật của mình yếu, thì nhà cung cấp có nghĩa vụ đảm bảo rằng mình đang sử dụng các tính năng bảo mật tốt nhất có thể để đề phòng tin tặc. Sẽ rất khó để thiết lập một bộ lọc trí tuệ nhân tạo để xác định thông tin riêng tư và bí mật, nhưng trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh nếu nhà cung cấp không xóa nội dung sau khi được cảnh báo hoặc không có các tính năng bảo mật thích hợp để bảo vệ dữ liệu đó. Nhiều vụ vi phạm dữ liệu lớn là do bị tấn công vào những nơi có bảo mật kém. Theo Điều 286(1)(b), ngay cả mạng xã hội hay những ứng dụng nhắn tin như Weibo hoặc WeChat cũng bị cảnh báo để thực hiện các biện pháp bảo mật thích hợp hoặc nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tiếp tục tạo điều kiện cho việc rò rỉ dữ liệu tiềm ẩn sau khi được cảnh báo. Rõ ràng, vi phạm dữ liệu có thể tạo điều kiện cho gian lận mạng, tống tiền và đánh cắp danh tính, đồng thời gây ra một loạt các tác hại khác, vì vậy, Điều 286(1)(b) được xây dựng nhằm mục đích ngăn chặn sự xâm hại thông tin cá nhân từ người khác<a href="#_ftn131" name="_ftnref131" title=""><sup><sup>[131]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo BLHS Trung Quốc (Điều 286), người nào vi phạm các quy định mà xóa, sửa, bổ sung, can thiệp vào hệ thống thông tin máy tính, làm cho hệ thống hoạt động không bình thường và gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù có thời hạn hoặc tạm giữ hình sự không quá năm năm; khi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù không dưới năm năm; hoặc bất kỳ ai vi phạm các quy định của nhà nước và xóa, thay đổi, hoặc thêm dữ liệu hoặc chương trình ứng dụng được cài đặt trong hoặc xử lý và truyền tải bởi hệ thống máy tính và gây ra hậu quả nghiêm trọng, sẽ bị trừng phạt theo đoạn trên. Việc cố tình tạo ra và phát tán vi rút máy tính và các chương trình khác phá hoại hoạt động bình thường của hệ thống máy tính và gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ bị trừng phạt đến năm năm tù. Trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù không dưới năm năm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Singapore</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh phát triển của cuộc CMCN 4.0 và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Singapore gần đây đã thông qua các sửa đổi đối với Đạo luật Lạm dụng Máy tính (CMA)<a href="#_ftn132" name="_ftnref132" title=""><sup><sup>[132]</sup></sup></a>, đưa ra các biện pháp xử lý hình sự mới đối với các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân trên không gian mạng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cụ thể, CMA đã quy định hai tội danh mới liên quan đến các tội xâm phạm thông tin cá nhân trên không gian mạng, bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Sử dụng sai thông tin cá nhân thu được từ tội phạm máy tính<a href="#_ftn133" name="_ftnref133" title=""><sup><sup>[133]</sup></sup></a>: tội phạm này nghiêm cấm việc thu thập, lưu giữ, cung cấp, đề nghị cung cấp, truyền hoặc cung cấp thông tin cá nhân mà người đó biết hoặc có lý do để tin rằng đã có được khi phạm tội máy tính. Tuy nhiên, có một số trường hợp ngoại lệ được áp dụng nếu hoạt động được thực hiện với mục đích hợp pháp (ví dụ: để thực hiện điều tra vi phạm dữ liệu) hoặc nếu người đó thiếu kiến thức hoặc niềm tin cần thiết. Trên thực tế, điều này có nghĩa là các tổ chức nên tránh mua, bán hoặc nói chung, xử lý thông tin cá nhân từ một nguồn không xác định hoặc có vấn đề.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Lạm dụng quyền truy cập vào máy tính hoặc bất kỳ vật dụng nào có khả năng phạm tội xâm phạm sự toàn vẹn của máy tính<a href="#_ftn134" name="_ftnref134" title=""><sup><sup>[134]</sup></sup></a>: hành vi phạm tội này nghiêm cấm việc lấy, lưu giữ, cung cấp hoặc đề nghị cung cấp hoặc cung cấp một vật phẩm hoặc quyền truy cập vào (hoặc một phần của máy tính) để thực hiện, hoặc có khả năng được sử dụng để thực hiện một tội phạm máy tính. Điều này bao gồm quyền truy cập vào các thiết bị, chương trình máy tính, mật khẩu, mã truy cập hoặc bất kỳ dữ liệu nào cung cấp quyền truy cập đó. Mặc dù Bộ Nội vụ Singapore đã tuyên bố đã tội phạm hóa hành vi cập bất hợp pháp vào máy tính của tin tặc, điều này cũng có thể coi là một “cảnh báo” đối với các tổ chức hoạt động tại Singapore để thực hiện các biện pháp bảo mật hợp lý đối với sử dụng các thiết bị điện tử để tránh trở thành mục tiêu dễ dàng cho tin tặc máy tính. Điều 11 Luật sửa đổi mới nhất của CMA năm 2018 cũng đã mở rộng hơn nữa phạm vi của thẩm quyền tài phán để bao gồm các hành vi vi phạm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng<a href="#_ftn135" name="_ftnref135" title=""><sup><sup>[135]</sup></sup></a> trên lãnh thổ Singapore, ngay cả khi cả người phạm tội và máy tính mục tiêu đều không được đặt ở Singapore. Đây cũng là phản ứng đối với mối đe dọa ngày càng tăng của các cuộc tấn công quy mô lớn từ nước ngoài, bao gồm cả các tổ chức được nhà nước bảo trợ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc bổ sung hai tội danh này là cần thiết, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn của quốc gia này khi mà tội phạm mạng đã trở nên phổ biến và các dữ liệu có được từ những hành vi vi phạm trên được sử dụng vào mục đích mua bán trái phép dữ liệu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, BLHS Singapore cũng có sự thay đổi khi bổ sung hình phạt đối với hành vi trộm cắp danh tính và gian lận danh tính. Theo Điều 416 và 419 Bộ luật này, một người gian lận bằng cách giả danh (nghĩa là nếu anh ta gian lận bằng cách giả làm một người khác hoặc bằng cách cố ý thay thế người này cho người khác), sẽ bị coi là phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự: bị phạt tù có thời hạn đến năm năm và/hoặc phạt tiền. Hành vi phạm tội này được áp dụng chung, trong đó bao gồm cả bối cảnh không gian mạng. Riêng Điều 170 BLHS quy định tội giả mạo một công chức. Bất kỳ người nào bị kết án về tội này sẽ phải hình phạt tù có thời hạn có thể kéo dài đến hai năm và/hoặc phạt tiền. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng BLHS sửa đổi năm 2019 có quy định về tội chiếm đoạt trái phép thông tin cá nhân, tuy nhiên, điều luật này cơ bản chỉ áp dụng với hành vi chiếm đoạt thông tin cá nhân bằng phương thức truyền thống, còn với phương thức thông qua máy tính/chương trình máy tính thì áp dụng theo CMA.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Nhật Bản</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nhật Bản đã ban hành luật để bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân (Đạo luật Bảo vệ Thông tin cá nhân - Act of Protection of Personal Information - APPI). Về mục đích và phạm vi điều chỉnh, APPI được ban hành nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, đồng thời tận dụng những lợi ích của thông tin cá nhân trong bối cảnh sự phát triển của khoa học công nghệ, bằng cách làm rõ trách nhiệm của các chủ thể công như Nhà nước, chính quyền địa phương… và các chủ thể có khả năng xử lí thông tin cá nhân khác nhằm tạo ra khung pháp lí bảo vệ thông tin cá nhân<a href="#_ftn136" name="_ftnref136" title=""><sup><sup>[136]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đạo luật APPI 2003 thể hiện rõ việc hướng tới hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường có hoạt động xử lí thông tin cá nhân bằng các quy định về nghĩa vụ mà “những thực thể xử lí thông tin cá nhân” (entities handling personal information) phải tuân thủ tại Chương 4.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khi xảy ra hành vi vi phạm các nghĩa vụ tại Chương 4, APPI quy định một số chế tài hành chính mà cơ quan nhà nước được áp dụng trước khi áp dụng chế tài hình sự. Đối với các chế tài hành chính:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Điều 34 quy định chủ thể kinh doanh có hành vi vi phạm những nghĩa vụ tại các điều từ 16 đến 18, từ điều 20 đến 27, khoản 2 Điều 30<a href="#_ftn137" name="_ftnref137" title="">[137]</a> sẽ nhận được Bộ ngành quản lý gửi văn bản yêu cầu chấm dứt và khuyến nghị (recommend) các biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm. Trường hợp chủ thể kinh doanh không thực hiện các biện pháp chấm dứt được khuyến nghị, cơ quan quản lý có quyền ra chỉ thị (order) yêu cầu chủ thể kinh doanh thực hiện các biện pháp được khuyến nghị.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Điều 32 quy định cơ quan quản lý có quyền yêu cầu chủ thể kinh doanh có xử lý thông tin cá nhân báo cáo hoạt động về hoạt động xử lý thông tin cá nhân trong trường hợp cần thiết nhằm thi hành các điều khoản của APPI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) Điều 46 quy định cơ quan quản lý có quyền yêu cầu tổ chức được ủy quyền bảo vệ thông tin cá nhân báo cáo về hoạt động được ủy quyền trong trường hợp cần thiết nhằm thi hành các điều khoản của APPI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) Điều 37 quy định bên cạnh hoạt động bảo vệ thông tin cá nhân của chính bộ ngành quản lý, về pháp nhân cũng có thể được cơ quan nhà nước ủy quyền bảo vệ thông tin cá nhân (authorized personal information protection organization). Đối với các chủ thể này, trong trường hợp muốn chấm dứt ủy quyền, họ có nghĩa vụ phải thông báo với bộ ngành quản lý theo quy định tại Điều 40. Ngoài ra, Điều 45 quy định các chủ thể kinh doanh không phải là các pháp nhân được ủy quyền bảo vệ thông tin cá nhân cũng không được phép sử dụng tên “pháp nhân được ủy quyền bản vệ thông tin cá nhân” hoặc các tên khác gây nhầm lẫn với ý nghĩa tương tự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Mức chế tài hình sự được ghi nhận tại APPI tương ứng với mức độ tuân thủ nghĩa vụ và các biện pháp hành chính của cơ quan nhà nước đối với các chủ thể thực hiện hành vi xử lí dữ liệu. Cụ thể:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) <em>Điều 56 quy định chủ thể kinh doanh (business operator) không tuân thủ chỉ thị (order) được ban hành theo Điều 34 bị phạt tù có lao động không quá 06 tháng hoặc phạt tiền không quá 300.000 JPY</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) <em>Điều 57 quy định chủ thể kinh doanh (business operator) không thực hiện báo cáo hoặc báo cáo không chính xác theo quy định tại Điều 32 và 46 bị phạt tiền không quá 300.000 JPY</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) <em>Điều 58 quy định nếu cá nhân thực hiện hành vi vi phạm theo mô tả tội phạm tại Điều 56 và 57 thuộc quyền quản lý hợp pháp của pháp nhân, pháp nhân đó cũng phải chịu phạt tiền tương tự như cá nhân do pháp nhân đó quản lý. Đối với tổ chức không có tư cách pháp nhân quản lý hợp pháp cá nhân có hành vi vi phạm, người quản lý hoặc đại diện sẽ chịu chế tài phạt tiền tương tự như đối với pháp nhân</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) <em>Điều 59 quy định mức phạt không quá 100.000 JPY trong trường hợp những chủ thể kinh doanh là các pháp nhân được ủy quyền bảo vệ thông tin cá nhân không thực hiện thủ tục thông báo hoặc thông báo không chính xác theo quy định tại điều 40; các chủ thể kinh doanh vi phạm quy định tại Điều 45</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đến nay, APPI đã trải qua hai lần sửa đổi, có hiệu lực vào năm 2017 và năm 2022. APPI 2017 cho ra đời cơ quan Ủy ban Bảo vệ thông tin cá nhân (Personal Information Protection Commission - PPC) là cơ quan chuyên trách thi hành APPI. Theo APPI 2022, các hình phạt đã được “nâng cấp” cả mô tả tội phạm và chế tài. Một số điểm sửa đổi đáng kể so với APPI 2003 có thể kể đến như:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(i) Bổ sung Điều 82 quy định cá nhân là Chủ tịch, Ủy viên, Ủy viên chuyên trách và nhân viên thư ký của Ủy ban Bảo vệ thông tin cá nhân có hành vi tiết lộ hoặc sử dụng không ngay tình một bí mật (secret) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và sau khi rời vị trí tại nhiệm sở chịu phạt tù có lao động không quá 02 năm hoặc phạt tiền không quá 1.000.000 JPY.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(ii) Điều 83 nâng mức phạt đối với hành vi không thực hiện chỉ thị của PPC từ phạt tù có lao động không quá 06 tháng (APPI 2003, APPI 2017) lên không quá 01 năm hoặc phạt tiền từ mức không quá 300.000 JPY (APPI 2003, APPI 2017) lên mức không quá 1.000.000 JPY. Đồng thời, điều 83 cũng quy định rõ chủ thể chịu trách nhiệm là người trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm thay vì quy định chủ thể kinh doanh (business operator) như Điều 56 APPI 2003.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iii) Bổ sung hành vi tội phạm tại Điều 84: Chủ thể kinh doanh (hoặc người điều hành, nhân viên, …) thực hiện hành vi xử lý dữ liệu nhằm mục đích thu lợi bất chính cho chính chủ thể đó hoặc cho bên thứ ba chịu mức phạt tù có lao động không quá 01 năm hoặc phạt tiền không quá 500.000 JPY.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(iv) Điều 85 nâng mức phạt đối với hành vi không thực hiện báo cáo, báo cáo không chính xác, không hồi đáp, hồi đáp không chính xác những yêu cầu theo quy định của APPI và công chức PPC đối với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm lên từ không quá 300.000 JPY (Điều 57 APPI 2003) lên không quá 500.000 JPY.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(v) Điều 87 quy định cụ thể mức phạt đối với tổ chức doanh nghiệp quản lý hợp pháp cá nhân thực hiện hành vi vi phạm theo Điều 83, 84, 85 kể trên áp dụng mức phạt cao hơn mức phạt tại Điều 58 APPI 2003, từ mức phạt tương đương với cá nhân thực hiện hành vi vi phạm lên không quá 100.000.000.000 JPY đối với vi phạm tại Điều 83, 84 và tương đương đối với vi phạm tại Điều 85.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(vi) Điều 88 nâng mức phạt cá nhân vi phạm nghĩa vụ thông báo chấm dứt hoạt động dịch vụ công nhận bảo vệ thông tin cá nhân (accredited personal information protection organization) (Điều 50.1), hành vi sử dụng trái phép tên “dịch vụ công nhận bảo vệ thông tin cá nhân” (Điều 55), chuyển thông tin cho bên thứ ba hoặc chuyển ra nước ngoài không có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (Điều 26.2).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">(vii) Bổ sung trường hợp thực hiện hành vi vi phạm tại nước ngoài tại Điều 86: các chế tài tại Điều 82 và 84 được áp dụng tương tự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, có thể thấy <strong>APPI đã đưa ra trình tự rõ ràng cho việc áp dụng các chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo vệ thông tin cá nhân</strong> kể từ đạo luật APPI 2003. Mức chế tài đã được nâng cao nhằm đạt mục đích răn đe, giáo dục pháp luật. Có thể thấy rõ điều này nếu nhìn vào thời điểm những năm 2000-2003, thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita) trong khoảng 36.000 JPY/năm, từ năm 2015-2021, con số đó tăng không đáng kể (khoảng 37.000 JPY/năm)<a href="#_ftn138" name="_ftnref138" title="">[138]</a>, nhưng mức chế tài lại nâng lên đáng kể nếu so sánh APPI 2017, APPI 2022 với APPI 2003. Khi việc áp dụng các chế tài hành chính không đạt hiệu quả, các chế tài hình sự được áp dụng với mức độ cụ thể cao trong phần mô tả tội phạm. Nếu như tại APPI 2003, trách nhiệm được quy kết chung chung cho chủ thể kinh doanh thì đến APPI 2022, đã có quy định rõ chủ thể chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm là cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm tại Điều 82, 83, 85, 86, 87, 88. Có thể thấy, các chế tài của APPI tuy nghiêm khắc nhưng vẫn cho thấy sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, thể hiện ở những quy định về khuyến nghị, chỉ thị thực hiện khuyến nghị khi có hành vi vi phạm xảy ra.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>ASEAN</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong ASEAN, Malaysia ban hành Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2010<a href="#_ftn139" name="_ftnref139" title=""><sup><sup>[139]</sup></sup></a>, Singapore đã ban hành Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2012 (Personal Data Protection Act of 2012) cùng Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2014 (Personal Data Protection Regulations 2014)<a href="#_ftn140" name="_ftnref140" title=""><sup><sup>[140]</sup></sup></a>. Thailand ban hành đạo luật đầu tiên về bảo vệ dữ liệu cá nhân (“Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân” - Personal Data Protection Act, năm 2019, có hiệu lực chính thức từ ngày 27/5/2020)<sup> <a href="#_ftn141" name="_ftnref141" title=""><sup>[141]</sup></a></sup>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>c. Phản ứng lập pháp của một số quốc gia về phòng, chống tội phạm rửa tiền trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Rửa tiền là hoạt động tội phạm đã xuất hiện từ lâu, với cách thức và quy mô không ngừng thay đổi. Để hoạt động rửa tiền được diễn ra thuận tiện và tránh khỏi những sự kiểm tra, giám sát từ các cơ quan chức năng, các tổ chức tội phạm luôn có những cách thức mới để cải thiện hình thức rửa tiền truyền thống. Các thủ đoạn rửa tiền ngày càng trở nên tinh vi, gây khó khăn trong việc phát giác, điều tra cũng như triệt phá, đặc biệt là dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 với những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, các tổ chức tội phạm đã có nhiều cách thức mới để thực hiện hành vi rửa tiền. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong hoàn thiện pháp luật để xử lý hành vi phạm tội rửa tiền như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Hoa Kỳ</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc đưa ra các quy định và hành động cứng rắn đối với các hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố. Theo Luật Phòng, chống rửa tiền tại Hoa Kỳ, các tổ chức tài chính báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền và phải lưu giữ tất cả các chứng từ liên quan đến giao dịch trên 10.000 đô-la Mỹ. Sau này luật được sửa đổi, cho phép các cơ quan chức năng có thể hạ thấp mức chuẩn 10.000 đô-la Mỹ trong các điều tra nếu thấy cần thiết. Luật Phòng, chống rửa tiền tại Hoa Kỳ quy định cụ thể nghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức, trường hợp cá nhân hoặc tổ chức khi phát hiện các đối tượng tham gia vào bất kỳ hoạt động rửa tiền nào phải báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền. Đây là một trong những căn cứ để tịch thu, sung công quỹ tiền và tài sản có liên quan đến hoạt động rửa tiền của các đối tượng phạm tội. Trường hợp các cá nhân không tuân thủ những quy tắc và luật lệ liên quan đến hoạt động phòng, chống rửa tiền thì có thể xử lý về mặt dân sự, hoặc hình sự, tùy vào mức độ vi phạm nặng hay nhẹ làm căn cứ xử lý. Đối tượng vi phạm sẽ bị phạt nặng, với số tiền phạt có thể lên đến 250.000 đô-la Mỹ và phạt đến 5 năm tù giam; hoặc nếu phạm tội có tổ chức với số tiền lớn hơn 100.000 đô-la Mỹ trong vòng 12 tháng và có vi phạm những quy định khác trong BLHS của Hoa Kỳ, mức phạt có thể lên tới 500.000 đô-la Mỹ và 10 năm tù giam<a href="#_ftn142" name="_ftnref142" title=""><sup><sup>[142]</sup></sup></a>…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về tiền ảo, tùy theo quy định tại pháp luật liên bang Hoa Kỳ, tiền ảo có thể được coi là một loại hình thức tiền tệ, chứng khoán, hoặc hàng hóa (trong nhiều trường hợp có thể hiểu theo nhiều nghĩa một lúc). Và việc các hoạt động liên quan tới tiền ảo có được điều chỉnh bởi các quy định về phòng chống rửa tiền hay không sẽ tùy thuộc vào việc các hoạt động đó có chịu sự điều chỉnh của một trong các loại tổ chức tài chính trong Đạo luật bảo mật ngân hàng của Hoa Kỳ hay không<a href="#_ftn143" name="_ftnref143" title=""><sup><sup>[143]</sup></sup></a>. Các tổ chức tài chính này được định nghĩa dựa trên các điều kiện đăng ký đặt ra bởi FinCEN (đối với các dịch vụ kinh doanh tiền tệ)<a href="#_ftn144" name="_ftnref144" title=""><sup><sup>[144]</sup></sup></a>; Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch - SEC (đối với tổ chức phát hành, môi giới, đại lý chứng khoán)<a href="#_ftn145" name="_ftnref145" title=""><sup><sup>[145]</sup></sup></a>; và Ủy ban Giao dịch hàng hóa tương lai - CFTC (đối với môi giới và đại lý hàng hóa và các phát sinh tài chính liên quan)<a href="#_ftn146" name="_ftnref146" title=""><sup><sup>[146]</sup></sup></a>. Những quy định này đã góp phần mở rộng các quy tắc phòng chống rửa tiền tới các giao dịch liên quan tới tiền ảo cũng như những nhà phát hành tiền, ví tiền ảo; tăng hiệu quả phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực thương mại điện tử. Ngoài ra, các bang cũng có thể đặt ra các quy định và điều kiện riêng để tự điều chỉnh các hoạt động tài chính liên quan tới tiền ảo trong phạm vi quản lý của mình.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cơ quan phòng, chống rửa tiền Hoa Kỳ lần đầu ra quyết định xử phạt đối công ty BTC-e có trụ sở ở nước ngoài đã thực hiện giao dịch trị giá 300.000.000 đô-la Mỹ cho khách hàng tại Hoa Kỳ mà không theo các quy định của Hoa Kỳ về MSB, lưu giữ hồ sơ, chống rửa tiền và báo cáo hoạt động đáng ngờ. BTC-e không có thủ tục để xác minh danh tính khách hàng. Thay vì xác định rủi ro do khách hàng trình bày dựa trên khối lượng hoặc số tiền giao dịch, BTC-e chỉ yêu cầu cung cấp một lượng thông tin tối thiểu từ mọi khách hàng. Hơn nữa, BTC-e đã giao dịch từ các dịch vụ trộn Bitcoin của bên thứ ba nên đã bị từ chối, bởi vì các dịch vụ này đã cung cấp cho người dùng Bitcoin một phương tiện để ẩn danh tính của họ bằng cách phân lớp giao dịch.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các tổ chức tội phạm sử dụng công nghệ như công cụ để rửa tiền, cụ thể là tiền bất hợp pháp thường được chuyển hóa qua dạng đồng tiền ảo. Theo đánh giá của quốc tế, hàng năm có đến 200 tỷ đô-la Mỹ có nguồn gốc phạm tội được tội phạm rửa thông qua hình thức tiền kỹ thuật số, tiền đánh bạc trực tuyến và những tổ chức thanh toán nhỏ lẻ, vi mô<a href="#_ftn147" name="_ftnref147" title=""><sup><sup>[147]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Áo</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ở Áo chưa có một văn bản nào quy định về tiền ảo, ngoài các hướng dẫn của EU liên quan đến tiền ảo. Việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tiền ảo được thực hiện theo các quy định tại luật dân sự, các luật trong lĩnh vực ngân hàng và quy định dịch vụ tài chính và thị trường vốn quy chế, theo đó, tiền ảo được coi là tài sản và không phải là tiền pháp định hoặc công cụ thanh toán.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Luật pháp chủ yếu của Áo về phòng ngừa rửa tiền là Luật Chống rửa tiền (FM-GwG), trong đó các nghĩa vụ nêu trong FM-GwG được hướng đến các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính. FM-GwG cung cấp cho các nghĩa vụ khác nhau để được đáp ứng bởi các thực thể có nghĩa là tương ứng. Trong phạm vi thực thể liên quan đến hoạt động kinh doanh với các loại tiền ảo được coi là một thực thể nghĩa vụ theo FM-GwG, nó phải đối tượng giao dịch với trách nhiệm của mình dưới FM-GwG, bao gồm cả sự siêng năng của khách hàng (biết khách hàng của bạn), kiểm tra nguồn vốn và đánh giá rủi ro. Theo mục 4 FM-GwG, các thực thể có nghĩa vụ phải chuẩn bị một đánh giá rủi ro nội bộ về rửa tiền và tài trợ khủng bố. Hơn nữa, FM-GwG cung cấp một số nghĩa vụ thẩm định đối với khách hàng phải được áp dụng, với các biện pháp nâng cao do thẩm định áp dụng trong một số trường hợp. Căn cứ vào mục 5 FM-GwG, thẩm định của khách hàng là cần thiết trong các trường hợp sau đây, bất kể giao dịch hoặc mối quan hệ kinh doanh được thực hiện bằng cách sử dụng tiền ảo hoặc tiền Fiat, theo đó các ngưỡng được thiết lập bởi FM-GwG trong Euro sẽ áp dụng bằng cách sử dụng tỷ giá hối đoái như trong trường hợp giao dịch thiết lập một mối quan hệ kinh doanh; thực hiện tất cả các giao dịch không nằm trong phạm vi của một mối quan hệ kinh doanh (thường xuyên giao dịch) nếu một trong hai:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Số lượng giao dịch vượt quá €15.000;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Giao dịch được xử lý bằng điện tử bởi nhà cung cấp dịch vụ thanh toán và lượng vượt quá €1.000;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Các khoản tiền gửi hoặc giải ngân tiết kiệm tiền gửi nếu số tiền vượt quá €15.000;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Nếu có nghi ngờ rằng một khách hàng là một thành viên của một nhóm khủng bố, hoặc là tham gia vào các giao dịch phục vụ rửa tiền hoặc tài trợ khủng bố;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Trong trường hợp nghi ngờ về tính xác thực hoặc phù hợp của dữ liệu nhận dạng khách hàng đã thu được trước đó.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nếu một trong những trường hợp nêu trên xảy ra, các nghĩa vụ thẩm định theo mục 6 FM-GwG, hoặc các nghĩa vụ đơn giản hoặc tăng lên theo mục 8 hoặc phần 9 FM-GwG, tương ứng, phải được tuân thủ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Các nghĩa vụ nhằm mục đích làm cho khách hàng tước đoạt lợi thế của ẩn danh. Do đó, các nhiệm vụ quan trọng nhất là xác định danh tính tốt nhất có thể của khách hàng và tài sản liên quan của họ, bao gồm các loại tiền ảo. Khách hàng có thể được xác định, ví dụ, bằng cách trình bày một số tài liệu nhận dạng. Các tài liệu khác nhau liên quan đến hoạt động kinh doanh của khách hàng hoặc hoàn cảnh tài chính có thể được sử dụng để chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản. Các biện pháp thẩm định thích hợp cũng sẽ phải được thực hiện trong trường hợp xử lý các giao dịch liên quan đến các loại tiền tệ ảo. Mức độ của các phương pháp thẩm định áp dụng phụ thuộc vào kết quả của việc đánh giá rủi ro nội bộ, mà sẽ cần phải thực hiện các chi tiết cụ thể của các loại tiền tệ ảo, đặc biệt là liên quan đến khả năng truy xuất nguồn gốc và ẩn danh, vào tài khoản.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, FM-GwG còn cung cấp cho một số nghĩa vụ báo cáo nhất định. Cụ thể, theo mục 16 FM-GwG, phải báo cáo với đơn vị tình báo tài chính khi có nghi ngờ rằng một khách hàng đang sử dụng hoặc cố gắng sử dụng các khoản tiền từ một đạo luật tội phạm được liệt kê trong phần 165 StGB, tổ chức khủng bố hoặc tài trợ khủng bố. Đơn vị tình báo tài chính (văn phòng báo cáo rửa tiền) là một cơ quan được thành lập tại văn phòng cảnh sát hình sự liên bang.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về xử lý hình sự, Luật hình sự của Áo cũng giống như Luật dân sự coi tiền ảo là tài sản, do đó các tội phạm được quy định trong Luật hình sự có liên quan đến tài sản cũng được mở rộng sang tiền ảo. Đối với tội phạm rửa tiền, theo Điều 165 Luật hình sự Áo, che giấu hoặc ngụy trang nguồn gốc của tài sản kết quả từ một số hoạt động tội phạm được phân loại như rửa tiền.Việc xử lý tài sản ảo trong các vụ án hình sự cũng gặp những khó khăn trong thực tiễn thi hành. Các cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện lệnh phong toả. Trường hợp nếu một nghi can không hợp tác, không chấp hành hoặc tẩu tán thì có thể bị xử lý hình sự. Hiện nay, Áo đang tiến hành sửa đổi bổ sung Luật trên nhằm đáp ứng các yêu cầu của EU theo hướng mở rộng đối tượng phải áp dụng biện pháp phòng chống rửa tiền.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Nhật Bản</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tiền mã hóa (crypto-currency) là một dạng tài sản mã hóa<a href="#_ftn148" name="_ftnref148" title=""><sup><sup>[148]</sup></sup></a>. Tại đạo luật Dịch vụ thanh toán (Payment Services Act - PSA) sửa đổi năm 2019, thuật ngữ “tiền ảo” (virtual currency) đã được chuyển thành “tài sản mã hóa” (crypto asset). Theo định nghĩa tại Khoản 5 Điều 2, tài sản mã hóa là: (i) giá trị tài sản (giới hạn ở những giá trị được ghi nhận bởi phương tiện điện tử hoặc bất kì phương thức điện tử nào khác, không bao gồm đồng tiền của Nhật Bản, ngoại tệ và tài sản tương đương tiền tệ) có thể được dùng trong mối quan hệ với những người không xác định vì mục đích trả tiền cọc cho việc mua hoặc cho thuê hàng hóa hoặc làm chứng nhận việc cung ứng dịch vụ và cũng có thể được mua bán với những người không xác định với tư cách là đối tác, đồng thời có thể được chuyển giao bằng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử và (ii) giá trị tài sản có thể được trao đổi ngang hàng bởi những giao dịch như điểm (i) đã nêu với những người không xác định với tư cách là đối tác, có thể chuyển giao bởi hệ thống xử lý dữ liệu điện tử.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">PSA cũng đưa ra những nghĩa vụ và chế tài nghiêm khắc đối với bên cung ứng dịch vụ trao đổi tài sản mã hóa (bên cung ứng dịch vụ) bao gồm: (i) nghĩa vụ đăng ký kinh doanh; (ii) nghĩa vụ báo cáo minh bạch hoạt động; (iii) cấm hành vi gây diễn đạt sai hoặc gây hiểu nhầm cho người sử dụng dịch vụ là đối tác hoặc tư vấn giao kết hợp đồng thực hiện hoạt động của loại tài sản mã hóa; (iv) nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ phải quản lý số tiền của người sử dụng độc lập với số tiền của chính bên cung ứng và gửi số tiền đó tới một công ty đáng tin cậy khác theo quy định của Nội các.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thụy Sĩ</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo Điều 305 bis BLHS Thụy Sĩ, bất kỳ người nào thực hiện một hành vi nhằm ngăn cản việc xác định nguồn gốc, truy tìm hoặc tịch thu tài sản mà anh ta biết hoặc phải thừa nhận có nguồn gốc từ một tội nghiêm trọng hoặc tội nặng hơn là được coi là rửa tiền. Theo Điều 260 quinquies Thụy Sĩ luật hình sự, bất kỳ người nào thu thập hoặc cung cấp quỹ nhằm tài trợ cho tội phạm bạo lực đó là nhằm đe dọa cộng đồng hoặc ép buộc một quốc gia hay tổ chức quốc tế vào thực hiện hoặc không thực hiện một hành động là tài trợ khủng bố.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>d.</em><em> Phản ứng lập pháp của quốc gia khác về phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Nhật Bản</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS Nhật Bản ghi nhận thuật ngữ “bản ghi điện từ” (electromagnetic record) làm cơ sở xác định tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Theo đó, “<em>bất kỳ bản ghi nào được tạo ra bằng điện tử, điện từ hoặc bất kỳ phương tiện nào khác không thể nhận dạng được bằng các chức năng cảm nhận tự nhiên và được dùng để xử lý dữ liệu bằng máy tính</em>”<a href="#_ftn149" name="_ftnref149" title="">[149]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Những tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin được quy định trong BLHS dựa trên mô tả liên quan đến “bản ghi điện từ” như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 161-2 </strong>quy định về tội Tạo lập trái phép các bản ghi điện từ: <em>phạt tù có lao động không quá 5 năm hoặc phạt tiền không quá 500.000 JPY với người nào có động cơ thực hiện việc quản lý trái phép các vấn đề của người khác, tạo lập bản ghi điện từ không có sự cấp phép hợp pháp nhằm quản lý trái phép các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ hoặc chứng thực sự thật</em>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Khung hình phạt tương tự cũng được áp dụng với người nào có động cơ tương tự và sử dụng bản ghi điện từ được tạo lập như mô tả trên.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, Điều 161-2 còn tăng <strong>khung hình phạt gấp đôi</strong> đối với người phạm tội là cơ quan nhà nước hoặc công chức nhà nước, cụ thể là phạt tù có lao động không quá 10 năm hoặc phạt tiền không quá 1.000.000 JPY.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, BLHS dành riêng Chương XVIII-II để quy định về các tội phạm về bản ghi điện từ liên quan đến phương thức thanh toán qua thẻ.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 163-2</strong> quy định về tội Tạo lập trái phép bản ghi điện từ của thẻ thanh toán: “<em>phạt tù không quá 10 năm hoặc phạt tiền không quá 1.000.000 JPY đối với người nào có động cơ thực hiện việc quản lý trái phép các vấn đề tài chính của người khác, tạo lập bản ghi điện từ không có sự cấp phép hợp pháp nhằm thực hiện động cơ quản lý trái phép đó và mã hóa vào thẻ tín dụng hoặc các loại thẻ khác của người khác để thanh toán hàng hóa và dịch vụ, để rút tiền; chuyển nhượng, cho thuê hoặc nhập khẩu các loại thẻ đó</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 163-3</strong> quy định về tội Chiếm hữu (Possession) những thẻ thanh toán chứa bản ghi điện từ trái phép: “<em>phạt tù có lao động không quá 05 năm hoặc phạt tiền không quá 500.000 JPY đối với người nào động cơ quản lý trái phép các vấn đề tài chính của người khác, chiếm hữu các loại thẻ thanh toán trái phép như điều 163-2 quy định đã được chuyển nhượng, cho thuê hoặc nhập khẩu</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Điều 163-4</strong> quy định về tội Chuẩn bị cho việc tạo lập trái phép các bản ghi điện từ của thẻ thanh toán: “<em>phạt tù có lao động không quá 03 năm hoặc phạt tiền không quá 500.000 JPY đối với người nào có động cơ quản lý trái phép các vấn đề tài chính của người khác, lấy thông tin, lưu trữ thông tin, chuẩn bị công cụ vật chất (instruments and materials) để tạo lập bản ghi điện từ như mô tả tại Điều 163-2</em>”. Hình phạt tương tự cũng áp dụng với người nào biết đến động cơ phạm tội nhưng vẫn cung cấp thông tin cần thiết cho tội phạm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, <strong>Điều 163-5</strong> còn quy định bất kì hành vi nỗ lực (attempt) phạm tội nào như mô tả tại Điều 163-2 và Điều 163-4 cũng chịu hình phạt tương tự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hành vi sử dụng công nghệ cao để phát tán hoặc công chiếu những nội dung khiêu dâm cũng là tội phạm được BLHS quy định<a href="#_ftn150" name="_ftnref150" title="">[150]</a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">2.2.2. Một số khuyến nghị đối với Việt Nam</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về nghiên cứu bổ sung một số tội danh mới </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ kinh nghiệm của các nước nghiên cứu, có thể nghiên cứu bổ sung một số tội danh mới liên quan đến chương trình máy tính và thông tin cá nhân trong bối cảnh phát triển của khoa học, công nghệ. Ở Singapore, hai tội danh “Sử dụng sai thông tin cá nhân thu được từ tội phạm máy tính” và “Lạm dụng quyền truy cập vào máy tính hoặc bất kỳ vật dụng nào có khả năng để thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sự toàn vẹn của máy tính” đã được bổ sung, và Việt Nam có thể nghiên cứu, xem xét về tính phổ biến và cấp thiết cần xử lý của hai hành vi này để tội phạm hóa và ghi nhận trong BLHS. Theo đó, việc quy định một hành vi phạm tội riêng hay áp dụng trách nhiệm hình sự đối với AI, cá nhân trực tiếp sử dụng AI hiện nay là chưa cần thiết vì nó có thể làm cản trở việc phát triển công nghệ và trên thế giới chưa có quốc gia nào quy định tội phạm liên quan tới AI. Thay vào đó, tương tự như Singapore, cần tập trung hoàn thiện các quy định về tội phạm liên quan tới chương trình máy tính, trong đó có tính bao quát để có thể áp dụng linh hoạt với AI nếu như có thiệt hại xảy ra trên thực tế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Nghiên cứu mở rộng định nghĩa về tài sản</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ kinh nghiệm của các nước, có thể tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc ghi nhận định nghĩa về “tài sản mã hóa” để kịp thời ứng phó với những hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. Bên cạnh đó, ở Singapore, các nhà làm luật cũng đã thay đổi định nghĩa này ngay trong BLHS. Trong khi đó, theo Việt Nam hiện hành, định nghĩa tài sản chỉ được đề cập trong BLDS và định nghĩa này cũng được hiểu tương tự trong pháp luật hình sự. Điều này có ưu điểm là bảo đảm tính thống nhất của cả hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, định nghĩa tài sản này cần được hiểu rộng hơn, do vậy, dù là trong pháp luật hình sự hay dân sự, cần sửa đổi định nghĩa về tài sản để bao gồm cả đối tượng tiền ảo, tiền kỹ thuật số.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) </em><em>Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Singapore cho thấy cần nghiên cứu mở rộng phạm vi thẩm quyền tài phán của BLHS Việt Nam và tăng cường hợp tác quốc tế để kịp phòng ngừa, ứng phó với tội phạm công nghệ cao, tội phạm mạng với tính chất xuyên quốc gia trong bối cảnh hiện nay.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv) </em><em>Tăng cường năng lực các cơ quan thực thi pháp luật</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, song song với hoàn thiện pháp luật hình sự, cũng là một trong số các giải pháp cần thiết. Để có thể phát hiện và xử lý các hành vi phạm tội trong bối cảnh mới, các quốc gia rất chú trọng đầu tư máy móc thiết bị phòng ngừa, phát hiện tội phạm; đồng thời chú trọng đầu tư nâng cao năng lực đội ngũ thực thi pháp luật, nhất là điều tra viên. Cần được trang bị thêm các thiết bị công nghệ cao và có thêm thẩm quyền truy cập vào chương trình máy tính, dữ liệu để tìm kiếm bằng chứng buộc tội trong quá trình điều tra tội phạm, nhất là tội phạm công nghệ cao.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong bối cảnh kết nối Internet toàn cầu, kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc quy định các biện pháp kiểm soát dữ liệu bằng AI do Chính phủ thiết lập đối với các nền tảng mạng xã hội toàn cầu.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Xây dựng thể chế về bảo vệ thông tin cá nhân, xử lý các hành vi xâm phạm</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Kinh nghiệm các quốc gia cho thấy, các nước đều rất quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân, đồng thời, xử phạt nghiêm đối với hành vi xâm phạm thông tin cá nhân, đặc biệt là dữ liệu của người dùng trên các nền tảng mạng xã hội. Các biện pháp chế tài đối với các công ty, tập đoàn vi phạm các quy định về sử dụng thông tin cá nhân sai quy định và chưa được sự đồng ý của khách hàng là rất lớn và nghiêm khắc, đảm bảo sức răn đe. Một giải pháp cần tiếp tục nghiên cứu đó là áp đặt các biện pháp để quản lý các kho lưu trữ và xử lý dữ liệu, đặc biệt của các nền tảng công nghệ mang tính chất toàn cầu như (facebook, google…) đảm bảo chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Kinh nghiệm của Trung Quốc đối với vấn đề này có thể là một gợi ý cho việc đề xuất các giải pháp cho Việt Nam.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">KẾT LUẬN CHƯƠNG HAI</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Những thành tựu công nghệ từ CMCN 4.0, nhất là Internet đã mang lại cho nhân loại vô số lợi ích, đã thực sự thay đổi cuộc sống của con người và trở thành yếu tố không thể thiếu trong công việc của mọi lĩnh vực. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng này cũng tạo ra rất nhiều rủi ro mọi cá nhân ở mọi khu vực trên thế giới. Có thể nói, với kết nối toàn cầu, chưa bao giờ tội phạm có bối cảnh thuận lợi như hiện nay để tiếp cận các nạn nhân. Mối đe dọa cũng không chỉ giới hạn ở các cá nhân, với các chính phủ các nước và các tập đoàn đa quốc gia cũng nằm trong tầm ngắm của tội phạm mạng. Qua nghiên cứu, phân tích thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0, Chương Hai của Đề tài đã làm rõ được những vấn đề sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất,</strong> về mặt chính sách, chiến lược, biện pháp cụ thể phòng chống những tội phạm trước tác động của CMCN 4.0 đã được ban hành tương bao quát các lĩnh vực có khả năng chịu tác động<a href="#_ftn151" name="_ftnref151" title=""><sup><sup>[151]</sup></sup></a>. Tuy nhiên, để đối mặt với tính mới, tính phát triển không ngừng của khoa học công nghệ trong phương thức, hành vi phạm tội thì ở Việt Nam chưa có những chính sách, pháp luật đầy đủ và kịp thời, bao gồm chính sách, pháp luật hình sự và các lĩnh vực liên quan. Những hạn chế này, một mặt tạo ra những rủi ro đối với các hoạt động của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân, mặt khác, gây lúng túng, khó khăn đối với các cơ quan có chức năng trong phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai,</strong> hệ thống pháp luật về phòng chống các tội phạm cụ thể, đặc biệt là tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao đến nay vẫn chưa được hoàn thiện. CMCN 4.0 đã mang lại sự đột phá trong khoa học công nghệ và tác động đến mọi mặt của xã hội, kinh tế, văn hóa toàn thế giới. Chính bởi những chính sách pháp luật chưa thật sự hiệu quả đã dẫn đến hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của xã hội trong xu thế toàn cầu hóa, phát triển công nghiệp chưa hoàn thiện dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba,</strong> BLHS còn thiếu các quy định cụ thể để xử lý những thủ đoạn phạm tội mới phát sinh, trong khi đó việc sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS chưa kịp thời. Mặc dù đã từng bước bổ sung, hoàn thiện nhưng so với thực tiễn đấu tranh phòng chống những loại tội này, cũng như so với các văn bản pháp luật quốc tế; thì rất nhiều hành vi sử dụng công nghệ thông tin thực hiện hành vi phạm tội chưa được quy định trong BLHS mà điển hình là chưa có hành lang pháp lý đầy đủ để xử lý các hành vi vi phạm có đối tượng là tiền ảo, tiền mã hóa.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong><em>,</em> vẫn xuất hiện sự thiếu đồng bộ trong các văn bản pháp luật điều chỉnh, xử lý các nhóm tội phạm; thiếu quy định chính thức về các khái niệm liên quan đến những hành vi phạm tội trên không gian mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm,</strong> trong bối cảnh CMCN 4.0, để giải quyết được những vấn đề liên quan đến bất kỳ một loại tội phạm nào sử dụng công nghệ thông tin, ngoài kiến thức pháp luật, người tiến hành tố tụng phải có kiến thức, hiểu biết nhất định về lĩnh vực công nghệ thông tin. Ngay cả khi hiểu rõ các quy định của pháp luật, nhưng không có kiến thức về khoa học công nghệ thì không thể hiểu được phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Khả năng của người tiến hành tố tụng ở Việt Nam chưa thể đáp ứng với yêu cầu đấu tranh loại tội phạm này. Chính vì lý do hạn chế về trình độ dẫn đến số lượng hành vi có thể được xử lý là vô cùng ít so với thực tế, kinh nghiệm cũng vì thế mà không thể bồi đắp cho các cán bộ khi giải quyết các loại vi phạm này.</span></span></p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p>
</p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CHƯƠNG BA</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM TRONG BỐI CẢNH</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.1. Những yêu cầu về hoàn thiện pháp luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>a. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng dưới tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">CMCN 4.0 có những tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội và chuyển đổi số quốc gia đã và đang trở thành xu thế toàn cầu. Đây là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của các cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên các công nghệ số<a href="#_ftn152" name="_ftnref152" title=""><sup><sup>[152]</sup></sup></a> với ba trụ cột của chuyển đổi số quốc gia là kinh tế số, Chính phủ số và xã hội số. Kinh tế số, Chính phủ số hay xã hội số hoạt động trên công nghệ và nền tảng số. Do đó, việc chuyển đổi số mọi hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đòi hòi nhà nước phải có sự thay đổi trong cách thức vận hành và quản lý để đáp ứng với yêu cầu của bối cảnh mới. Những thành tựu khoa học công nghệ của cuộc CMCN 4.0 và xu thế chuyển đổi số trên toàn cầu đã tạo ra cơ hội, điều kiện thuận lợi để Việt Nam thực hiện phương thức phát triển đi tắt, đón đầu, trong đó, chủ trương chuyển đổi số, trọng tâm là phát triển kinh tế số đã được Đảng và Nhà nước khẳng định là một trong cách thức để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngày 14/4/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 623/QĐ-TTg phê duyệt “<em>Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 - 2025 và định hướng đến 2030</em>”, trong đó đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “Tiếp tục <em>xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật</em>, tập trung nghiên cứu <em>dự báo, luật hóa kịp thời các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới</em> xuất hiện...”<a href="#_ftn153" name="_ftnref153" title=""><sup><sup>[153]</sup></sup></a>. Ngày 04/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg “<em>Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>”, trong đó đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng trước thách thức CMCN 4.0 và trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tiếp đến, ngày 25/7/2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 29/NQ-TW “<em>Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng</em>” và Nghị quyết số 30/NQ-TW “<em>Về Chiến lược An ninh mạng quốc gia</em>” ban hành cùng ngày. Như vậy, đây là hai Nghị quyết quan trọng để Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên một vùng lãnh thổ mới - không gian mạng, cũng như nhằm thực hiện triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, xác lập và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng; tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, sẵn sàng chủ động đối phó hiệu quả cao nhất với mọi tình huống trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong mọi tình huống.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tại Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư “<em>xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số</em>”. Đặc biệt, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là “<em>đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Tuy nhiên, việc chuyển đổi số ở Việt Nam cũng đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức như về kỹ thuật số; nguồn nhân lực số chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; việc quản lý nhà nước, xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách phát triển xã hội số còn tồn tại bất cập, đặc biệt là hệ thống thể chế, pháp luật chưa thực sự thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số. Để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới và tạo hành lang pháp lý phù hợp cho mục tiêu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII năm 2021 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhắc đến cụm từ “<em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>” với khoảng 20 lần - vừa là cơ hội, thách thức, yêu cầu thúc đẩy, đổi mới và là quan điểm phát triển<a href="#_ftn154" name="_ftnref154" title=""><sup><sup>[154]</sup></sup></a>, đặc biệt nhấn mạnh - “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là <em>những thành tựu của cuộc CMCN lần thứ tư</em>, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả...; <em>hoàn thiện hệ thống pháp luật...</em>”<a href="#_ftn155" name="_ftnref155" title=""><sup><sup>[155]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cùng với việc kiến tạo thể chế theo hướng sẵn sàng, chấp nhận cái mới, thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo chuyển đổi số, phát triển số thì việc hoàn thiện pháp luật hình sự với vai trò là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong phòng ngừa đấu tranh và phòng ngừa tội phạm để góp phần kiểm soát, kìm chế tình hình vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế số, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là rất cần thiết. Việc đánh giá đúng đắn và xác định chính xác những hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ góp phần to lớn vào công cuộc giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. Vì thế, nhằm phân hóa cao các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia thì cần xác định được các loại hành vi vi phạm pháp luật mới hoặc những hành vi vi phạm pháp luật có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cần được coi là tội phạm để quy định bổ sung vào BLHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>b. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Cuộc CMCN 4.0 với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo nên một xã hội toàn cầu. Công nghệ thông tin và truyền thông giữ vai trò quan trọng tại các quốc gia trên thế giới trong phát triển tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy vậy, lợi dụng sự phát triển này, các đối tượng xấu cũng sử dụng công nghệ thông tin như một phương tiện để thực hiện các tội phạm một cách tinh vi hơn, quy mô lớn hơn, phạm vi rộng hơn và gây hậu quả nghiêm trọng hơn.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia sử dụng công nghệ ngày càng gia tăng về quy mô, tính chất nguy hiểm. Các băng nhóm tổ chức đánh bạc trên không gian mạng lên đến hàng nghìn tỷ đồng; lĩnh vực trò chơi trực tuyến tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nhiều loại hình trò chơi trực tuyến mô phỏng cờ bạc có dấu hiệu vi phạm; các băng nhóm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng gia tăng với thủ đoạn tinh vi thông qua hoạt động thương mại điện tử, sàn giao dịch tiền ảo, tài sản ảo kinh doanh đa cấp, tuyển cộng tác viên bán hàng, giả mạo ngân hàng, cơ quan pháp luật, làm quen tặng quà sau đó yêu cầu chuyển tiền rồi chiếm đoạt, bán sản phần giả mạo hoặc chiếm đoạt tài khoản cá nhân để lừa đảo…; các đối tượng hoạt động gian lận trong thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến để buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng quy mô lớn; hoạt động tín dụng đen với hàng trăm ứng dụng cho vay trực tuyến; sử dụng, khai thác thông tin cá nhân thực hiện các hành vi lừa đảo …</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Chính vì vậy, việc nghiên cứu để tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội dưới tác động của cuộc CMCN 4.0 trước hết cần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>c. </em><em>Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm</em><em> bảo đảm các quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sự đổi mới nhận thức trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền cơ bản của công dân, đặc biệt, các quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, quyền tự do đi lại, cư trú, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, quyền khiếu nại, tố cáo... Sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền tự do của con người người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong Hiến pháp 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS để các quyền này của người dân được thực thi trên thực tế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự phát triển của các thành tựu của CMCN 4.0, bên cạnh những tác động tích cực thì cũng tạo ra rất nhiều những nguy cơ xâm phạm quyền con người, quyền công dân trên không gian mạng với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng và khó kiểm soát. Việc sử dụng, mua bán, trao đổi dữ liệu thông tin của cá nhân, công dân, tổ chức diễn biến hết sức nghiêm trọng gây ảnh hưởng lớn cuộc sống, quyền riêng tư, thậm chí là trật tự xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>d. Việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm đáp</em><em> ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Theo Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW thì mục tiêu của cải cách tư pháp là để “<em>Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa</em>”. Để thực hiện mục tiêu này, Nghị quyết đã đề ra các nhiệm vụ cải cách tư pháp, trong đó có nhiệm vụ “<em>hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">BLHS năm 2015 đã thể hiện được các quan điểm của Đảng về chính sách hình sự hướng tới xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, cuộc CMCN 4.0 cũng đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống kinh tế xã hội, làm nảy sinh những vấn đề mới trong công tác cải cách tư pháp nói chung và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói riêng. Chính vì vậy, hoạt động cải cách tư pháp cần được tiếp tục đẩy mạnh để thích ứng tốt hơn với điều kiện mới, đòi hỏi hoàn thiện thể chế, pháp luật theo chiều sâu, thích ứng, phù hợp và đáp ứng được những thay đổi của xã hội. Đối với pháp luật hình sự, vấn đề tội phạm hoá một số hành vi nguy hiểm cho xã hội là thực sự cần thiết nhằm bảo đảm cho BLHS phù hợp với điều kiện phát triển mới về mọi mặt của đất nước, bảo vệ quyền con người theo yêu cầu của Hiến pháp mới, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hôi, bảo đảm phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 49/NQ-TW năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược cải cách tư pháp là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự nhằm <em>“Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế</em>”.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, CMCN 4.0 đã có tác động đến và đặt ra nhiều thách thức đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với chức năng bảo vệ vốn có của mình, pháp luật hình sự có nhiệm vụ điều chỉnh và xử lý kịp thời những hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc có khả năng xảy ra, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội dưới tác động của cuộc Cách mạng này, hoặc dự báo được những thay đổi về phương thức, thủ đoạn phạm tội của các loại tội phạm mà chủ thể đã lợi dụng thành tựu của CMCN 4.0 thực hiện tội phạm. Do đó, Nhà nước buộc phải tiến hành sử dụng nhiều cách thức, biện pháp khác nhau thể hiện sự phản xạ tự vệ của mình, trong đó có biện pháp sử dụng pháp luật hình sự. Nhà nước sử dụng biện pháp này thông qua hoạt động lập pháp hình sự mà kết quả là hệ thống văn bản quy phạm được ban hành, trong đó quy định về các tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt. Vì vậy, muốn có cơ sở khoa học và thực tiễn, cần phải nhận diện toàn diện các tác động tích cực và những vấn đề lý luận mới trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới tác động của CMCN 4.0 mà các phần tiếp theo dưới đây sẽ lần lượt xem xét.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội phạm và hình phạt dưới tác động của CMCN 4.0, trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật theo các tiêu chí về hoàn thiện pháp luật, Đề tài đề xuất các nhóm giải pháp về lý luận và các lĩnh vực chủ yếu nhằm định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam dưới tác động của CMCN 4.0 như sau:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.2.1. Đối với một số vấn đề lý luận về luật hình sự trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(i) Về vấn đề trách nhiệm pháp lý đối với AI</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Vấn đề trách nhiệm pháp lý liên quan đến tội phạm mà AI phạm phải có thể là thách thức lớn nhất mà luật hình sự từng phải đối mặt, và có thể không có một giải pháp dễ dàng để đề xuất<a href="#_ftn156" name="_ftnref156" title=""><sup><sup>[156]</sup></sup></a>. Vì vậy, trong các công trình mà chúng tôi nghiên cứu, các nhà khoa học đưa ra các hướng giải quyết khác nhau, gồm cả hướng áp dụng trách nhiệm dân sự và hướng áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, điểm chung trong các công trình nghiên cứu đều là đưa ra những đề xuất khái quát, cơ bản liên quan đến vấn đề cần giải quyết. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề liên quan đến AI và lý luận về tội phạm, chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh CMCN 4.0, về cơ bản lý thuyết về tội phạm không thay đổi. Vấn đề chỉ liên quan đến vận dụng lý thuyết về chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm trong điều kiện phức tạp hơn thông thường.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trước hết, sự xuất hiện của AI ở các cấp độ khác nhau <em>không loại trừ hoàn toàn trách nhiệm hình sự của con người đối với mọi tội phạm do AI thực hiện.</em> Trong nhiều trường hợp, khi con người có hành vi gây nguy hiểm và có lỗi trong việc AI thực hiện tội phạm thì cá nhân đó luôn phải chịu trách nhiệm hình sự. Mức độ cao nhất là trường hợp AI chỉ là công cụ để con người thực hiện tội phạm thì chỉ con người chịu trách nhiệm hình sự, vấn đề trách nhiệm hình sự của AI không đặt ra cho dù AI được phát triển hoàn thiện như thế nào. Đối với những trường hợp này, lý luận về luật hình sự cũng như quy định của luật hình sự hiện hành đã <em>đủ để cho phép xử lý những người thực hiện tội phạm bằng cách sử dụng AI</em>. Ở mức độ thấp hơn, cá nhân hoặc một số cá nhân đã tạo ra nguy cơ gây thiệt hại bằng việc đưa AI vào vận hành khi thiếu những biện pháp cần thiết để ngăn chặn thiệt hại có thể nhìn thấy trước thì những cá nhân này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi có điều luật quy định hành vi của họ là tội phạm. Điều này đòi hỏi pháp luật phải dự liệu tất cả những khả năng liên quan và quy định thành tội phạm cụ thể đối với những hành vi thiếu trách nhiệm dẫn đến hậu quả AI thực hiện tội phạm. Chủ thể của tội phạm trong trường hợp này có thể là người sản xuất, người lập trình, người sử dụng, người giám sát… Đặc biệt, đối với người sản xuất, người lập trình, cần quy định trong luật nghĩa vụ chỉ tạo ra những loại AI phức tạp, siêu AI với cơ chế kiểm soát, chế ngự và thậm chí là huỷ hoại chúng khi cần thiết. Điều này đặt ra nhiệm vụ mới cho các nhà lập pháp hình sự là dự liệu tất cả những hành vi thiếu trách nhiệm của các tác nhân liên quan đến việc AI thực hiện hành vi được quy định là tội phạm và quy định chúng thành nghĩa vụ pháp lý hình sự với chế tài bảo đảm thực hiện phù hợp.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"> Đối với AI, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng <em>chỉ khi nào AI phát triển đến mức có những đặc điểm về nhận thức, cảm xúc, hiểu biết về đạo đức như con người thì AI mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm.</em> Ở thời điểm hiện tại và tương lại gần, AI chưa đáp ứng được những điều kiện này. Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với AI mâu thuẫn với lý luận về tội phạm - là cơ sở để buộc người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự và ngăn chặn những hành vi phạm tội trong tương lai. Với những đặc điểm mà AI hiện đang có, AI không thể là chủ thể của tội phạm và do đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong tương lai xa, khi dự đoán về công nghệ AI trở thành hiện thực qua việc xuất hiện những siêu AI có đầy đủ đặc điểm của con người: khả năng nhận thức, khả năng đưa ra phán quyết về đạo đức và có cảm xúc thì AI đủ điều kiện trở thành chủ thể của tội phạm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Nói tóm lại, tên cơ sở nghiên cứu về CMCN 4.0 mà nổi bật là sự xuất hiện ngày càng phổ biến của AI, chúng tôi nhận thấy chỉ chủ thể nào có đủ khả năng thiết lập mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm. <strong><em>Hiện tại, AI chưa có đủ các phẩm chất về nhận thức, khả năng phán xét về đạo đức và cảm xúc để được coi là chủ thể của tội phạm, do đó AI không phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi được quy định là tội phạm do nó gây ra.</em></strong> Bên cạnh đó, lý luận về tội phạm và hình phạt cần tiếp tục được sử dụng để quy định bổ sung các tội phạm gắn với nghĩa vụ hành động của các tác nhân liên quan nhằm ngăn chặn các nguy cơ gây thiệt hại của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(ii) Nghiên cứu, bổ sung khách thể “an ninh không gian mạng” là một trong những khách thể được BLHS bảo vệ</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Một trong những chủ trương hoàn thiện thể chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi, động lực thúc đẩy phát triển quốc gia số, đó là hoàn thiện luật pháp, chính sách bảo đảm an toàn, an ninh các hoạt động trên không gian mạng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan, bảo vệ bí mật thông tin của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Điều 6 Luật An ninh mạng năm 2018 đã xác định “<em>nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng</em>” thông qua các biện pháp phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng, trong đó có biện pháp phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 18).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc bảo vệ an ninh không gian mạng có thể được thực hiện bởi các hệ thống pháp luật khác nhau, như pháp luật dân sự, pháp luật về an ninh mạng, pháp luật hành chính, nhưng để bảo vệ tốt hơn sự an ninh, an toàn trên môi trường mạng thì cần xác định “an ninh không gian mạng” chính là một trong những khách thể cần được bảo vệ của pháp luật hình sự. Do đó, khách thể “an ninh không gian mạng” cần được nghiên cứu để cụ thể hóa trong luật hình sự và được ghi nhận là một trong những khách thể quan trọng cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iii) Về hình phạt</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Về vấn đề hình phạt, trên cơ sở phân tích lý luận về tội phạm, chúng tôi nhận định về cơ bản lý luận về hình phạt không thay đổi nhiều trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0. Theo đó, tất cả những nội dung về khái niệm, đặc điểm, mục đích, nội dung của hình phạt hiện hành đều có thể được vận dụng để xử lý tội phạm dưới tác động của CMCN 4.0. Suy cho cùng, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự và Toà án áp dụng với mục đích truyền đến người phạm tội và xã hội thông điệp về tính nguy hiểm cho xã hội và tính vô đạo đức của những hành vi được quy định là tội phạm đồng thời ngăn chặn việc thực hiện các hành vi đó.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Như vậy, dù có sự xuất hiện của AI ở các mức độ khác nhau thì hình phạt vẫn giữ nguyên tầm quan trọng với mục đích giáo dục và phòng ngừa đối với các chủ thể của tội phạm. Nếu như ở phần lý luận về tội phạm, các nhà khoa học đã thống nhất được rằng CMCN 4.0 không làm thay đổi tư cách chủ thể tội phạm của con người mà có chăng chỉ làm xuất hiện loại chủ thể tội phạm mới là AI có đầy đủ các đặc điểm về nhận thức, cảm xúc như con người thì rõ ràng việc áp dụng hình phạt với các mục đích như hiện nay vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, trong tương lai khi có khả năng xuất hiện chủ thể của tội phạm là AI, luật hình sự cần bổ sung những hình thức hình phạt mới phù hợp với các đặc điểm mang tính máy móc của AI để thực hiện mục tiêu ngăn chặn tội phạm. Khi đó, hình phạt phải là biện pháp có khả năng chế ngự được hoạt động của AI hoặc thậm chí chấm dứt sự tồn tại của cá thể AI hoặc hệ thống AI khi hoạt động của chúng chứa đựng nguy cơ cao gây thiệt hại cho xã hội mà không thể chấp nhận những nguy cơ đó để đổi lấy những lợi ích mà AI đó đem lại cho xã hội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, đối với nhóm các hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong bối cảnh CMCN 4.0, cần nghiên cứu bổ sung các chế tài mang tính khắc phục hậu quả do các hành vi lợi dụng công nghệ cao để thực hiện hành vi phạm tội như: Cấm vĩnh viễn việc sử dụng trang tin điện tử; buộc gỡ bỏ chương trình, phần mềm; buộc thu hồi hoặc tiêu hủy sản phẩm, thiết bị, ngừng cung cấp dịch vụ gây hại về an ninh mạng; buộc xóa dữ liệu bị chiếm đoạt, mua bán, trao đổi trái phép; buộc xóa bỏ, cải chính thông tin có nội dung vi phạm pháp luật về an ninh mạng; buộc loại bỏ tính năng, thành phần gây hại về an ninh chương trình, sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, phần mềm; thu hồi số thuê bao, đầu số, kho số viễn thông; tài nguyên Internet, tên miền, địa chỉ Internet (IP), số hiệu mạng (ASN); mã số quản lý, số cung cấp dịch vụ; buộc hoàn trả địa chỉ IP, ASN, tên miền, tài khoản số; buộc chuyển đổi mục đích sử dụng sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, phần mềm;…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc nghiên cứu bổ sung các biện pháp này đối với nhóm các tội phạm mới phát sinh trong bối cảnh CMCN 4.0 sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý nghiêm minh, triệt để các hành vi vi phạm, giảm thiểu nguy cơ tái phạm, và có tính phòng ngừa chung đối với những cá nhân, pháp nhân đang có ý định thực hiện. Đồng thời cũng tạo ra sự đồng bộ, thống nhất và tính liên tục theo mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm (giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh đó, cần đề xuất tăng mức hình phạt đối với một số tội danh do tính chất nguy hiểm cho xã hội tăng lên dưới tác động của CMCN 4.0. Việc tăng hình phạt cũng đảm bảo tương thích về mức độ với các chế tài mà các nước đang áp dụng đối với các tội phạm sử dụng công nghệ cao. Nội dung cụ thể về đề xuất tăng mức hình phạt sẽ trình bày trong các nội dung kiến nghị với các nhóm tội cụ thể (mục 3.2.2).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(iv) Hoàn thiện một số vấn đề kỹ thuật trong Bộ luật hình sự</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><em>, </em>nghiên cứu bổ sung thêm thay đổi “địa điểm” phạm tội; sử dụng công cụ/phương tiện là thành tựu của CMCN 4.0 trong các điều khoản của Phần chung Bộ luật Hình sự (nếu có) ví dụ như về hiệu lực của Bộ luật Hình sự, về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự...;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>cần rà soát các tội phạm cụ thể trong BLHS năm 2015 để xem xét về các yếu tố cấu thành tội phạm, điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, dấu hiệu “xuyên quốc gia”… để sửa đổi cho thích ứng với bối cảnh mới với sự tác động của CMCN 4.0 và toàn cầu hóa, cũng như “<em>tính có tổ chức</em>” của tội phạm, đặc biệt là các tội phạm phi truyền thống (như: Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, tội khủng bố, tội đánh bạc, tội rửa tiền, các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông..; nghiên cứu xem xét tham gia Công ước về Tội phạm mạng và quy định riêng về tội phạm mạng của Việt Nam<a href="#_ftn157" name="_ftnref157" title=""><sup><sup>[157]</sup></sup></a>, cũng như đề ra các biện pháp nhằm giới hạn ảnh hưởng của các mạng xã hội nước ngoài đối với an ninh quốc gia. Hiện nay, các mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, Yahoo, Youtube… đa phần là các nước Phương Tây. Tận dụng lợi thế về sở hữu, các nước này đã âm thầm khai tách thông tin tình báo và chi nhiều kinh phí cho các tổ chức hoạt động cổ xúy dân chủ, hình thành dư luận trên mạng xã hội nhằm tác động, gây biến đổi sâu sắc và toàn diện đến mọi ngóc ngách của các lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội… đặc biệt là đối với an ninh các quốc gia trên phạm vi toàn cầu<a href="#_ftn158" name="_ftnref158" title=""><sup><sup>[158]</sup></sup></a>. Kinh nghiệm của Trung Quốc yêu cầu đặt máy chủ tại quốc gia này để có thể kiểm soát thông tin có thể là ví dụ cần nghiên cứu đối với Việt Nam trong thời gian tới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>(v) Nghiên cứu khả năng mở rộng nguồn của luật hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm trong bối cảnh CMCN 4.0</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Qua phân tích ở các chương trước cho thấy, quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong các lĩnh vực chuyên ngành được thực hiện cùng nhịp với việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành thì pháp luật hình sự sẽ luôn vận hành cùng nhịp với tiến trình vận động, phát triển của từng lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Đây cũng là yêu cầu bức thiết đối với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm thượng tôn pháp luật trong giai đoạn hiện nay theo các chủ trương của Đảng, nhất là các chủ trương về cải cách tư pháp. Nói cách khác, việc tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS mà không quy định trực tiếp trong các đạo luật chuyên ngành càng bộc lộ thêm sự bất cập.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, xu hướng các nước quy định tội phạm và hình phạt trong cả các luật chuyên ngành nhằm xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm mới phát sinh. Pháp luật của đa số các quốc gia được nghiên cứu có quy định tội phạm và hình phạt trong BLHS và các luật chuyên ngành. Trong đó, BLHS quy định những vấn đề cơ bản ở phần chung và các tội phạm mang tính chất truyền thống (điển hình như Pháp, Đức, Nhật). Trong số các quốc gia được nghiên cứu thì chỉ có Liên bang Nga vẫn giữ quy định tội phạm và hình phạt phải được quy định trong BLHS. Đối với Trung Quốc, mặc dù các luật chuyên ngành chưa quy định một cách đầy đủ về tội phạm và hình phạt, nhưng BLHS không có quy định rằng tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong Bộ luật hình sự<a href="#_ftn159" name="_ftnref159" title="">[159]</a>. Việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự đã được đặt ra ở Việt Nam từ rất lâu<a href="#_ftn160" name="_ftnref160" title="">[160]</a> nhưng còn những ý kiến cho rằng việc quy định tội phạm và hình phạt trong các luật chuyên ngành sẽ dẫn đến phá vỡ tính ổn định, tính hệ thống và thành quả pháp điển hóa của luật hình sự. Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến cho rằng việc mở rộng nguồn luật hình sự sẽ dẫn đến những khó khăn trong tổ chức thực thi trong bối cảnh trình độ cán bộ tư pháp ở một số nơi còn hạn chế.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với sự xuất hiện và ảnh hưởng sâu rộng của CMCN 4.0, có thể dự báo rằng, xu hướng chuyên môn hóa trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và đời sống xã hội ngày càng rõ nét. Cùng với đó là sự xuất hiện các các mô hình kinh tế mới và cả những lĩnh vực kinh tế mới như công nghệ tài chính (Fintech), kinh tế số, kinh tế nền tảng, kinh tế chia sẻ... Xã hội sẽ phát sinh các hành vi nguy hiểm mới cần điều chỉnh và xử lý bằng chế tài hình sự nhất là đối vói những nhóm hành vi liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia, thông tin, dữ liệu cá nhân, tài chính - ngân hàng, lừa đảo với những phương thức, thủ đoạn mới. Trong bối cảnh đó, nếu quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong các lĩnh vực chuyên ngành được thực hiện cùng nhịp với việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành thì pháp luật hình sự sẽ luôn vận hành cùng nhịp với tiến trình vận động, phát triển của từng lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự bằng cách cho phép các đạo luật chuyên ngành được quy định về tội phạm và hình phạt có liên quan trực tiếp tới lĩnh vực chuyên ngành đó góp phần bảo đảm tính kịp thời trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là đối với các hành vi nguy hiểm phát sinh do tác động tiêu cực của CMCN 4.0. Cách làm này sẽ giúp nhà nước không cần phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung BLHS mà vẫn có cơ sở pháp lý cần thiết để đấu tranh phòng, chống tội phạm phù hợp với diễn biến của tình hình tội phạm và yêu cầu quản lý nhà nước trong bối cảnh, tình hình mới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Việc quy định tội phạm và hình phạt trong các đạo luật chuyên ngành sẽ không thay thế toàn bộ các tội phạm cụ thể thuộc các lĩnh vực chuyên ngành hiện có trong BLHS mà về cơ bản, tội phạm và hình phạt vẫn phải được quy định trong BLHS. Tuy nhiên, đối với một số tội phạm phi truyền thống, có tính chất đặc thù chuyên môn cao phát sinh sau khi BLHS mới có hiệu lực thi hành như: tội phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ cao; tài chính, bảo hiểm, chứng khoán, rửa tiền, môi trường, dịch bệnh... thì nên cho phép quy định trực tiếp trong các luật về lĩnh vực này để bảo đảm tính kịp thời, linh hoạt trong đấu tranh chống tội phạm. Việc cho phép quy định tội phạm và hình phạt trong các đạo luật chuyên ngành <em>(ví dụ như các luật chuyên ngành về kinh tế, thương mại, tài chính, đầu tư, khoa học, công nghệ,</em><em> rửa tiền, bảo vệ môi trường</em><em>...)</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng kết thi hành BLHS 2015 và nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia, cần đề xuất sửa đổi BLHS 2015 theo hướng không quy định tội phạm và hình phạt không chỉ được quy định ở Bộ luật hình sự mà trong các luật chuyên ngành. Về lâu dài, việc mở rộng này có thể tính đến phương án áp dụng trực tiếp các điều ước quốc tế trong phòng chống tội phạm (nhất là tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, mua bán người, xâm phạm sở hữu..) và nguồn án lệ từ hoạt động xét xử của Tòa án.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">3.2.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về các nhóm tội phạm cụ thể trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.1. Nhóm giải pháp đối với tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia </em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><strong>,</strong> cần hoàn thiện và đồng bộ chính sách pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực luật hình sự. Trong những yếu tố cấu thành không gian mạng, chính sách pháp luật là những quy định, quy tắc ứng xử điều chỉnh hành vi và các mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, các quốc gia, các tổ chức quốc tế khi tham gia vào không gian mạng. Cần xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất đảm bảo cho sự hoạt động an toàn và hiệu quả của không gian mạng, mở đường cho công nghệ phát triển. Cụ thể, để có thể xử lí các hành vi tấn công mạng nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân, cần có văn bản giải thích pháp luật về khái niệm cơ sở vật chất - kĩ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần liệt kê đầy đủ “<em>mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin</em>” để phù hợp với thực tiễn phạm tội trên không gian mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, Luật An ninh quốc gia năm 2004 và Luật Biên giới quốc gia năm 2003 đã được ban hành từ lâu, gần 20 năm trước. Do đó, nếu đối chiếu với bối cảnh CMCN 4.0, trong thời đại phát triển của Internet hiện nay đã không còn phù hợp. Do đó, cần sớm sửa đổi nhưng đạo luật này để phù hợp với tình hình thực tiễn, xu hướng của thế giới và các văn bản luật khác.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai, </strong>cùng với hoàn thiện quy định về tội phạm, cũng cần phải hoàn thiện chế tài các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong bối cảnh tội phạm an ninh phi truyền thống trên cơ sở cân nhắc đường lối xử lý loại tội phạm này ở các quốc gia khác. So với các quốc gia khác, chế tài đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định trong BLHS Việt Nam là quá nghiêm khắc; đặc biệt là trong nhiều tội có quy định hình phạt tử hình. Chế tài quy định trong BLHS 2015 đã cản trở, ảnh hưởng nhất định đến quan hệ hợp tác quốc tế, tương trợ tư pháp với các quốc gia trong phát hiện, xử lý các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Do đó, cần nghiên cứu giảm nhẹ chế tài các tội phạm này từ góc độ lập pháp hình sự theo hướng: (i) Huỷ bỏ hoặc ít nhất là hạn chế tối đã hình phạt tử hình trong chế tài đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia; (ii) Hạn chế hình phạt tù chung thân; (iii) Giảm bớt hình phạt tù có thời hạn; (iv) Hoàn thiện chế tài về các hình phạt bổ sung...</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ thông tin cá nhân</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><em>,</em> cần sớm nghiên cứu, ban hành Nghị định quy định về bảo vệ thông tin cá nhân. Việc ban hành Nghị định này đang được kỳ vọng là sẽ củng cố thêm cơ sở pháp lý điều chỉnh toàn diện lĩnh vực bảo vệ thông tin cá nhân cả trên không gian mạng và không gian thực<a href="#_ftn161" name="_ftnref161" title="">[161]</a>. Trên cơ sở thực tiễn thực thi Nghị định này và sự tham khảo kinh nghiệm quốc tế (nhất là của Trung Quốc), cơ quan chức năng có thể nghiên cứu xây dựng Luật Bảo vệ thông tin cá nhân, trên cơ sở kế thừa một số quy định có trong các Luật và Nghị định liên quan, quy định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý, khai thác, chuyển giao thông tin cá nhân, việc chuyển thông tin cá nhân xuyên biên giới, cùng các biện pháp chế tài nghiêm khắc, trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ thông tin cá nhân để xử lý nhiều bất cập trong thực tiễn bảo vệ thông tin cá nhân, góp phần duy trì niềm tin của người dân về an ninh, an toàn thông tin cá nhân khi tham gia vào nền kinh tế số<a href="#_ftn162" name="_ftnref162" title=""><sup><sup>[162]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, đối với hành vi thu thập, sử dụng, khai thác, chuyển nhượng, xử lý thông tin cá nhân trái quy định của pháp luật, như đã phân tích (tại Chương Hai), cần nghiên cứu theo hướng tội phạm hóa các hành vi xâm phạm đến thông tin cá nhân, đó là: (i) hành vi thu thập (đánh cắp, mua bán, tặng cho…), sử dụng, khai thác, chuyển nhượng trái phép thông tin cá nhân và (ii) hành vi để lộ hoặc xử lý thông tin cá nhân trái quy định của pháp luật. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Bên cạnh việc bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm dữ liệu cá nhân trong BLHS năm 2015 thì cũng cần thiết phải bổ sung trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại đối với loại hành vi này vì đây là đối tượng có khả năng vi phạm cao nhất.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong><em>,</em> trên cơ sở các quy định các quy định tại Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử đã có một số quy định bước đầu về việc xử lý hành vi vi phạm trong việc bảo vệ thông tin cá nhân, có thể thiết kế các tội danh tương ứng để xử lý đối với những trường hợp việc thực hiện các hành vi <em>không cập nhật, sửa đổi hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân theo quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên mạng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.</em> Cũng có thể đặt vấn đề hình sự hóa đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ thông tin cá nhân nhưng còn tái phạm nhiều lần.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Ngoài ra, có thể nghiên cứu tội phạm hóa hành vi tái nhận dạng thông tin cá nhân từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh hay hình sự hóa trách nhiệm hình sự đối với chủ thể là pháp nhân như nhà cung cấp Internet của Trung Quốc.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.3. Nhóm giải pháp liên quan đến các hành vi phạm tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><em>, </em>nghiên cứu tội phạm hóa đối với <em>hành vi lập trình và sử dụng trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi phạm tội</em>. Như đã phân tích, với sự phát triển của công nghệ 4.0 là không giới hạn và đã đem lại nhiều thành tựu đột phá. Những thành tựu có ý nghĩa đó đã và đang có nhiều giá trị to lớn vào công cuộc phát triển của nhân loại, nhưng những thành tựu đó cũng tiềm ẩn không ít nguy cơ cao đe dọa đến xã hội và con người. Vì thế, với xu hướng đó thì cần nghiên cứu để quy định là tội phạm đối với hành vi lập trình và sử dụng phần mềm AI để thực hiện hành vi phạm tội.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong><em>, </em>cần nghiên cứu bổ sung<em> dấu hiệu đối tượng tác động</em> của tội phạm là “hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh” vào cấu thành cơ bản tại khoản 1 và cấu thành tăng nặng tại khoản 3 của Điều 286 BLHS năm 2015 về tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử. Như vậy, chỉ cần người phạm tội cố ý phát tán chương trình tin học gây hại cho “hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh” là tội phạm đã hoàn thành, chưa cần phải gây ra hậu quả hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hay có bị kết án trước đó. Trường hợp, phạm tội đối với những đối tượng này mà đã gây ra hậu quả hoặc trước đó đã bị xử phạt hành chính hay bị kết án sẽ bị coi là dấu hiệu tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 3 Điều 286.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong><em>, </em>cần nghiên cứu bổ sung các đối tượng sau vào cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 287 về tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử: (i) hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh; (ii) cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông. Theo đó, người phạm tội chỉ cần có hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động đối với các đối tượng này thì tội phạm đã hoàn thành, không kể hậu quả của tội phạm có xảy ra hay chưa. Trường hợp hậu quả của tội phạm đã xảy ra hoặc người phạm tội trước đó đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xoá án tích, việc xâm phạm tới các đối tượng trên được coi là tình tiết tăng nặng TNHS tại khoản 3.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong><em>,</em> nghiên cứu bổ sung thêm đối tượng là “những thông tin có tác hại lớn cho xã hội” vào cấu thành cơ bản của tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông tại Điều 288. Đồng thời cũng cần giải thích thế nào là những thông tin có hại lớn cho xã hội, theo đó các hành vi phạm tội cho dù chưa gây ra thiệt hại, chưa gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc chưa thu được lợi bất chính, nhưng đối với “những thông tin có tác hại lớn cho xã hội” sẽ bị coi là tội phạm đã hoàn thành.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong><em>,</em> bổ sung quy định để truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại về tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật theo Điều 285 BLHS năm 2015. Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại không phải chịu TNHS về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và phân tích có thể thấy cần bổ sung theo hướng truy cứu TNHS pháp nhân thương mại đối với một số tội phạm trong lĩnh vực này. Việc bổ sung này là cần thiết vì các lý do sau: (i) nếu pháp nhân thương mại thực hiện tội này sẽ gây ra hậu quả rất lớn vì số lượng công cụ, thiết bị, phần mềm được sản xuất, mua bán sẽ rất lớn; (ii) động cơ phạm tội của tội này thường là động cơ vụ lợi, trong khi đó pháp nhân thương mại là tổ chức hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận nên có thể thực hiện tội phạm này; (iii) hiện một số văn bản quốc tế như Công ước Budapest 2001 tuy không quy định bắt buộc nhưng cũng đề cập đến việc xử lý trách nhiệm của pháp nhân đối với tội này, kể cả biện pháp xử lý hình sự<a href="#_ftn163" name="_ftnref163" title=""><sup><sup>[163]</sup></sup></a>.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.4. Nhóm giải pháp liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><em>, </em>đối với các hành vi liên quan đến hoạt động kinh doanh tiền ảo, tiền kỹ thuật số, tài sản ảo<em>,</em> để kiểm soát, quản lý hoạt động kinh doanh, giao dịch, khai thác tiền ảo, tiền mã hóa, tài sản ảo thì cần nghiên cứu, rà soát quy định của hệ thống pháp luật để xây dựng, hình thành nên hành lang pháp lý trong việc quản lý đối tượng này, đồng thời nghiên cứu tội phạm hóa các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tiền ảo, tiền kỹ thuật số, tài sản ảo. Theo đó, có thể nghiên cứu quy định là tội phạm đối với hành vi phát hành, tàng trữ, cung ứng, sử dụng tiền ảo, tiền mã hóa như phương tiện thanh toán. </span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung, sửa đổi Điều 105 BLDS hiện hành theo hướng quy định tiền, tài sản bao gồm cả tiền ảo, tài sản ảo, nghĩa là công nhận các giao dịch tiền ảo, tài sản ảo có tồn tại. Tuy nhiên, vẫn giữ nguyên quy định về thanh toán bằng tiền mặt và các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam để có thêm thời gian nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại tiền ảo, tài sản ảo đối với nền kinh tế, nếu quy định làm phương tiện thanh toán. Trên cơ sở có văn bản thừa nhận chính thức tiền ảo là tài sản mới có thể có cơ sở pháp lý để xây dựng các khung pháp lý, trong đó có hệ thống pháp luật hình sự, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc rửa tiền qua tiền ảo nói chung và trong BLHS nói riêng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong><em>, </em>cần nghiên cứu, chỉnh sửa điều khoản quy định về TNHS của pháp nhân để đảm bảo không chỉ pháp nhân thương mại, mà pháp nhân nói chung, bao gồm cả các tổ chức phi lợi nhuận, phải chịu TNHS về tội rửa tiền.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong><em>, </em>việc thu hồi, tịch thu tài sản trong các vụ án rửa tiền là rất khó khăn do tính phức tạp và đa dạng của hành vi phạm tội. Việt Nam cần xem xét khả năng cung cấp cho việc đảo ngược gánh nặng bằng chứng trong các thủ tục tố tụng liên quan đến việc tịch thu tài sản bị cáo buộc liên quan đến một số tội phạm, bao gồm rửa tiền, chẳng hạn như mô hình tịch thu của Hoa Kỳ áp dụng cho tội phạm rửa tiền. Theo thỏa thuận như vậy, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu người phạm tội chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số tiền bị cáo buộc phạm tội hoặc tài sản khác phải tịch thu. Bằng cách này, các tiêu chuẩn bằng chứng về một liên kết giữa các tài sản bị cáo buộc bị tịch thu và tội phạm mà chủ sở hữu đã bị kết án có thể được giảm bớt. Đồng thời, cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết các quy định về chứng cứ điện tử là tiền ảo trong các quy định của BLTTHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><em>3.2.2.5. Nhóm giải pháp liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu và trật tự công cộng</em></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh, xử lý tội phạm xâm hại quyền sở hữu và trật tự công cộng trong bối cảnh CMCN 4.0, Đề tài kiến nghị một số giải pháp sau đây:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất</strong><em>,</em> cần nghiên cứu theo hướng nâng mức khởi điểm của tội sử dụng mạng máy tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản lên tương đương hoặc hơn với mực hình phạt cho các tội phạm sở hữu ở Chương XVI của BLHS.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong><em>, </em>tương tự như một số đề xuất trên, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu để ghi nhận chủ thể là pháp nhân có thể thực hiện các hành vi sử dụng máy tính, công nghệ thông tin và mạng viễn thông thực hiện các hành vi phạm tội để có sự tương thích với quy định của Công ước quốc tế và các quốc gia khác trên thế giới.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba</strong><em>, </em>đề nghị cơ quan lập pháp xem xét cân nhắc đưa tình tiết sử dụng mạng viễn thông để phạm tội như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho tất cả các tội danh; chứ không nên chỉ quy định vào một số tội danh, đảm bảo được tính hiệu quả của quy định pháp luật lâu dài. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất bổ sung vào BLTTHS các quy định có liên quan đến chứng cứ điện tử, các thủ tục tố tụng hình sự về việc thu thập, bảo quản, phục hồi và giám định chứng cứ điện tử phù hợp với đặc điểm, tính chất của tội phạm mạng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư</strong><em>, </em>Đề tài đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Luật hình sự về tội phạm liên quan công nghệ thông tin xâm phạm sở hữu và trật tự công cộng bao gồm:</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Nâng cao nhận thức của cán bộ các cơ quan tiến hành tố tụng về pháp luật hình sự nói chung và các các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng;</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tăng cường bồi dưỡng kiến thức tội phạm học, các kiến thức chuyên sâu công nghệ thông tin cho người tiến hành tố tụng. Để hiểu được các thủ thuật phạm tội của các đối tượng, trước tiên phải hiểu rõ chúng đã ứng dụng những gì vào hành vi của mình. Không những vậy, các kiến thức về công nghệ thông tin không phải chỉ đơn giản phục vụ nghiệp vụ đánh giá, điều tra, truy vết tội phạm mà còn giúp xác định phương thức để bảo tồn, lưu trữ chứng cứ điện tử phục vụ xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Thường xuyên phổ biến kinh nghiệm đấu tranh các loại tội phạm sử dụng công nghệ để thực hiện hành vi phạm tội. Do thiếu kinh nghiệm phòng, chống các loại tội phạm này kèm theo tâm lý e dè do thiếu kiến thức chuyên ngành nên khi xảy ra vụ án thực tế còn khá lúng túng.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tội phạm sử dụng công nghệ để thực hiện hành vi phạm tội của mình trong không gian mạng nên không thể phát hiện bằng những công cụ truyền thống như trước đây. Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng hay đánh bạc, mua bán ma túy qua mạng ngày càng trở nên tinh vi và khó phát hiện, điều tra viên và kiểm sát viên phải được trang bị những phương tiện thiết bị hiện đại nhất, chuyên dụng phục vụ điều tra, truy tố.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">- Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tố tụng với các tổ chức tín dụng, công ty cung cấp dịch vụ mạng bằng các quy chế phối hợp, hoặc các cơ chế làm việc nâng cao hiệu quả trong quá trình điều tra. Kịp thời phong tỏa tài khoản liên quan đến hành vi xâm hại quyền sở hữu, hay truy tìm thông tin người phạm tội từ các thông tin cá nhân từ tài khoản thực hiện hành vi.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm</strong><em>, </em>cần nâng cao hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên biên giới đặc biệt trong hoạt động đánh bạc, mua bán ma tuý… Việt Nam cần tiếp tục ký kết các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự, triển khai các hoạt động tương trợ tư pháp phù hợp với các cam kết quốc tế mà mình đã ký kết, nghiên cứu để có thể tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương liên quan tới phòng, chống tội phạm này. Thông qua việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế để hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm. Hiện nay trên thế giới chỉ có Công ước Budapest năm 2001 quy định về tội phạm không gian mạng, và được rất nhiều nước tham gia. Qua nghiên cứu nhận thấy các quy định của BLHS Việt Nam cũng khá tương thích với nội dung của công ước này. Vì vậy, việc gia nhập Công ước này có thể giúp hệ thống pháp luật phòng chống tội phạm mạng sẽ tương thích với các quốc gia khác trên thế giới, tạo thuận lợi phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Ngoài các Công ước quốc tế, các quốc gia có thể ký kết thực hiện các hiệp định tương trợ tư pháp, hoặc tổ chức các cuộc hội thảo hội nghị để học tập kinh nghiệm trong công cuộc phòng chống tội phạm trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p align="center">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>KẾT LUẬN CỦA ĐỀ TÀI</strong></span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ nhất, </strong>Đề tài đã nghiên cứu, nhận diện được các vấn đề lý luận pháp luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0, bao gồm: sự thay đổi trong nhận thức về trách nhiệm hình sự dưới tác động của trí tuệ nhân tạo; sự thay đổi của các yếu tố cấu thành tội phạm và hệ thống hình phạt trong tương lai; các vấn đề phát sinh về bảo đảm quyền con người và một số vấn đề đặt ra về nguồn của luật hình sự trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ hai</strong>, Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm cụ thể trong những lĩnh vực khác nhau, tập trung vào các nhóm tội trực tiếp chịu tác động của CMCN 4.0; kết hợp dẫn chứng các số liệu của Bộ Công an về tình hình xử lý các tội phạm; số liệu tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này của Tòa án đối với một số nhóm tội phạm. Qua đó cũng thấy được rằng, nội dung quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau đang từng bước được hoàn thiện phù hợp với xu thế chung của các văn bản pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hơn nữa trong thời gian tới. Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trên các nguyên nhân cơ bản như: các quy định của BLHS về tội phạm trong lĩnh vực khác nhau còn có tồn tại, bất cập; công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS của cơ quan có thẩm quyền còn thiếu, chậm trễ; công tác tổ chức thực hiện quy định của Luật hình sự về tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau còn nhiều bất cập, vướng mắc…</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ ba, </strong>để có cơ sở đưa ra những đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự, Đề tài đã nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của một số quốc gia (là những nước có phản ứng pháp lý nhanh đối với những tác động của CMCN 4.0). Theo đó, nhiều kinh nghiệm khá hữu ích có thể đóng góp làm bài học tham khảo cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật thích ứng với thay đổi của các công nghệ ứng dụng từ CMCN. Trong đó, tập trung đối với việc nghiên cứu và rút ra những kinh nghiệm về cách tiếp cận tổng thể, kịp thời với những phản ứng của các quốc gia đối với mặt tác động tiêu cực của CMCN (như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản). Nhiều kiến nghị của Đề tài được tổng hợp từ kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của các quốc gia như: về mở rộng khái niệm tài sản, tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội mới, về bảo vệ thông tin, dữ liệu cá nhân, hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ tư,</strong> trong bối cảnh CMCN 4.0, để giải quyết được những vấn đề liên quan đến bất kỳ một loại tội phạm nào sử dụng công nghệ, ngoài kiến thức pháp luật, người tiến hành tố tụng phải có kiến thức, hiểu biết nhất định về lĩnh vực công nghệ thông tin. Ngay cả khi hiểu rõ các quy định của pháp luật, nhưng không có kiến thức về khoa học công nghệ thì không thể hiểu được phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Khả năng của hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam cần phải được tăng cường để có thể đáp ứng với yêu cầu đấu tranh loại tội phạm này. Chính vì lý do hạn chế về trình độ dẫn đến số lượng hành vi có thể được xử lý là vô cùng ít so với thực tế, kinh nghiệm cũng vì thế mà không thể bồi đắp cho các cán bộ khi giải quyết các loại vi phạm này.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Thứ năm, </strong>trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận, quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm trong các lĩnh vực khác nhau; Đề tài đã đề xuất, kiến nghị một số giải pháp về lý luận pháp luật hình sự cũng như giải pháp về hoàn thiện pháp luật hình sự đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong bối cảnh CMCN 4.0.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Với những kết quả đạt được nêu trên, Đề tài mong muốn sẽ góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0, đồng thời đóng góp cho sự thành công của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm tại Việt Nam trong giai đoạn tới./.</span></span></p>
<div>
<p>
</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref1" name="_ftn1" title="">[1]</a> Miller S (2017), <em>Artificial intelligence and its impact on legal technology: to boldly go where no legal department has gone before Thompson Reuters</em>; accessed to https://legal.thomsonreuters.com/en/insights/articles/ai-and-its-impact-on-legal-technology on 17/8/2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn2">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref2" name="_ftn2" title="">[2]</a> Bộ Công an (2019), Chuyên đề “Thực trạng đấu tranh với tội phạm mạng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, Kỷ yếu hội thảo Quốc gia “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam”, 24/6/2019, tr. 257.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn3">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref3" name="_ftn3" title="">[3]</a> Trong khuôn khổ hỗ trợ của Đại Sứ quán Úc thông qua Aus4Skills dành cho Chương trình Thạc sĩ Pháp luật về Quyền con người Trí tuệ nhân tạo với pháp luật và quyền con người.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn4">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref4" name="_ftn4" title=""><sup><sup>[4]</sup></sup></a> Xem cụ thể hơn: Klaus Schwab (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 15.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn5">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref5" name="_ftn5" title=""><sup><sup>[5]</sup></sup></a> Xem: Phan Xuân Dũng (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - Cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm</em>, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 57.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn6">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref6" name="_ftn6" title=""><sup><sup>[6]</sup></sup></a> Xem: Klaus Schwab (2018), <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, tlđd., tr. 201-279.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn7">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref7" name="_ftn7" title="">[7]</a> Ngày 04/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về việc “tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4”. Chỉ thị này nêu rõ: “để chủ động nắm bắt cơ hội, đưa ra các giải pháp thiết thực tận dụng tối đa các lợi thế, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của cuộc CMCN 4.0 đối với Việt Nam. Việc thực hiện những mục tiêu nêu trên đòi hỏi một hệ thống pháp luật phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và ứng dụng các thành tựu của CMCN 4.0, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người, tăng cường hiệu quả của nhà nước pháp quyền. Việt Nam đang ở thời điểm chín muồi để có những phản ứng chính sách phù hợp với tác động của cuộc CMCN 4.0.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn8">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref8" name="_ftn8" title="">[8]</a> “Có mấy loại trí tuệ nhân tạo? Ứng dụng của nó là gì?”, xem tại: <a href="https://codepou.com/blog/tri-tue-nhan-tao/co-may-loai-tri-tue-nhan-tao-ung-dung">https://codepou.com/blog/tri-tue-nhan-tao/co-may-loai-tri-tue-nhan-tao-ung-dung</a> tra cứu ngày 19/12/2021;</span></span></p>
</div>
<div id="ftn9">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref9" name="_ftn9" title="">[9]</a> Trong giáo dục, sự ra đời của AI giúp tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực giáo dục. Các hoạt động giáo dục như chấm điểm hay dạy kèm học sinh có thể được tự động hóa nhờ công nghệ AI. Nhiều trò chơi, phần mềm giáo dục ra đời đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng học sinh, giúp học sinh cải thiện tình hình học tập theo tốc độ riêng của mình. AI cũng có thể chỉ ra những vấn đề mà các khóa học cần phải cải thiện. Công nghệ AI còn có khả năng theo dõi sự tiến bộ của học sinh và thông báo đến giáo viên khi phát hiện ra vấn đề đối với kết quả học tập của học sinh. Hơn nữa, sinh viên còn có thể học hỏi từ bất cứ nơi nào trên thế giới thông qua việc sử dụng những phần mềm có hỗ trợ AI. Công nghệ AI cung cấp dữ liệu nhằm giúp sinh viên lựa chọn được những khóa học tốt nhất cho mình. Trong truyền thông, sự phát triển của AI góp phần làm thay đổi cách thức tiếp cận đối với khách hàng mục tiêu. Nhờ những ưu điểm của công nghệ AI, các công ty có thể cung cấp quảng cáo vào đúng thời điểm, đúng khách hàng tiềm năng, dựa trên việc phân tích các đặc điểm về nhân khẩu học, thói quen hoạt động trực tuyến và những nội dung mà khách hàng thường xem trên quảng cáo. Trong ngành dịch vụ, công nghệ AI giúp ngành dịch vụ hoạt động tối ưu hơn, góp phần mang đến những trải nghiệm mới mẻ hơn và tốt hơn cho khách hàng.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn10">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref10" name="_ftn10" title=""><strong>[10]</strong></a> Thạch Thị Mỷ Quyên (2021), “Trí tuệ nhân tạo AI là gì? Ứng dụng như thế nào trong cuộc sống?”, xem tại: https://www.dienmayxanh.com/kinh-nghiem-hay/tri-tue-nhan-tao-ai-la-gi-ung-dung-nhu-the-nao-tro-1117277 truy cập ngày 27/8/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn11">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref11" name="_ftn11" title="">[11]</a> Pierre-Adrien Hanania và Melina Maier (2021), “AI for Justice - bringing data into the courtroom”, https://www.capgemini.com/2021/06/ai-for-justice-bringing-data-into-the-courtroom/, truy cập ngày 28/11/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn12">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref12" name="_ftn12" title="">[12]</a> Matilda Claussén-Karlsson (2017), Artificial Intelligence and the External Element of the Crime, An Analysis of the Liability Problem, Spring 2017, tr. 7-8.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn13">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref13" name="_ftn13" title="">[13]</a> Pierre-Adrien Hanania and Melina Maier (2021), “AI for Justice - Bringing data into the courtroom”, https://www.capgemini.com/2021/06/ai-for-justice-bringing-data-into-the-courtroom/, truy cập ngày 28/11/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn14">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref14" name="_ftn14" title="">[14]</a><strong> Quyền tự chủ của AI</strong>: Tính năng này cho thấy con người chỉ tham gia một cách hạn chế hoặc trong tương lai, có thể hoàn toàn không tham gia vào khả năng quyết định của AI. Quyền tự chủ của AI thay đổi phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của AI. Về cơ bản, cho đến nay các AI được con người tạo ra vẫn nằm trong khả năng kiểm soát của con người. Vì vậy, quyền tự chủ chưa thuộc về AI mà vẫn thuộc về con người. Tuy nhiên, khi AI càng siêu việt thì quyền tự chủ càng được chuyển từ con người sang cho AI. Theo dự đoán của nhiều nhà khoa học, có thể đến một lúc con người mất quyền tự chủ đối với hoạt động của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Tính không thể đoán trước:</strong> Hành vi của AI là không thể đoán trước đối với con người, đặc biệt là khi hành vi đó không phải là kết quả của sự chỉ dẫn từ lập trình viên mà là một chiến lược tự học. Tính không thể đoán trước trong hoạt động của AI cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ hoàn thiện của AI.</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><strong>Không thể chịu trách nhiệm:</strong> Chừng nào AI còn thiếu tư cách pháp lý, chúng có thể hành xử theo cách gây thiệt hại cho xã hội mà không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Cho đến thời điểm này, Việt Nam cũng như các nước trên thế giới chưa thừa nhận tư cách pháp lý của AI. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc AI không phải chịu trách nhiệm về những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chúng thực hiện.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn15">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref15" name="_ftn15" title="">[15]</a> Matilda Claussén-Karlsson (2017), <em>Artificial Intelligence and the External Element of the Crime</em><em>, </em><em>An Analysis of the Liability Problem</em><em>,</em> Spring 2017, tr. 8.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn16">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref16" name="_ftn16" title=""><strong>[16]</strong></a> Christiane Wendehorst (2020), “Strict Liability for AI and other Emerging Technologies”, <a href="https://www.degruyter.com/journal/key/JETL/html">Journal of European Tort Law</a>, xem tại: <a href="https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html">https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html</a> truy cập ngày 28/11/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn17">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref17" name="_ftn17" title="">[17]</a> Exploring the Legal Rights & Obligations of Robots, A Legal Book Review of <em>I, Robot </em>by Isaac Asimov, Floris Houvast (Private Law), Ruben Timmerman (Public International Law), Ylonka Zwaan (Criminal Law), Law & Literature Project LLM Honours Programme Utrecht University, 2 April 2018, p.27.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn18">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref18" name="_ftn18" title=""><strong>[18]</strong></a> Christiane Wendehorst (2020), “Strict Liability for AI and other Emerging Technologies”, <a href="https://www.degruyter.com/journal/key/JETL/html">Journal of European Tort Law</a>, tr. 22, xem tại: <a href="https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html">https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html</a> truy cập ngày 28/11/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn19">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref19" name="_ftn19" title="">[19]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn20">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref20" name="_ftn20" title="">[20]</a> Christiane Wendehorst (2020), “Strict Liability for AI and other Emerging Technologies”, s<a href="https://www.degruyter.com/journal/key/JETL/html">Journal of European Tort Law</a>, tr. 17-19, xem tại: <a href="https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html">https://www.degruyter.com/document/doi/10.1515/jetl-2020-0140/html</a> truy cập ngày 28/11/2021.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn21">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref21" name="_ftn21" title="">[21]</a> Exploring the Legal Rights & Obligations of Robots, A Legal Book Review of <em>I, Robot </em>by Isaac Asimov, Floris Houvast (Private Law), Ruben Timmerman (Public International Law), Ylonka Zwaan (Criminal Law), Law & Literature Project LLM Honours Programme Utrecht University, 2 April 2018, p.5-6.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn22">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref22" name="_ftn22" title="">[22]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3, tr. 22-23.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn23">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref23" name="_ftn23" title="">[23]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3, tr. 23.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn24">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref24" name="_ftn24" title="">[24]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3, tr. 29.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn25">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref25" name="_ftn25" title="">[25]</a> Iria Giuffrida, William & Mary Law School (2019), <em>Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations</em>, Fordham Law Review, Volume 88 Issue 2 Article 3, tr. 33.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn26">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref26" name="_ftn26" title="">[26]</a> Isaac Asimov, Floris Houvast (Private Law), Ruben Timmerman (Public International Law), Ylonka Zwaan (Criminal Law) (2018), <em>Exploring the Legal Rights & Obligations of Robots</em>, A Legal Book Review of I<em>, </em>Robot, Law & Literature Project LLM Honours Programme Utrecht University, 2 April 2018, tr. 6.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn27">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref27" name="_ftn27" title="">[27]</a> PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (CB) (2020), <em>Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 210.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn28">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref28" name="_ftn28" title="">[28]</a> PGS.TS. Trịnh Tiến Việt (CB) (2020), <em>Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0</em>, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 252-253.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn29">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref29" name="_ftn29" title="">[29]</a> Trịnh Tiến Việt (2019), <em>Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống</em>, NXB. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.32.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn30">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref30" name="_ftn30" title="">[30]</a> Bộ Quốc phòng (2004), <em>Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam</em>, NXB. Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr.25.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn31">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref31" name="_ftn31" title="">[31]</a> Điều 3 Luật An ninh quốc gia năm 2004.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn32">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref32" name="_ftn32" title="">[32]</a> Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), <em>Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) - Quyển 1</em>, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn33">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref33" name="_ftn33" title="">[33]</a> PGS.TS. Đặng Khắc Ánh (2021), “Quản lý nhà nước trước thách thức an ninh phi truyền thống”, xem tại: https://www.quanlynhanuoc.vn/2021/04/06/quan-ly-nha-nuoc-truoc-thach-thuc-an-ninh-phi-truyen-thong/, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn34">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref34" name="_ftn34" title="">[34]</a> Hiền Hòa, Phạm Cường (2021), “Những nhận thức mới, tư duy mới về an ninh quốc gia”, xem tại: https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/nhung-nhan-thuc-moi-tu-duy-moi-ve-an-ninh-quoc-gia-577421.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn35">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref35" name="_ftn35" title=""><sup><sup>[35]</sup></sup></a> <sup>“</sup>Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian” (khoản 2 Điều 3 Luật An ninh mạng năm 2018).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn36">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref36" name="_ftn36" title=""><sup><sup>[36]</sup></sup></a><sup> “</sup>Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian” (khoản 2 Điều 3 Luật An ninh mạng năm 2018).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn37">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref37" name="_ftn37" title="">[37]</a> Ví dụ: BLHS Cộng hòa Liên bang Đức quy định cả nơi thực hiện tội phạm trong trường hợp có đồng phạm (Điều 9), xem thêm: Trường Đại học Luật Hà Nội (dịch), <em>Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức</em>, NXB. Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 16.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn38">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref38" name="_ftn38" title="">[38]</a> Xem tại: https//www.finlex.fi/en/laki/kaannokset/1889/en18890039.pdf, truy cập ngày 25/5/2021, trong đó, BLHS Phần Lan có quy định nơi thực hiện tội phạm trong trường hợp đồng phạm và phạm tội chưa đạt (điểm 2, 3 mục 10 BLHS Phần Lan).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn39">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref39" name="_ftn39" title="">[39]</a> Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), <em>Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), </em>NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 56.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn40">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref40" name="_ftn40" title="">[40]</a> Xem tại: https://www.csis.org/programs/strategic-technologies-program/significant-cyber-incidents, theo đó: Vào tháng 8 năm 2022, tin tặc đã sử dụng một cuộc tấn công DDoS để tạm thời đánh sập trang web của văn phòng tổng thống Đài Loan. Bộ Ngoại giao Đài Loan cũng lưu ý rằng các tin tặc đã nhắm mục tiêu vào trang web của họ và trang web cổng thông tin chính của chính phủ Đài Loan. Cũng thời gian này, tin tặc đã nhắm mục tiêu Quốc hội Phần Lan bằng một cuộc tấn công DDoS khiến trang web của Nghị viện không thể truy cập được. Một nhóm người Nga đã lên tiếng nhận trách nhiệm về vụ tấn công Telegram. Tin tặc cũng đã nhắm mục tiêu trang web của cơ quan năng lượng nhà nước Ukraine chịu trách nhiệm giám sát các nhà máy điện hạt nhân của Ukraine. Trang web của Quốc hội Latvia cũng chịu một cuộc tấn công DDoS làm tê liệt tạm thời máy chủ của trang web. Một nhóm hack của Nga đã lên tiếng nhận trách nhiệm về vụ tấn công Telegram. Nhà phân phối khí đốt tự nhiên lớn nhất Hy Lạp DESFA bị tấn công gây ra sự cố hệ thống và lộ dữ liệu. Một nhóm người Nga cũng đã nhận trách nhiệm vi phạm một công ty cấp nước tư nhân của Vương quốc Anh là South Staffordshire Water và làm rò rỉ các tập tin trong một nỗ lực tống tiền...</span></span></p>
</div>
<div id="ftn41">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref41" name="_ftn41" title="">[41]</a> Ngoài nhận thức mới, những vấn đề đặt ra trong pháp luật hình sự cũng kéo theo sự thay đổi của nhiều vấn đề khác như: Thủ tục tố tụng và thủ tục thi hành án hình sự, hệ thống cơ sở vật chất ra sao, hệ thống AI dự báo sai lầm nghiêm trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm… Xét riêng trong pháp luật hình sự, việc có thể dự báo hành vi phạm tội và nhận dạng người phạm tội trong tương lai, nhưng mặt trái cũng song hành với nó, như việc thay đổi dự liệu, nhận diện sai - nhận dạng từ người cảnh sát, công dân bình thường thành người phạm tội, dẫn đến việc bắt, giữ, xử lý nhầm, thậm chí có hoạt động ngăn chặn, xử lý chậm dẫn đến chết người...</span></span></p>
</div>
<div id="ftn42">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref42" name="_ftn42" title="">[42]</a> Trịnh Tiến Việt (2021), “Hình phạt áp dụng đối với thực thể trí tuệ nhân tạo (AI): Từ khoa học viễn tưởng đến viễn cảnh tương lai của Bộ luật Hình sự Việt Nam “năm nào đó””, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2021, tr. 19.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn43">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref43" name="_ftn43" title="">[43]</a> Jaap Hage and Bram Akkermans (2014) (eds.), <em>Introduction to Law </em>(New York: Springer, 2014), tr. 23-36.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn44">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref44" name="_ftn44" title="">[44]</a> Jaap Hage and Bram Akkermans (2014) (eds.), <em>Introduction to Law </em>(New York: Springer, 2014), tr. 23-36.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn45">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref45" name="_ftn45" title="">[45]</a> Tuy nhiên, đối với lĩnh vực pháp luật hình sự, nguồn của pháp luật hình sự đôi khi còn được giới hạn hơn nữa. Chẳng hạn, ở Pháp, theo Điều 34 Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 thì chỉ có luật của Quốc hội hoặc văn bản có giá trị tương đương mới được quy định về tội phạm và hình phạt (xem: Kevin Jon Heller and Markus D. Dubber, <em>The </em><em>H</em><em>andbook of Comparative Criminal La</em>w (Stanford: Stanford University Press, 2011) at 213). Điều này hàm ý rằng, không phải mọi văn bản quy phạm pháp luật đều đương nhiên được xem là nguồn của pháp luật hình sự ở Pháp.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn46">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref46" name="_ftn46" title="">[46]</a> Nguyễn Anh Tuấn (2017), “Bàn về khái niệm nguồn của Luật hình sự Việt Nam<strong>”, </strong><em>Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam</em>, Số 07/2017, tr. 74-80.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn47">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref47" name="_ftn47" title="">[47]</a> Có thể kể đến những nghiên cứu như: Đào Trí Úc (2000), <em>Luật hình sự Việt Nam, Quyển </em><em>1- </em><em>Những vấn đề chung</em>, Nxb. Khoa học xã hội; Lê Văn Cảm (2005), <em>Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)</em>, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2011), “Nguồn của luật hình sự - Những yêu cầu được đặt ra cho pháp luật Việt Nam”, <em>Tạp chí Luật học</em>, Số 01/2011; Nguyễn Anh Tuấn, <em>Nguồn của luật hình sự Việt Nam</em>, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn48">
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref48" name="_ftn48" title=""><sup><sup>[48]</sup></sup></a> Xem: Đào Trí Úc (2000<strong>), </strong>Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, NXB. Khoa học xã hội, tr. 293 và các trang tiếp theo; cũng xem: Lê Văn Cảm (2005), <em>Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)</em>, NXB. ĐHQG Hà Nội, tr. 154 và các trang tiếp theo.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn49">
<p style="margin-left: 1pt;">
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref49" name="_ftn49" title=""><sup><sup>[49]</sup></sup></a> Về vấn đề này, có thể xem: Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, tlđd<em>,</em> tr. 297; Lê Văn Cảm (2005), <em>Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)</em>, tlđd, tr. 154 và các trang tiếp theo.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn50">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref50" name="_ftn50" title="">[50]</a> “Từ trước đến nay, các giáo trình, bài giảng, đa số các công trình nghiên cứu đều mặc nhiên quan niệm như vậy... (quan niệm nguồn của pháp luật hình sự chỉ có thể là BLHS)” (Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1 - Những vấn đề chung, Nxb. Khoa học xã hội, tr. 294).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn51">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref51" name="_ftn51" title="">[51]</a> Thực tiễn lập pháp hình sự ở Việt Nam cho thấy, trong khoảng thời gian hơn 30 năm kể từ khi ra đời vào năm 1985, BLHS của nước ta đã được nhiều lần sửa đổi, bổ sung (các năm 1989, 1991, 1992, 1997, 1999, 2009, 2015 và 2017), trong đó có hai lần sửa đổi cơ bản, toàn diện vào năm 1999 và năm 2015.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn52">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref52" name="_ftn52" title="">[52]</a> Luật Phòng, chống tham nhũng được ban hành năm 2005 nhưng việc sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu của Luật phòng, chống tham nhũng chỉ được thực hiện trong BLHS năm 2015, tuy nhiên, chỉ sau đó 3 năm, đến năm 2018, Luật Phòng, chống tham nhũng mới đã được ban hành; Luật Bảo hiểm xã hội được ban hành năm 2006 và Luật bảo hiểm y tế được ban hành năm 2008 nhưng việc sửa đổi, bổ sung liên quan đến 2 luật này cũng chỉ được thực hiện trong BLHS năm 2015 khi đã có Luật Bảo hiểm xã hội mới (Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014)…</span></span></p>
</div>
<div id="ftn53">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref53" name="_ftn53" title="">[53]</a> Ví dụ: Từ Điều 192 đến Điều 195 BLHS năm 2015 quy định về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi. Nhưng các điều luật này chưa có quy định toàn diện, tổng quát nhất về khái niệm hàng giả với bản chất, nội hàm chung nhất (Nghị định số 185/2013/NĐ-CP, Nghị định số 124/2015/NĐ-CP quy định bằng cách liệt kê, cách quy định này khó có thể bao quát hết các trường hợp xảy ra trong thực tiễn). Đồng thời, nhiều thuật ngữ, khái niệm còn chung chung, chưa được quy định cụ thể nên dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn như: “hàng giả tương đương với số lượng hàng thật”; “hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng”…</span></span></p>
</div>
<div id="ftn54">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref54" name="_ftn54" title="">[54]</a> Nguyễn Ngọc Hoà (chủ nhiệm) (2016), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu Đề tài cấp Bộ Tư pháp <em>“Nghiên cứu tính thống nhất giữa BLHS trong việc quy định tội phạm với các luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam”</em>, tr. 49.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn55">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref55" name="_ftn55" title="">[55]</a> Trong BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, rất nhiều tình tiết không được định lượng rõ ràng và nếu không có văn bản giải thích, hướng dẫn cụ thể thì khó áp dụng trên thực tiễn. Hiện nay, một số quy định có tính chất như vậy đã được khắc phục bởi BLHS năm 2015 khi quy định định lượng cụ thể đối với những tình tiết nói trên. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 vẫn còn một số tình tiết định tính, chưa được định lượng cụ thể như tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn” . Bên cạnh đó, một số điều luật của BLHS hiện hành không thể quy định toàn bộ hành vi mà chỉ quy định chung theo hướng: “vi phạm quy định về…”, “cố ý xâm phạm…”, “… trái pháp luật…”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn56">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref56" name="_ftn56" title="">[56]</a> Ví dụ: Trên cơ sở Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước CTOC) mà Việt Nam đã phê chuẩn, chúng ta đã thực hiện nghĩa vụ nội luật hóa hành vi hợp pháp hóa tài sản do phạm tội mà có trong Công ước vào BLHS. Tuy nhiên, các quy định về tội phạm rửa tiền tại Điều 324 của BLHS năm 2015 có điểm chưa thực sự tương thích với Công ước. Theo đó, Công ước CTOC khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng tội phạm rửa tiền đối với phạm vi rộng nhất các tội phạm nguồn và yêu cầu xác lập những tội phạm sau đây là tội phạm nguồn: Tất cả các tội phạm nghiêm trọng như định nghĩa tại CTOC, các tội phạm nêu trong CTOC và tất cả các tội liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài ra, để đấu tranh với hoạt động rửa tiền, theo yêu cầu của CTOC, các quốc gia thành viên phải coi những tội phạm thực hiện ở ngoài lãnh thổ của quốc gia cũng là tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quy định tại Điều 324 của BLHS năm 2015 chúng ta sẽ không thấy xuất hiện các quy định về “Tội phạm nguồn” theo yêu cầu của Công ước mà đến khi Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 324 của Bộ luật Hình sự về tội rửa tiền được ban hành thì vấn đề này mới được hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn57">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref57" name="_ftn57" title="">[57]</a> Chẳng hạn, Báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, 2019 đánh giá: <em>Hệ thống pháp luật chưa thực sự đồng bộ, tính thống nhất chưa cao( ), còn cồng kềnh với nhiều hình thức VBQPPL, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành, một số nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn. Tính dự báo, khả thi của hệ thống pháp luật chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, chi phí tuân thủ pháp luật còn cao. Nhiều dự án luật có vòng đời ngắn. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu, đề xuất chính sách chưa có khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về tính chiến lược và tầm nhìn dài hạn. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc xem xét các điều kiện, nguồn lực thực hiện vẫn còn chung chung, không rõ ràng. Một số quy định trong các VBQPPL còn mang tính “tuyên ngôn”.</em></span></span></p>
</div>
<div id="ftn58">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref58" name="_ftn58" title="">[58]</a> Xem tại đường dẫn: https://diaoc.nld.com.vn/dia-oc/internet-viet-nam-dang-o-dau-so-voi-the-gioi-20211223141258651.htm</span></span></p>
</div>
<div id="ftn59">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref59" name="_ftn59" title="">[59]</a> Xem Khoản 3 Điều 2 Luật An ninh mạng năm 2018.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn60">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref60" name="_ftn60" title="">[60]</a> Trung tướng PGS.TS Nguyễn Văn Thành (2021)<em>, </em><em>“</em>Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng – những yêu cầu đảm bảo các chỉ số an ninh - an toàn trong bối cảnh hiện nay”, xem tại: http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/chu-quyen-quoc-gia-tren-khong-gian-mang---nhung-yeu-cau-dam-bao-cac-chi-so-an-ninh---an-toan-trong-boi-canh-hien-nay.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn61">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref61" name="_ftn61" title="">[61]</a> Trung tướng PGS.TS Nguyễn Văn Thành (2021)<em>, </em>“Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng – những yêu cầu đảm bảo các chỉ số an ninh - an toàn trong bối cảnh hiện nay”, tlđd.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn62">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref62" name="_ftn62" title="">[62]</a> Tuyết Minh (2018), “Thấy gì qua vụ gây rối ở Bình Thuận”, xem tại: https://dangbodanang.vn/sukienvabinhluan/thaygiquavugayroiobinhthuan/id/11737, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn63">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref63" name="_ftn63" title="">[63]</a> PGS. TS. Cao Anh Dũng (2019), “Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng”, https://tuyengiao.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/bao-ve-an-ninh-quoc-gia-tren-khong-gian-mang-trong-boi-canh-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-theo-dinh-huong-dai-137538, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn64">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref64" name="_ftn64" title="">[64]</a> Trung tướng PGS.TS Nguyễn Văn Thành (2021), “Chủ quyền quốc gia trên không gian mạng – những yêu cầu đảm bảo các chỉ số an ninh – an toàn trong bối cảnh hiện nay”, tlđd.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn65">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref65" name="_ftn65" title="">[65]</a> Đỗ Bình (2021), “Làm chủ không gian mạng là một trong nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu”, https://www.vietnamplus.vn/lam-chu-khong-gian-mang-la-mot-trong-nhung-nhiem-vu-cap-bach-hang-dau/760058.vnp, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn66">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref66" name="_ftn66" title="">[66]</a> Vân Thanh (2021), “Tình hình tội phạm được kiềm chế nhưng còn diễn biến phức tạp”, https://thanhuytphcm.vn/tin-tuc/ti%CC%80nh-hi%CC%80nh-to%CC%A3i-pham-duo%CC%A3c-kie%CC%80m-che%CC%81-nhung-co%CC%80n-die%CC%83n-bie%CC%81n-phu%CC%81c-tap-1491883847, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn67">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref67" name="_ftn67" title="">[67]</a> Trần Đoàn Hạnh (2021), <em>Phòng ngừa tình hình tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và mạng viễn thông ở Việt Nam hiện nay</em>, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr. 71.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn68">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref68" name="_ftn68" title="">[68]</a> Bài viết: <em>Bình tĩnh, tỉnh táo, tránh bị lôi kéo, kích động dẫn đến vi phạm pháp luật,</em> https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/binh-tinh-tinh-tao-tranh-bi-loi-keo-kich-dong-dan-den-vi-pham-phap-luat-3418-3418-3418-3418-3418-3418, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn69">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref69" name="_ftn69" title="">[69]</a> Công Minh - Nguyên Minh (2018), <em>Không để những “bàn tay đen” tiếp tục kích động, phá hoại</em>, http://danvan.vn/Home/Dien-dan/7650/Khong-de-nhung-ban-tay-den-tiep-tuc-kich-dong-pha-hoai, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn70">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref70" name="_ftn70" title="">[70]</a> Thu Hằng (2021), <em>Đấu tranh với các thủ đoạn chống phá bầu cử trên không gian mạng</em>, https://dangcongsan.vn/thoi-su/dau-tranh-voi-cac-thu-doan-chong-pha-bau-cu-tren-khong-gian-mang-581189.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn71">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref71" name="_ftn71" title="">[71]</a> Xem bài viết “Hai người chống đối chính quyền, liên quan đến vụ Đồng Tâm nhận án tù”, https://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/ky-su-phap-dinh/hai-nguoi-chong-doi-chinh-quyen-lien-quan-den-vu-dong-tam-nhan-an-tu-801462.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn72">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref72" name="_ftn72" title="">[72]</a> Thiện Chí (2020), “Phạt tù chủ tài khoản “Chương May Mắn vì xuyên tạc vụ Đồng Tâm”, https://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/ky-su-phap-dinh/phat-tu-chu-tai-khoan-chuong-may-man-vi-xuyen-tac-vu-dong-tam-636892.html, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn73">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref73" name="_ftn73" title="">[73]</a> Hoa Thành (2021), “5 năm tù cho đối tượng viết Facebook xuyên tạc vụ Đồng Tâm”, https://tuoitrethudo.com.vn/5-nam-tu-cho-doi-tuong-viet-facebook-xuyen-tac-vu-dong-tam-170580.html, , truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn74">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref74" name="_ftn74" title="">[74]</a> PGS.TS. Cao Anh Dũng (2019), <em>Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng</em>, tlđd.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn75">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref75" name="_ftn75" title="">[75]</a> PGS.TS. Cao Anh Dũng (2019), <em>Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo định hướng Đại hội XIII của Đảng</em>, tlđd.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn76">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref76" name="_ftn76" title="">[76]</a> Đan Mạch - Điểm An toàn Mạng: 8,91. Đan Mạch là quốc gia an toàn về kỹ thuật số nhất, với Điểm an toàn mạng tổng thể là 8,91. Đan Mạch đạt điểm cao trong cả hai chỉ số an ninh mạng nổi bật và đặc biệt tốt trên Chỉ số phơi nhiễm an ninh mạng, chỉ đạt 0,117. Đức đứng thứ hai về tổng thể với điểm An toàn Mạng là 8,76. Hoa Kỳ có điểm An toàn Mạng là 8,73, giúp Hoa Kỳ đạt điểm cao nhất trong Chỉ số An ninh mạng Toàn cầu đồng thời hoạt động tốt trong điều kiện phơi nhiễm an ninh mạng thấp và luật pháp chặt chẽ.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn77">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref77" name="_ftn77" title="">[77]</a>Bài viết: <em>Làm chủ không gian mạng là một trong những nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu</em>, https://www.vietnamplus.vn/lam-chu-khong-gian-mang-la-mot-trong-nhung-nhiem-vu-cap-bach-hang-dau/760058.vnp, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn78">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref78" name="_ftn78" title="">[78]</a> PGS.TS. Cao Anh Dũng, <em>Bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư </em>theo định hướng Đại hội XIII của Đảng, tlđd.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn79">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref79" name="_ftn79" title="">[79]</a>Lê Tuấn Thịnh, <em>Nhìn lại vụ tấn công vào Tổng công ty Hàng không Việt Nam và những bài học để lại,</em> http://antoanthongtin.gov.vn/hacker-malware/nhin-lai-vu-tan-cong-vao-tong-cong-ty-hang-khong-viet-nam-va-nhung-bai-hoc-de-lai-106846, truy cập ngày 15/2/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn80">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref80" name="_ftn80" title="">[80]</a> ThS. Nguyễn Hương Ly (2020), “Pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo vệ dữ liệu, thông tin cá nhân và quyền riêng tư”, truy cập tại: https://nacis.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/-/view-content/214123/phap-luat-hien-hanh-cua-viet-nam-ve-bao-ve-du-lieu-thong-tin-ca-nhan-va-quyen-rieng-tu.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn81">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref81" name="_ftn81" title="">[81]</a> Văn phòng Sở Công thương tỉnh Hưng Yên (sưu tầm) (2019), “Luật An ninh mạng: 8 nội dung nổi bật nhất của Luật An ninh mạng 2018”, truy cập tại: https://socongthuong.hungyen.gov.vn/portal/Pages/2019-11-1/Luat-An-ninh-mang-8-noi-dung-noi-bat-nhat-cua-Luat3id1cq.aspx.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn82">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref82" name="_ftn82" title="">[82]</a> Brendon Van Alsenoy (2019), <em>Data Protection Law in the EU: Roles, Responsibilities and Liability</em>, Intersentia, tr. 155.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn83">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref83" name="_ftn83" title="">[83]</a> Vina Aspire (2022), <em>Báo cáo thường niên an ninh mạng 6 tháng đầu năm 2022</em>, https://drive.google.com/file/d/1b3FEy6FFH3U4WyhOsn-eZVs81wmcsXYk/view.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn84">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref84" name="_ftn84" title="">[84]</a> ThS. Bạch Thị Nhã Nam (2022), <em>Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân</em>, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp Số 05(453), tháng 03/2022, http://lapphap.vn/Pages/TinTuc/211048/Hoan-thien-phap-luat-ve-bao-ve-du-lieu-ca-nhan.html.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn85">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref85" name="_ftn85" title="">[85]</a> Brendon Van Alsenoy (2019), <em>Data Protection Law in the EU: Roles, Responsibilities and Liability</em>, Intersentia, 2019, tr. 158.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn86">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref86" name="_ftn86" title="">[86]</a> Brendon Van Alsenoy (2019), <em>Data Protection Law in the EU: Roles, Responsibilities and Liability</em>, Intersentia, 2019, tr. 222.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn87">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref87" name="_ftn87" title="">[87]</a> Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2022 đã có 48.646 cuộc tấn công mạng với nhiều hình thức tinh vi (so với năm 2021, con số này tăng gần 20%). Trong đó, 6.641 vụ tấn công mạng gây ra sự cố vào hệ thống thông tin trong nước, tăng 35,14% so với cuối năm 2021 và tăng 37,92% so với cùng kỳ năm 2021. Trong 48.646 cuộc tấn công mạng vào các hệ thống công nghệ thông tin trọng yếu nửa đầu năm 2022, tấn công khai thác lỗ hổng vẫn chiếm đa số với gần 53% tổng số cuộc tấn công; tiếp đó là tấn công dò quét mạng (15,65%), tấn công APT (14,36%); tấn công xác thực (9,39%); tấn công cài mã độc (7,58%), tấn công từ chối dịch vụ (0,47%) và các hình thức tấn công khác là 0,91% - theo Vina Aspire (2022), <em>Báo cáo thường niên an ninh mạng 6 tháng đầu năm 2022</em>, truy cập tại: https://drive.google.com/file/d/1b3FEy6FFH3U4WyhOsn-eZVs81wmcsXYk/view.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn88">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref88" name="_ftn88" title="">[88]</a> Vina Aspire (2022), <em>Báo cáo thường niên an ninh mạng 6 tháng đầu năm 2022</em>, truy cập tại: https://drive.google.com/file/d/1b3FEy6FFH3U4WyhOsn-eZVs81wmcsXYk/view.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn89">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref89" name="_ftn89" title="">[89]</a> ThS. Lê Thị Diễm Hằng, Ngô Hà Chi, Nguyễn Hà Giang, Trần Mai Huyền, <em>Nhận diện cơ bản về thông tin cá nhân và hành vi xâm phạm thông tin cá nhân</em>, https://tapchitoaan.vn/nhan-dien-co-ban-ve-thong-tin-ca-nhan-va-hanh-vi-xam-pham-thong-tin-ca-nhan5893.html#:~:text=C%C3%A1c%20c%C3%A1ch%20th%E1%BB%A9c %20%C4%91%C3%B3%20c%C3%B3,l%C3%BD%20c%E1%BB%A7a%20c%C3%A1c%20t%E1%BB%95%20ch%E1%BB%A9c.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn90">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref90" name="_ftn90" title="">[90]</a> Bao gồm: (1) Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (Điều 21 và 22); (2) Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 38, Điều 387, 517 và 565); (3) Luật an toàn thông tin mạng năm 2015 (Khoản 15, 16 và 17 Điều 3; Khoản 5 Điều 7; Điều 16, 17, 18, 19 và 20); (4) Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; (5) Thông tư số 25/2010/TT-BTTTT ngày 15/11/2010 của Bộ Thông tin và Truyền thông “quy định việc thu thập, sử dụng, chia sẻ, đảm bảo và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước”; (6) Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; (7) Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử; (8) Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015); (9) Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn91">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref91" name="_ftn91" title="">[91]</a> Xem thêm: Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Báo cáo rà soát pháp luật đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, 2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn92">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref92" name="_ftn92" title="">[92]</a> Điều 21 và 22 Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Điều 16, 17, 18, 19 và 20 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn93">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref93" name="_ftn93" title="">[93]</a> Tất nhiên, cũng có thể lập luận rằng, Điều 38 Bộ luật dân sự năm 2015 đã phần nào xử lý vấn đề này.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn94">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref94" name="_ftn94" title="">[94]</a> Chẳng hạn, thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã bao hàm cả nghĩa “thu thập…lưu trữ… chia sẻ… phát tán thông tin cá nhân”, tức là có nghĩa rộng hơn so với thuật ngữ “xử lý thông tin cá nhân” trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 không bao hàm nghĩa “thu thập… sử dụng thông tin cá nhân”; tổ chức, cá nhân thu thập, sử dụng thông tin cá nhân theo Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 chỉ phải thông báo cho chủ thể thông tin cá nhân “phạm vi, mục đích” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân trước khi tiến hành thu thập, trong khi đó Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đòi hỏi tổ chức, cá nhân này phải thông báo không chỉ “phạm vi, mục đích” mà cả “hình thức” và “địa điểm” của việc thu thập, sử dụng thông tin cá nhân.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn95">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref95" name="_ftn95" title="">[95]</a> “Thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn96">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref96" name="_ftn96" title="">[96]</a> “Thông tin cá nhân là thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu”.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn97">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref97" name="_ftn97" title="">[97]</a> “Thông tin cá nhân là các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, bao gồm tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật. Thông tin cá nhân trong Nghị định này không bao gồm thông tin liên hệ công việc và những thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông.”</span></span></p>
</div>
<div id="ftn98">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref98" name="_ftn98" title="">[98]</a> Khoản 4 Điều 84 của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung năm 2015) quy định hành vi “thu thập thông tin cá nhân của người tiêu dùng mà không được sự đồng ý trước của chủ thể thông tin; sử dụng thông tin cá nhân của người tiêu dùng không đúng với mục đích và phạm vi đã thông báo” chỉ bị phạt tiền từ 20 đến 30 triệu đồng. Điều 84 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định hành vi “thu thập thông tin cá nhân khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích của việc thu thập và sử dụng thông tin đó” chỉ bị phạt từ 10 đến 20 triệu đồng, còn hành vi “sử dụng không đúng mục đích thông tin cá nhân đã thỏa thuận khi thu thập hoặc khi chưa có sự đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân; cung cấp hoặc chia sẻ hoặc phát tán thông tin cá nhân đã thu thập, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý của chủ thông tin cá nhân; thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác” thì bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn99">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref99" name="_ftn99" title="">[99]</a> Theo quy định của Liên minh châu Âu, các hành vi xâm phạm pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân có thể bị xử phạt tới 4% tổng doanh thu của năm tài chính trước thời điểm xảy ra hành vi vi phạm.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn100">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref100" name="_ftn100" title="">[100]</a> Điều 159 BLHS quy định, việc “<em>Xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác</em>” có thể bị phạt tới 03 năm. Điều 288 quy định về “<em>Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông</em>” với mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù giam.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn101">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref101" name="_ftn101" title="">[101]</a> Nguyễn Văn Ngọc (2012), <em>Từ điển kinh tế học</em>, NXB. Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn102">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref102" name="_ftn102" title="">[102]</a> Bản án số 59/2017/HSST ngày 28/9/2017 của TAND huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn103">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref103" name="_ftn103" title="">[103]</a> Điểm 6 Điều 2 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn104">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref104" name="_ftn104" title="">[104]</a> VNExpress (2013), “Nhóm người nước ngoài làm giả 175 thẻ tín dụng lĩnh án”, xem tại: Nhóm người nước ngoài làm giả 175 thẻ tín dụng lĩnh án - VnExpress ngày 14/5/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn105">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref105" name="_ftn105" title="">[105]</a> Bản án số 97/2017/HSST ngày 25/12/2017 của TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn106">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref106" name="_ftn106" title="">[106]</a> Nhật Minh (2011), “Hai chiêu lừa phổ biến trên thị trường chứng khoán”, xem tại: https://vnexpress.net/kinh-doanh/2-chieu-lua-pho-bien-tren-thi-truong-chung-khoan-2715571.html ngày 15/5/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn107">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref107" name="_ftn107" title="">[107]</a> Liên quan vụ án tại tập đoàn FLC, theo kết quả điều tra ban đầu xác định từ ngày 1/9-10/1/2019, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế mượn chứng minh thư nhân dân của 26 cá nhân lập 20 doanh nghiệp, mở 450 tài khoản tại 41 công ty chứng khoán để thực hiện các hành vi thao túng giá cổ phiếu nhằm tạo ra cung cầu giả với 6 mã chứng khoán FLC và thu lợi bất chính, theo dự tính ban đầu là 975 tỷ đồng. Điều này đã gây thiệt hại đặc biệt lớn cho các nhà đầu tư. (Nguồn: https://vneconomy.vn/trinh-van-quyet-thao-tung-gia-6-ma-chung-khoan-flc-thu-loi-bat-chinh-975-ty)</span></span></p>
</div>
<div id="ftn108">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref108" name="_ftn108" title="">[108]</a> Nghị quyết số 03/2019/NQ-HĐTP ngày 24/5/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 324 của BLHS về tội rửa tiền.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn109">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref109" name="_ftn109" title="">[109]</a> Nguyễn Minh Khuê (Chủ nhiệm), <em>Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 -</em> <em>Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2020, </em>Bộ Tư pháp, tr. 99.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn110">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref110" name="_ftn110" title="">[110]</a> Nguồn: https://tuoitre.vn/canh-bao-he-luy-xau-tu-cac-trang-web-to-chuc-danh-bac-va-danh-bac-tren-mang-20220623160316075.htm</span></span></p>
</div>
<div id="ftn111">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref111" name="_ftn111" title="">[111]</a> Vụ việc điển hình đó là vụ việc tổ chức đánh bạc qua website Ibet789 lên tới 1.224 tỷ đồng. Đặc biệt, qua đấu tranh với hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, rửa tiền qua mạng Internet với 02 loại hình Rikvip và Tip.Clup đã phát hiện 54 trò đánh bạc, 42.956.756.718 tài khoản người chơi với số tiền đánh bạc là 15.214,7 tỷ đồng, gây hậu quả nghiêm trọng trong xã hội. Để đối phó với sự quản lý, tránh bị cơ quan chức năng phát hiện, chúng thường đặt máy chủ nước ngoài, thuê đường truyền Internet cáp quang tốc độ cao, thiết lập mạng ảo (VPN) được mã hóa phức tạp, lập ra hàng nghìn website chuyên tổ chức cá độ, đánh bạc cho người Việt Nam và nước ngoài với tên miền, địa chỉ IP khác nhau... để quảng bá, lôi kéo con bạc tham gia, khi bị lực lượng chức năng chặn lọc thì các đối tượng lập trang mới để tiếp tục hoạt động.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn112">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref112" name="_ftn112" title="">[112]</a> Tổ công tác rà soát văn bản qppl của Thủ tướng Chính phủ, Báo cáo Kết quả rà soát quy định pháp luật đảm bảo đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, 2020.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn113">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref113" name="_ftn113" title="">[113]</a> Trần Đoàn Hạnh (2016), “Những vướng mắc trong đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật về tội phạm công nghệ cao”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn114">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref114" name="_ftn114" title=""><sup><sup>[114]</sup></sup></a> Bộ Công an (2019), <em>Thực trạng đấu tranh với tội phạm mạng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư</em>, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia, <em>Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam</em>, Bộ Tư pháp, tr. 256.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn115">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref115" name="_ftn115" title="">[115]</a> Ví dụ: Điều 6 Công ước Budapest năm 2001 và Điều 9 Luật mẫu năm 2002.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn116">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref116" name="_ftn116" title="">[116]</a> Nguyễn Quý Khuyến (2017), “Tội sản xuất, mua bản, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử theo BLHS năm 2015”, Tạp chí Toà án nhân dân, số 1/2017.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn117">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref117" name="_ftn117" title="">[117]</a> Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTT&TT-VKSNDTC-TANDTC ngày 10/9/2012 hướng dẫn áp dụng quy định của BLHS về một số tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn118">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref118" name="_ftn118" title="">[118]</a> Khoản 13 Điều 3 Luật tần số vô tuyến điện năm 2009.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn119">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref119" name="_ftn119" title="">[119]</a> Hồ Thế Hòe (2012), “Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn120">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref120" name="_ftn120" title="">[120]</a> Cyber Security Mauritius (Tạm dịch: Hướng dẫn về mạng xã hội của Maritius), xem tại : http://cybersecurity.ncb.mu/English/Documents/Knowledge%20Bank/Guidelines/Guideline%20on%20Social%20Networks.pdf, truy cập ngày 20/02/2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn121">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref121" name="_ftn121" title="">[121]</a> Carapeto, Roberto (2021), <em>The Japanese Basic Act on Cybersecurity and the historical development of the Japanese legal framework for cybersecurity</em>, International. Cybersecurity Law Review 2, pages 65-76, truy cập tại: https://doi.org/10.1365/s43439-021-00019-6, Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3816898</span></span></p>
</div>
<div id="ftn122">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref122" name="_ftn122" title="">[122]</a> Chính phủ Nhật Bản (2021), Cybersecurity Strategy 2021, p.10</span></span></p>
</div>
<div id="ftn123">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref123" name="_ftn123" title="">[123]</a> Các bên cung cấp hạ tầng thông tin làm nền tảng cho các điều kiện sống và hoạt động kinh tế của con người mà sự thất bại về mặt chức năng hoặc giảm giá trị của các hạ tầng đó sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vấn đề đó của con người (khoản 1 Điều 3 BAC)</span></span></p>
</div>
<div id="ftn124">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref124" name="_ftn124" title="">[124]</a> Kể từ năm 2016, ba luật quan trọng (sau đây được gọi là “Ba luật cơ bản”), cụ thể là (i) Luật An ninh mạng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa/《中华人民共和国 网络 安全 法》 (“Luật An ninh mạng”), ( ii) Luật Bảo mật Dữ liệu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa /《中华人民共和国 数据 安全 法》 (“Luật Bảo mật Dữ liệu”) và (iii) Luật Bảo vệ Thông tin Cá nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa /《中华人民共和国 个人 信息保护 法》(“PIPL”) đã được ban hành để tạo nền tảng cho các quy định trong các lĩnh vực này.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn125">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref125" name="_ftn125" title="">[125]</a> BinXing Fang (2018), <em>Cybersapce Sovereignty, Reflections on Building a Community of Common Future in Cyberspace</em>, Sience Press Beijing and Springer Nature Singapore Pte Ltd, tr.1, 321</span></span></p>
</div>
<div id="ftn126">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref126" name="_ftn126" title="">[126]</a> Chủ quyền dữ liệu đề cập đến quyền sở hữu và định đoạt dữ liệu; chủ quyền thông tin đề cập đến quyền công bố thông tin; chủ quyền không gian điện từ đề cập đến để kiểm soát không gian điện từ của nhà nước; chủ quyền kỹ thuật đề cập đến sự tự chủ, tự định hướng và phát triển độc lập của công nghệ. Xem BinXing Fang (2018), tlđd, tr. 357.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn127">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref127" name="_ftn127" title="">[127]</a> Ngày 21-7, Trung Quốc cho biết đã phạt Công ty Didi Global của nước này 8,026 tỉ nhân dân tệ (1,19 tỉ USD), liên quan cuộc điều tra kéo dài 1 năm vốn đã buộc hãng gọi xe này hủy niêm yết tại New York. Cơ quan Quản lý không gian mạng Trung Quốc (CAC) cho biết các nhà điều tra phát hiện Công ty Didi đã thu thập trái phép hàng triệu mẫu thông tin của người dùng trong giai đoạn 7 năm, bắt đầu từ tháng 6-2015, cũng như tiến hành các hoạt động xử lý dữ liệu làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh quốc gia. Trong một động thái bất thường, CAC cho biết họ cũng phạt nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành Trình Duy (Cheng Wei) và chủ tịch Liễu Thanh (Jean Liu) của công ty này, mức phạt 1 triệu nhân dân tệ mỗi người. Nguồn: https://tuoitre.vn/trung-quoc-phat-hang-xe-cong-nghe-didi-1-2-ti-usd</span></span></p>
</div>
<div id="ftn128">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref128" name="_ftn128" title="">[128]</a> Tháng 12 năm 2021, nền tảng mạng xã hội khổng lồ ở Trung Quốc Weibo đã bị phạt tiền lên đến 470 nghìn đô do vi phạm các quy định quản lý trên mạng Internet của Trung Quốc cụ thể là hành vi đăng tải thông tin phạm pháp trên mạng Internet. Cục Quản lý Không gian mạng Trung Quốc (Cyberspace Administration of China) cho biết: “Weibo đã vi phạm Luật an ninh mạng về bảo vệ trẻ vị thành niên cũng như vi phạm các quy định tại các Luật khác và Weibo sẽ phải thực thi án phạt, công ty phải xử lý nghiêm những cá nhân có liên quan”. Đối với mạng xã hội Weibo, năm 2021, tính từ đầu năm cho đến tháng 11 thì đây là lần thứ 44 mà Weibo bị cơ quan quản lý xử phạt vi phạm hành chính, tổng số tiền phạt ước tính lên đến 2,2 triệu đô. Án phạt mới nhất đối với Weibo là một trong chuỗi các hình phạt mà Cơ quan quản lý nhà nước Trung Quốc đã thực thi nhằm siết chặt hoạt động cung cấp nội dung trên mạng Internet của các Công ty công nghệ trong năm nay, trong bối cảnh của việc quản lý thông tin trên mạng Internet đang được giám sát chặt chẽ hơn bao giờ hết để tuân thủ theo văn bản mới mà Trung Quốc đã ban hành quy định đối với việc phát hành, đăng tải thông tin hoặc đưa tin báo chí trên mạng Internet. Mặt khác, đây cũng là biện pháp mạnh tay của Trung Quốc nhằm xóa bỏ văn hóa “Thần tượng trực tuyến” và cấm các công ty truyền thông xã hội quảng cáo cho những người nổi tiếng có ảnh hưởng không tốt đến giới trẻ. Nguồn: https://laodong.vn/xa-hoi/bai-1-trung-quoc-xu-phat-mang-xa-hoi-weibo-vi-dang-tai-thong-tin-sai-pham-987295.ldo</span></span></p>
</div>
<div id="ftn129">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref129" name="_ftn129" title="">[129]</a> Xem mục 171 và mục 172, Đạo luật Bảo vệ Dữ liệu năm 2018 của Vương quốc Anh.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn130">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref130" name="_ftn130" title="">[130]</a> Dennis J. Baker và Paul H. Robinson (2021) (biên tập), <em>Artificial Intelligence and the Law – Cybercrime and Criminal Liability</em>, Routledge, tr. 84.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn131">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref131" name="_ftn131" title="">[131]</a> Dennis J. Baker và Paul H. Robinson (biên tập), <em>Artificial Intelligence and the Law – Cybercrime and Criminal Liability</em>, Routledge, 2021, tr. 143-144.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn132">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref132" name="_ftn132" title="">[132]</a> Chú ý: Đạo luật này được nhiều lần sửa đổi tên gọi, từ Đạo luật về vi phạm an toàn máy tính thành Đạo luật Lạm dụng máy tính.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn133">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref133" name="_ftn133" title="">[133]</a> Điều 9 CMA.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn134">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref134" name="_ftn134" title="">[134]</a> Điều 10 CMA.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn135">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref135" name="_ftn135" title="">[135]</a> “Hậu quả nghiêm trọng” được định nghĩa tại Điều 13.(4) CMA.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn136">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref136" name="_ftn136" title="">[136]</a> Điều 1 APPI.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn137">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref137" name="_ftn137" title="">[137]</a> Điều 16 đến 18 (nghĩa vụ công khai mục đích hành vi tối ưu hóa thông tin cá nhân – purpose of utilization), từ Điều 20 (nghĩa vụ thực hiện biện pháp bảo mật), Điều 21 (nghĩa vụ giám sát người lao động có chức năng xử lý dữ liệu cá nhân), Điều 22 (nghĩa vụ giám sát bên được thuê xử lý dữ liệu cá nhân), Điều 23 (Những hạn chế cung cấp dữ liệu cho bên thứ ba), Điều 24 (Các nội dung phải công khai khi xử lý dữ liệu), Điều 25 (Trường hợp tiết lộ thông tin định danh), Điều 26 (Đính chính), Điều 27 (Chấm dứt xử lý dữ liệu).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn138">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref138" name="_ftn138" title="">[138]</a> World Bank (2022), GDP per capita (current US$) – Japan, https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.CD?locations=JP</span></span></p>
</div>
<div id="ftn139">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref139" name="_ftn139" title="">[139]</a> Robert Walters, et. al (eds.), <em>Data Protection Law: A Comparative Analysis of Asia-Pacific and European Approaches </em>(Singapore: Springer, 2019), tr. 197.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn140">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref140" name="_ftn140" title="">[140]</a> Robert Walters, et. al (eds.), <em>Data Protection Law: A Comparative Analysis of Asia-Pacific and European Approaches </em>(Singapore: Springer, 2019), tr. 83.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn141">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref141" name="_ftn141" title="">[141]</a> <https: 02="" 2020="" thailand-personal-data-protection-law="" www.dataprotectionreport.com=""></https:></span></span></p>
</div>
<div id="ftn142">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref142" name="_ftn142" title="">[142]</a> https://iclg.com/practice-areas/anti-money-laundering-laws-and-regulations/usa.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn143">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref143" name="_ftn143" title="">[143]</a> Bank Secrecy Act 1970, as amended by the USA PATRIOT Act, 31 U.S.C.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn144">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref144" name="_ftn144" title="">[144]</a> Xem Phần 31 C.F.R., Chương 10, điều 1010.100, https://www.ecfr.gov/cgi-bin/text-idx?SID=4df0056bfe0d2e753a35298fc7375a7e&mc=true&tpl=/ecfrbrowse/Title31/31cfrv3_02.tpl#1000</span></span></p>
</div>
<div id="ftn145">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref145" name="_ftn145" title="">[145]</a> Xem phần 15 U.S.C, điều 78c (a)(4)-(a)(5), https://www.law.cornell.edu/uscode/text/15/chapter-78</span></span></p>
</div>
<div id="ftn146">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref146" name="_ftn146" title="">[146]</a> Xem phần 7 U.S.C, Điều 1a(31), https://www.law.cornell.edu/uscode/text/7/1a</span></span></p>
</div>
<div id="ftn147">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref147" name="_ftn147" title="">[147]</a> Nguyễn Minh Khuê (Chủ nhiệm), <em>Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 -</em> <em>Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2020, </em>Bộ Tư pháp, tr. 44.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn148">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref148" name="_ftn148" title="">[148]</a> Lê Hồng Thái (2021), “Nhận diện tiền mã hóa, pháp luật Việt Nam về tiền mã hóa”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 08 (432), truy cập tại: http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210822.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn149">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref149" name="_ftn149" title="">[149]</a> Điều 7-2 Bộ luật hình sự Nhật Bản</span></span></p>
</div>
<div id="ftn150">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref150" name="_ftn150" title="">[150]</a> Điều 175 quy định về tội Phân phối các nội dung khiêu dâm: phạt tù có lao động không quá 02 năm hoặc phạt tiền không quá 2.500.000 JPY hoặc phạt tiền nhỏ (petty fine) hoặc vừa phạt tù vừa phạt tiền đối với người nào phát tán hoặc công chiếu những nội dung khiêu dâm thông qua phương tiện ghi chứa trong bản ghi điện tử (electronic) hoặc điện từ (magnetic); người nào phân phối các nội dung khiêu dâm trong bản ghi điện từ thông qua truyền tải viễn thông (transmission of telecommunications); người nào sở hữu các nội dung khiêu dâm nói trên hoặc lưu trữ trong bản ghi điện tử hoặc điện từ để phát tán với động cơ thu phí.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn151">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref151" name="_ftn151" title="">[151]</a> Trịnh Tiến Việt (2020), <em>Chính sách hình sự Việt Nam trước thách thức cách mạng công nghiệp 4.0</em>, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr. 46.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn152">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref152" name="_ftn152" title="">[152]</a> Theo Bộ Thông tin và Truyền thông (2020), <em>Cẩm nang Chuyển đổi số</em>, tr.15.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn153">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref153" name="_ftn153" title=""><sup><sup>[153]</sup></sup></a> Xem: Chính phủ, <em>CÔNG BÁO/Số 299 + 300</em>, ngày 25/4/2016, tr. 65.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn154">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref154" name="_ftn154" title=""><sup><sup>[154]</sup></sup></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2021)<em>, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I</em>, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, các tr. 31, 34, 37, 46, 106, 110, 115, 121, 136-137, 140, 166, 201, 208, 214, 231, 235, 244.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn155">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref155" name="_ftn155" title=""><sup><sup>[155]</sup></sup></a> Đảng Cộng sản Việt Nam (2021)<em>, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I</em>, tlđd., tr. 201.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn156">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref156" name="_ftn156" title="">[156]</a> Liability for AI Decision-Making: Some Legal and Ethical Considerations, Iria Giuffrida, William & Mary Law School , Fordham Law Review Volume 88 Issue 2 Article 3 , 2019.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn157">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref157" name="_ftn157" title=""><sup><sup>[157]</sup></sup></a> Công ước của Hội đồng châu Âu về tội phạm mạng (Công ước Budapest ngày 23/11/2001).</span></span></p>
</div>
<div id="ftn158">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref158" name="_ftn158" title=""><sup><sup>[158]</sup></sup></a> Xem: Nguyễn Văn Hưởng (2014), <em>An ninh phi truyền thống: Nguy cơ, thách thức, chủ trương và giải pháp đối phó ở Việt Nam</em>, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.261, tr. 264-265.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn159">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref159" name="_ftn159" title="">[159]</a> Viện Khoa học pháp lý, Báo cáo nghiên cứu khả năng mở rộng nguồn luật hình sự, 2022.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn160">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref160" name="_ftn160" title="">[160]</a> Năm 2005, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phương hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự là “phải phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” tại Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết này, ngày 29/7/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 84-KL/TW về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW để tiếp tục quán triệt và thực hiện các quan điểm, định hướng, nhiệm vụ cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết 49/NQ-TW. Để triển khai thực hiện Kết luận số 84-KL/TW của Bộ Chính trị, ngày 31 tháng 12 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 120/QĐ-TTg về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 84-KL/TW của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó đã đưa nội dung về nghiên cứu việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự (điểm e mục 3).</span></span></p>
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;">Trước đó, từ khi tiến hành soạn thảo BLHS năm 1999 thay thế cho BLHS năm 1985, vấn đề cho phép hay không cho phép các luật khác cũng có quy phạm pháp luật hình sự đã được đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề này đã sớm được đưa ra ngoài phạm vi sửa đổi vì chưa có nhiều ý kiến đồng thuận. Đến năm 2014, trên cơ sở thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật, tổ chức vào ngày 20 - 21/3/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 22/3/2014 về Phiên họp Chính phủ Chuyên đề Xây dựng pháp luật. Tại đây, Chính phủ đã thống nhất với đề xuất của Bộ Tư pháp về những định hướng lớn xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi) và nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản, trong đó có: “mở rộng nguồn của pháp luật hình sự một cách hợp lý theo hướng, một số tội phạm cụ thể có tính chất đặc thù cao và hình phạt với các tội phạm đó có thể được quy định trong các luật chuyên ngành để bảo đảm tính kịp thời và linh hoạt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”. Trên cơ sở đó, vấn đề mở rộng nguồn của pháp luật hình sự tiếp tục được đưa ra khi soạn thảo BLHS năm 2015. Theo đó, cần “nghiên cứu khả năng mở rộng nguồn của luật hình sự theo hướng tội phạm và hình phạt không chỉ được quy định trong BLHS mà còn có thể được quy định trong các Luật chuyên ngành”. Ở lần sửa đổi này, đã có bước tiến xa hơn trong việc xem xét mở rộng nguồn của pháp luật hình sự khi Ban soạn thảo BLHS đã nhất trí với việc cho phép các luật khác cũng được quy định tội phạm và hình phạt. Tuy nhiên, do còn nhiều ý kiến khác nhau nên kết quả cuối cùng, việc mở rộng nguồn của pháp luật hình sự vẫn chưa được thực hiện. </span></span></p>
</div>
<div id="ftn161">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref161" name="_ftn161" title="">[161]</a> Dự kiến, Nghị định này sẽ sớm được Chính phủ ban hành sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp thuận.</span></span></p>
</div>
<div id="ftn162">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref162" name="_ftn162" title="">[162]</a> Nguyễn Văn Cương (2020), “Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 15, tháng 8 năm 2020, xem tại: http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/210631/Thuc-trang-phap-luat-ve-bao-ve-thong-tin-ca-nhan-o-Viet-Nam-hien-nay-va-huong-hoan-thien.htm, truy cập lần cuối ngày 12/07/2022</span></span></p>
</div>
<div id="ftn163">
<p>
<span style="font-size:14px;"><span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"><a href="#_ftnref163" name="_ftn163" title="">[163]</a> Xem Điều 12 Công ước Budapest năm 2001.</span></span></p>
</div>
</div>
<p>
</p>
TLThongTinXepGia:
TLNamBaoVe:
2022
NamBatDau:
2,021
NamKetThuc:
2,022
MucTieuNghienCuu:
Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
PhamViNghienCuu:
DoiTuongNghienCuu:
PhuongPhapNghienCuu:
UngDung:
CongBo:
No
LinhVuc:
LoaiVanBan:
0
Approval Status:
Approved
Created at 12/17/2024 4:11 PM by TLPLSV\thuhuongnguyen
Last modified at 12/17/2024 4:12 PM by TLPLSV\thuhuongnguyen
Go back to list
Home(Tài liệu)