LLuanAnTSThS: Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt nam
Title:
Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt nam
LAuthor:
Nguyễn Thị Thu Hương
LCapDoMat:
LTrangThaiKhaiThac:
TLChuyenNganh:
Luật hình sự; Luật tố tụng
TLKhaiThacToanVan:
No
TLKieuFileDinhKem:
TLKieuFileDK:
TLMaSoQuanLy:
TLMucTieuPhamVi:
<td></td> <td> <div> <div align="justify"></div> </div> </td>
TLNamXB:
0
TLNamXuatBan:
TLNhungNguoiDongGop:
TLNoiDungChiTiet:
<td colspan="2" align="justify"> <div style="line-height:150%;" align="justify">
<b><p align="JUSTIFY">Họ tên</b> : Võ Khánh Vinh<p>
<b><p align="JUSTIFY">Đề tài</b> : <b><i>Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt nam.<p>
</i><p align="JUSTIFY">Chuyên ngành</b> : Luật hình sự và tố tụng hình sự</p>
<b><p align="JUSTIFY">Mã số</b> : 5.05.14<p>
<b><p align="JUSTIFY">Nơi bảo vệ</b> : Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia</p>
<b><p align="JUSTIFY">Năm bảo vệ </b>: 1993<p>
<b><p align="CENTER">I. Mục đích, nhiệm vụ của luận án</p>
<p align="JUSTIFY"> </b>Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là trên cơ sở cách tiếp cận tổng thể phân tích, làm sáng tỏ bản chất, nội dung, các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng và sự thể hiện, biểu hiện của nó trong các qui định của pháp luật hình sự, chứng minh, lập luận công bằng là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật hình sự Việt nam, xuyên suốt hoạt động lập pháp hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.</p>
<p align="JUSTIFY"> Tính phức tạp và nhiều mặt, nhiều mức độ về nội dung, về sự thể hiện, biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự không cho phép trong phạm vi của một luận án xem xét hết tất cả những khía cạnh, mức độ thể hiện, biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong các qui định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng chúng. Do vậy, luận án chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, các đòi hỏi, sự thể hiện và biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong một số chế định quan trọng nhất của luật hình sự như: cơ sở của trách nhiệm hình sự; tội phạm và phân loại tội phạm; giới hạn tác động của luật hình sự; hệ thống hình phạt và hệ thống các chế tài luật hình sự; định tội danh và quyết định hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY"> Mục đích và phạm vi nghiên cứu nói trên quyết định việc đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:</p>
<p align="JUSTIFY"> Khái niệm nguyên tắc công bằng, bản chất và các mức độ biểu hiện của nó trong luật hình sự;</p>
<p align="JUSTIFY">Xác định các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự, việc qui định tội phạm, việc qui định giới hạn tác động của pháp luật hình sự;</p>
<p align="JUSTIFY">Xác định các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc định tội danh và việc quyết định hình phạt trong thực tiễn.</p>
<p align="JUSTIFY">Trên cơ sở việc giải quyết những vấn đề lý luận, phân tích các qui phạm pháp luật hình sự, thực tiễn xét xử của toà án đưa ra những kết luận và kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm khắc phục và hạn chế những sai sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta.</p>
<p align="JUSTIFY"> <b>II. Cái mới của luận án<p>
</b><p align="JUSTIFY">Cái mới của luận án thể hiện ở chỗ đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong sách báo khoa học pháp lý của Việt nam về những vấn đề cơ bản của công bằng trong lĩnh vực luật hình sự. Dựa trên sự phân tích lý luận, phân tích các qui phạm của Bộ luật hình sự, thực tiễn xét xử của nước ta, từ quan điểm của nguyên tắc công bằng tác giả đánh giá một số chế định cơ bản của luật hình sự Việt nam.</p>
<p align="JUSTIFY">Tác giả đưa những luận điểm sau đây để bảo vệ đề tài nghiên cứu:</p>
<p align="JUSTIFY">1. Công bằng là một khái niệm mang tính lịch sử cụ thể, tính giai cấp, do các điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, tư tưởng, văn hoá ... quyết định. Đó là một khái niệm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, là một giá trị xã hội có liên quan chặt chẽ với lợi ích, với pháp luật và các giá trị xã hội khác.</p>
<p align="JUSTIFY">2. Công bằng là một nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội xuyên suốt mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là nguyên tắc của chính sách hình sự và pháp luật hình sự. Nguyên tắc công bằng được thể hiện ở ba lĩnh vực của chính sách hình sự: lập pháp hình sự, áp dụng pháp luật hình sự và ý thức pháp luật. Trong lĩnh vực hình sự công bằng được thể hiện thông qua các đòi hỏi của mình.</p>
<p align="JUSTIFY">3. Công bằng có những đòi hỏi cụ thể nhất định đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với việc qui định tội phạm, giới hạn tác động của điều cấm hình sự, được thể hiện cả ở việc qui định các chế định của phần chung lẫn ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. </p>
<p align="JUSTIFY">4. Các đòi hỏi của công bằng thể hiện ở việc qui định hình phạt, hệ thống hình phạt và các chế tài cụ thể đối với các tội phạm. Tương ứng với các tội phạm khác nhau về tính chất và mức độ nghiêm khắc.</p>
<p align="JUSTIFY">5. Công bằng có những đòi hỏi nhất định đối với việc định tội danh. Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng. </p>
<p align="JUSTIFY">6. Đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt là cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc các đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, cân nhắc ý thức pháp luật và dư luận xã hội. Hình phạt công bằng là hình phạt tương xứng với các yếu tố được nêu trên.</p>
<b>
<p align="CENTER">III. Nội dung của luận án</p>
<p align="CENTER">Chương I</p>
</b><p align="CENTER">khái niệm nguyên tắc công bằng</p>
<p align="CENTER"> trong luật hình sự </p>
<p align="JUSTIFY"> Trong chương này, tác giả làm sáng tỏ khái niệm công bằng và các mối liên hệ của nó; lập luận công bằng là một nguyên tắc của luật hình sự Việt nam; chỉ ra những hình thức thể hiện của nguyên tắc đó trong luật hình sự.</p>
<b><p align="JUSTIFY"> I. Khái niệm công bằng và các mối liên hệ của nó</p>
</b><p align="JUSTIFY"> - <i>Công bằng là một khái niệm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể, tính giai cấp, tính nhân loại và nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức, tư tưởng, văn hoá, truyền thống và các điều kiện khác quyết định.</i> ở dạng khái quát nhất có thể hiểu công bằng là một phạm trù lịch sử cụ thể, mang tính giai cấp được thể hiện ở các lý luận về triết học, xã hội học, đạo đức, chính trị, kinh tế, pháp lý ghi nhận những quan hệ xã hội nhất định và những qui luật, qui tắc xử sự, hành vi và hành động của con người phù hợp với những quan hệ đó. Phạm trù công bằng được áp dụng để đánh giá, đo lường những hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý khác nhau, thái độ của xã hội đối với cá nhân, của Nhà nước đối với công dân và thái độ của cá nhân, công dân đối với xã hội, Nhà nước; thái độ của người này đối với người khác. Công bằng là sự đánh giá tương xứng giữa giá trị thực tế của những cá nhân khác nhau (các nhóm xã hội, các giai cấp) và địa vị xã hội của họ, giữa lao động và trả công, giữa hành vi và sự đền đáp, giữa công lao và việc thừa nhận nó, giữa phẩm giá của con người và sự thừa nhận của xã hội đối với những phẩm giá đó, giữa quyền và nghĩa vụ, giữa vi phạm pháp luật và trách nhiệm ... Công bằng là một trong nhưng giá trị xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. </p>
<p align="JUSTIFY"> - <i>Công bằng có mối quan hệ chặt chẽ với lợi ích.</i> Trong xã hội có giai cấp mỗi giai cấp có lợi ích riêng của mình, dựa vào chúng giai cấp đó hình thành nên quan niệm của mình về công bằng và bất công. Các quan niệm về công bằng phản ánh các lợi ích của các chủ thể tương ứng. Điều đó được thể hiện ở hai điểm: thứ nhất, lợi ích là điểm xuất phát, là tiền đề của việc đánh giá xuất phát từ quan điểm công bằng; thứ hai, để các hành động, hành vi được đánh giá là công bằng hoặc bất công chúng phải đi qua "lăng kính", "xâm nhập" vào phạm vi của lợi ích, sự khác nhau về lợi ích quyết định sự khác nhau trong quan niệm về công bằng. Sự đa dạng về lợi ích là nguồn gốc của sự đa dạng của những quan niệm về công bằng. Mối quan hệ giữa công bằng và lợi ích được thể hiện rõ nét nhất, bản chất nhất là ở lĩnh vực pháp luật. Pháp luật vừa là lĩnh vực thể hiện lợi ích của giai cấp thống trị, vừa là lĩnh vực thể hiện, ghi nhận các quan niệm và đòi hỏi về công bằng của giai cấp đó.</p>
<p align="JUSTIFY"> - <i>Công bằng và pháp luật là những khái niệm có mối quan hệ biện chứng với nhau.</i> ở bất kỳ một xã hội có giai cấp nào pháp luật bao giờ cũng lấy những quan niệm về công bằng thống trị trong xã hội đó làm cơ sở của mình. Công bằng đã được thừa nhận và bảo đảm về mặt pháp lý tồn tại dưới hình thức các đạo luật và các văn bản qui phạm khác. Pháp luật chỉ thể hiện những đòi hỏi của công bằng phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Trong xã hội ta pháp luật không chỉ thừa nhận ở mức độ nhất định các quan niệm về công bằng, mà còn lập chương trình, định hướng cho sự phát triển những quan niệm đó phù hợp với lợi ích của xã hội.</p>
<b><p align="JUSTIFY"> II. Công bằng - nguyên tắc của luật hình sự </p>
</b><p align="JUSTIFY"> - <i>Công bằng là nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng các mối quan hệ xã hội: </i>Quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa Nhà nước và công dân, giữa các tổ chức xã hội và các thành viên của chúng và giữa các cá nhân với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công bằng thể hiện ở chỗ xã hội cần phải có công dân, công dân cần phải có Nhà nước; các tổ chức xã hội cần phải có thành viên, thành viên cần các tổ chức đó. Đối với mỗi con người công bằng thể hiện nghĩa vụ của người đó trước xã hội, trước Nhà nước, trước các tổ chức xã hội của mình và trước chính bản thân mình. Mặt khác, công bằng đòi hỏi xã hội, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải có nghĩa vụ nhất định trước con người trong việc tạo ra các điều kiện về mọi mặt cho sự phát triển toàn diện của nó.</p>
<p align="JUSTIFY">- <i>Công bằng là nguyên tắc chung của pháp luật, bao quát tất cả "các tầng" của hệ thống pháp luật của thượng tầng pháp lý.</i> Khi nguyên tắc công bằng và các đòi hỏi của nó được ghi nhận và thể hiện trong pháp luật, thì như vậy pháp luật có được đặc tính công bằng. Với tính cách là một nguyên tắc chung của pháp luật, công bằng thể hiện ở việc qui định "phạm vi" pháp lý giống nhau của hành vi và trách nhiệm pháp lý tương ứng đối với các hành vi vi phạm pháp luật; ở việc qui định các quyền và nghĩa vụ giống nhau đối với tất cả các thành viên của xã hội; ở việc qui định các qui phạm loại bỏ các đặc quyền, đặc lợi đối với một số người nhất định; ở việc truy cứu trách nhiệm khi có lỗi; ở việc không thoát khỏi trách nhiệm; ở sự tương xứng của trách nhiệm với hành vi vi phạm pháp luật. </p>
<p align="JUSTIFY">- <i>Công bằng là một nguyên tắc của luật hình sự. </i>Việc thể hiện và thực hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự là một quá trình nhiều mặt và phức tạp, có những cấp độ khác nhau. Công bằng có hai khía cạnh: công bằng ngang nhau và công bằng phân phối. Trong luật hình sự hai khía cạnh đó của công bằng có mối quan hệ chặt chẽ, thâm nhập và chuyển giao lẫn nhau, trong công bằng ngang nhau có công bằng phân phối và trong công bằng phân phối có công bằng ngang nhau.</p>
<p align="JUSTIFY">Với tính cách là nguyên tắc của luật hình sự công bằng có cơ chế tác động và thể hiện của mình thông qua những hình thức (mức độ) nhất định, thông qua những phạm trù, khái niệm, chế định, qui phạm pháp luật hình sự. Cơ chế đó thể hiện ở ba hình thức:1- ý thức pháp luật; 2- Hoạt động luật pháp hình sự (qui phạm pháp luật hình sự); 3- Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (quan hệ pháp luật hình sự). Như vậy, công bằng xuyên suốt thượng tầng pháp lý hình sự: ý thức pháp luật; qui phạm pháp luật hình sự; quan hệ pháp luật hình sự. Ba hình thức nói trên không tách rời, biệt lập nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ, bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống các đòi hỏi của nguyên tắc đó, từ cấp độ chung cho đến những cấp độ cụ thể.</p>
<p align="JUSTIFY">Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt nam là phạm trù pháp lý bao bồm những nguyên lý (đòi hỏi) chung đối với việc qui định: cơ sở của trách nhiệm hình sự; tội phạm và phân loại tội phạm; giới hạn tác động của điều cấm hình sự; hình phạt và hệ thống hình phạt; hệ thống các chế tài; việc định tội danh; việc quyết định hình phạt và một số chế định khác.</p>
<p align="JUSTIFY">- <i>Trong luật hình sự nguyên tắc công bằng có mối liên hệ rất chặt chẽ, hữu cơ với các giá trị, nguyên tắc khác như dân chủ, nhân đạo, bình đẳng pháp chế, chân lý. </i>Giữa các giá trị, nguyên tắc đó có những nội dung, đòi hỏi xâm nhập nhau và ở dạng tổng thể tạo nên cơ sở tư tưởng và nhận thức cho việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật hình sự cũng như việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân.</p>
<i>
</i><b><p align="CENTER">Chương II</p>
</b><p align="CENTER">nguyên tắc công bằng và việc qui định</p>
<p align="CENTER"> tội phạm và hình phạt</p>
<p align="JUSTIFY">Trong chương này, tác giả phân tích những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định tội phạm và hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">I. <b>Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định tội phạm<p>
<p align="JUSTIFY">1. <i>Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự. <p>
</i></b><p align="JUSTIFY">- Đòi hỏi quan trọng nhất của nguyên tắc công bằng được thể hiện trong luật hình sự, bảo đảm quan trọng của pháp chế là <i>nguyên tắc trách nhiệm đối với hành vi</i> (hành động hoặc không hành động). Hành vi ở đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự và có lỗi, tức là hành vi có đầy đủ tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được qui định trong pháp luật hình sự. Lý luận luật hình sự xã hội chủ nghĩa, pháp luật hình sự nước ta khẳng định vai trò đứng đầu của hành vi trước các đặc điểm nhân thân trong việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự. Khi tiếp nhận hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi với tư cách là cơ sở của trách nhiệm hình sự khoa học luật hình sự xây dựng nên cấu thành tội phạm, nơi đó nhân thân chỉ phản ánh bằng một số dấu hiệu hình thức cơ bản: năng lực trách nhiệm và lứa tuổi. Như vậy, cơ sở thống nhất, duy nhất tức là công bằng của trách nhiệm hình sự là hành vi có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được pháp luật hình sự quy định, còn việc cân nhắc các đặc điểm của nhân thân chỉ giúp cho việc cá thể hoá trách nhiệm. Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề này, tác giả đưa ra kiến nghị và phương án về việc hoàn thiện điều luật quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta.</p>
<b><i><p align="JUSTIFY">2. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định tội phạm và phân loại tội phạm</p>
</i></b><p align="JUSTIFY">- Đòi hỏi quan trọng của công bằng đối với việc quy định tội phạm là <i>xác định rõ giới hạn giữa hành vi coi là tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác.</i> Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu vật chất tổng hợp của mọi hành vi trái pháp luật, là thuộc tính khác quan của nó. Tiêu chuẩn cơ bản của việc phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác là <i>mức độ</i> của tính nguy hiểm cho xã hội của các loại vi phạm pháp luật đó.</p>
<p align="JUSTIFY">- Trong lĩnh vực pháp luật hình sự nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải thực hiện nhất quán <i>quan điểm phân hoá trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và những người thực hiện chúng.</i> Việc phân hoá trách nhiệm hình sự thể hiện rõ nét nhất ở việc phân loại đúng các tội phạm và quy định cụ thể các hậu quả pháp lý tương ứng đối với từng loại đó trong pháp luật. Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là cơ sở cơ bản của việc phân loại tội phạm.</p>
<p align="JUSTIFY">- Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện trong luật thông qua những chỉ số (đơn vị) đo lường thống nhất, đơn vị đo lường đó chính là hình phạt. Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ở hình thức ngắn gọn và tập trung nhất được thể hiện ở <i>mức độ hình phạt</i> được qui định ở chế tài của qui phạm đối với việc thực hiện tội phạm. Như vậy, <i>mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện thông qua đại lượng đo lường - chế tài là cơ sở để phân các tội phạm thành các phạm trù (loại) khác nhau.<p>
</i><p align="JUSTIFY">- Tác giả cho rằng nên phân các tội phạm thành 4 loại: 1) các tội không nguy hiểm lớn cho xã hội; 2) hành vi đó có tính phổ biến tương đối; 3) việc cấm hành vi đó phải phù hợp với các quan niệm đạo đức của nhân dân và loại trừ được việc gây ra những hậu quả xã hội tiêu cực tương tự; 4) hành vi đó phải được chứng minh về mặt tố tụng hình sự; 5) điều cấm của pháp luật hình sự không được mâu thuẫn với các ngành pháp luật khác và các công ước quốc tế.</p>
<p align="JUSTIFY">- Khi phi tội phạm hoá một hành vi trước đây bị coi là tội phạm cần dựa vào những cơ sở sau: 1) hiện nay hành vi đó có mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn; 2) hành vi đó có mức độ bị kết án không lớn về đạo đức; 3) các qui định về trách nhiệm đối với việc thực hiện hành vi đó được áp dụng rất ít trong thực tiễn; 4) xã hội có những biện pháp khác có thể đấu tranh có hiệu quả hơn với các hành vi đó - các biện pháp tác động hành chính, kỷ luật, vật chất hoặc giáo dục.</p>
<p align="JUSTIFY">- Nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải xây dựng được những cấu thành tội phạm <i>chính xác, cụ thể, rõ ràng, có sự phân hoá cao. Vì rằng công bằng đòi hỏi phải có những phạm vi, thước đo </i>chung chính xác, rõ ràng, cụ thể để áp dụng đối với những phạm trù hành vi nhất định. Cấu thành tội phạm được diễn đạt, xây dựng một cách cụ thể, rõ ràng, chính xác sẽ bảo đảm được tính ổn định của hoạt động áp dụng pháp luật, bảo đảm được tính ổn định của bản án.</p>
<p align="JUSTIFY">- Để bảo đảm cho việc xây dựng được các cấu thành tội phạm đáp ứng được các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng cần phải sử dụng <i>những thuật ngữ bảo đảm được tính xác định, nhất quán, thống nhất, chính xác và đồng nghĩa về nội dung mà thuật ngữ đó thể hiện.</i> Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả cho rằng cần hoàn thiện các thuật ngữ, khái niệm đánh giá theo hướng cụ thể hoá bằng số lượng và con số cụ thể hoặc đưa ra những tiêu chuẩn chung để đánh giá các thuật ngữ, khái niệm đó.</p>
<p align="JUSTIFY">Như vậy, đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc xác định rõ giới hạn tác động của điều cấm hình sự là: xác định rõ nhóm hành vi bị coi là tội phạm và nhóm hành vi không bị coi là tội phạm; cách thức xây dựng các cấu thành tội phạm trong phần các tội phạm; các cấu thành tội phạm phải được xây dựng rõ ràng, chính xác, cụ thể; các thuật ngữ, khái niệm được sử dụng phải bảo đảm tính xác định, thống nhất, nhất quán, đồng nghĩa cả về nội dung lẫn sự thể hiện làm cho pháp luật hình sự thực sự trở thành thước đo chung giống nhau.</p>
<b><p align="JUSTIFY">II. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hình phạt</p>
<i><p align="JUSTIFY">1. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hình phạt và hệ thống hình phạt</p>
</i></b><p align="JUSTIFY">- Vì trong việc xác định và đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phải bảo đảm các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, cho nên trong việc chuẩn bị các biện pháp hình sự đấu tranh với các hành vi đó cũng phải bảo đảm các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng.</p>
<p align="JUSTIFY">- Biện pháp trách nhiệm hình sự (hình phạt) phải được qui định tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Để đạt được sự tương xứng giữa tội phạm và trách nhiệm cần phải có những tiêu chuẩn bao gồm những đặc điểm về chất và lượng cho phép, nếu như không đo lường được, thì cũng so sánh được tội phạm và hình phạt. Từ quan điểm công bằng đối với những tội phạm khác nhau cần phải có những dạng trách nhiệm (loại và mức hình phạt) khác nhau phù hợp với mức độ nguy hiểm của các tội phạm.</p>
<p align="JUSTIFY">- Công bằng đòi hỏi phải có sự kết hợp yếu tố trừng trị (cưỡng chế) và yếu tố giáo dục, cải tạo (thuyết phục) ở những mức độ, liều lượng khác nhau khi qui định các hình phạt khác nhau đối với những tội phạm có những mức độ nguy hiểm khác nhau đối với xã hội. Việc giải quyết mối tương quan và sự kết hợp sự cưỡng chế và thuyết phục trong từng hình phạt tuỳ thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể trong đó hình phạt được áp dụng.</p>
<p align="JUSTIFY">- Hệ thống hình phạt công bằng là: 1) hệ thống có các thang bậc (mức độ) nghiêm khắc (loại và mức hình phạt) tương xứng với các thang bậc (mức độ) nghiêm trọng của các loại phạm trù (loại) tội phạm; 2) hệ thống trong đó các hình phạt phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo sự sắp xếp của việc phân loại tội phạm; 3) hệ thống trong đó các hình phạt thể hiện được sự cân đối nhất định, các hình phạt kế tiếp nhau, xét về bản chất, nội dung, hình thức, điều kiện áp dụng không khác biệt nhau quá lớn; 4) hệ thống trong đó có việc qui định rõ loại hình phạt nào được áp dụng đối với loại (phạm trù) tội phạm nào, đối với những người phạm tội nào và loại nào không được áp dụng đối với ai, đối với tội phạm nào; 5) hệ thống trong đó mỗi hình phạt được qui định rõ ràng, cụ thể, chính xác về nội dung và điều kiện áp dụng nó; 6) hệ thống qui định rõ giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa của từng loại hình phạt trong một sự tương xứng chung; 7) hệ thống trong đó các hình phạt được qui định ở phần các tội phạm cụ thể phải có một sự tương xứng, haì hoà nhất định; 8) hệ thống trong đó các hình phạt được qui định ở phần chung và các hình phạt được qui định đối với những phạm trù (loại) tội phạm khác nhau cần phải tuân theo một tỷ lệ tương xứng nhất định, đối với các loại tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cần áp dụng các hình phạt nghiêm khắc nhất, đối với các tội ít nghiêm trọng và không nguy hiểm lớn cho xã hội thì áp dụng các hình phạt ít nghiêm khắc hơn.</p>
<p align="JUSTIFY">- Trên cơ sở nghiên cứu tác giả cho rằng việc hoàn thiện hệ thống hình phạt nước ta cần được tiến hành theo hướng tăng cường vai trò của các hình phạt không phải từ cả về mặt pháp luật lẫn về mặt áp dụng trong thực tiễn.</p>
<b><i>
<p align="JUSTIFY">2. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hệ thống chế tài ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự</p>
</i></b><p align="JUSTIFY">- Một hệ thống các chế tài công bằng được quy định đối với các tội phạm cụ thể ở phần các tội phạm cụ thể là cơ sở pháp luật, là tiền đề quan trọng để Tòa án quyết định những hình phạt công bằng đối với những tội phạm đã thực hiện.</p>
<p align="JUSTIFY">Công bằng đòi hỏi khi xây dựng hệ thống các chế tài ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự phải bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa mức độ nghiêm trọng của tội phạm và mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quy định đối với nó. Muốn vậy, khi xây dựng chế tài cần dựa vào: 1) tầm quan trọng, giá trị, ý nghĩa của các quan hệ xã hội bị tội phạm được mô tả trong luật xâm hại hoặc sẽ bị xâm hại; 2) tính chất của hành vi, các biện pháp, phương thức thực hiện hành vi đó, hậu quả về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức ... 3) hình thức lỗi, mức độ lỗi, động cơ, mục đích; 4) năng lực trách nhiệm hình sự, lứa tuổi, một số đặc điểm của người phạm tội.</p>
<p align="JUSTIFY">- Chế tài được xây dựng phù hợp với các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng là chế tài bảo đảm được quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự bằng cách quy định những chế tài khác nhau về mức độ nghiêm khắc với việc cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, lẫn những tình tiết định khung tăng nặng và định khung giảm nhẹ đặc trưng đối với những tội phạm khác nhau, các đặc điểm nhân thân của một số người phạm tội tương ứng.</p>
<p align="JUSTIFY">- Chế tài có thể coi là công bằng là chế tài phải cân xứng với các chế tài quy định đối với việc thực hiện các tội phạm khác. Tính cân xứng của các chế tài được quy định đối với các loại tội phạm khác nhau thể hiện ở những điểm sau: 1) đối với các tội phạm cùng loại, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau thì phải quy định các chế tài có mức độ nghiêm khắc giống nhau; 2) đối với các loại tội phạm khác loại, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì phải quy định các chế tài có mức độ nghiêm khắc khác nhau; 3) các chế tài được quy định đối với những tội phạm có mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội phải bảo đảm sự cân xứng nhất định và theo một mức độ nghiêm khắc kế tiếp nhau nhất định; 4) các chế tài được quy định ở khung cơ bản, ở khung tăng nặng và khung giảm nhẹ phải bảo đảm các khung hình phạt có gối đầu kế tiếp nhau.</p>
<p align="JUSTIFY">- Chế tài công bằng là chế tài tạo cho Toà án khả năng cá thể hoá hình phạt với việc cân nhắc tất cả các khả năng có thể có của việc thực hiện tội phạm trong hiện thực khách quan. Để đáp ứng đòi hỏi trên các chế tài trong Bộ luật hình sự nước ta được quy định theo kiểu: 1) xác định tương đối; và 2) tuỳ nghi, lựa chọn, có thể. Việc quy định như vậy mà nhằm tạo điều kiện cho Toà án áp dụng các biện pháp trách nhiệm được công bằng, hợp lý nhất, nhưng vẫn bảo đảm được sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa.</p>
<p align="JUSTIFY">- Tác giả đã phân tích việc quy định hệ thống các chế tài trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự và đi đến kết luận rằng hệ thống các chế tài đó, về cơ bản đáp ứng được các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, nhưng vẫn chưa bảo đảm được tư tưởng phân hoá trách nhiệm hình sự. Do vậy, <i>các chế tài quy định đối với các tội phạm cụ thể cần được hoàn thiện theo hướng bảo đảm sự phân hoá cao bằng cách thu hẹp giới hạn (khung) của các chế tài xác định tương đối và tăng cường chế tài tuỳ nghi lựa chọn giữa các hình phạt không phải tù.<p>
</i><p align="JUSTIFY">- Nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải giải quyết tốt mối tương quan giữa giới hạn của luật và giới hạn của sự phán xét độc lập tương đối của Toà án. Trong việc điều chỉnh pháp luật cần phải kết hợp nhân tố quy phạm và nhân tố cá nhân: nhân tố cá nhân là cơ bản, xuất phát, hàng đầu; nhân tố thứ hai là thứ yếu tuỳ thuộc vào nhân tố thứ nhất. Sự tự do phán xét của Toà án là phạm trù tương đối, còn đạo luật là cái thứ nhất và là tuyệt đối. Cho nên, sự phán xét của Toà án là thẩm quyền do luật định và được thực hiện trong giới hạn luật.</p>
<p align="JUSTIFY">Như vậy, các chế tài hình sự được coi là công bằng là những chế tài đáp ứng được các đòi hỏi sau: 1) mức độ nghiêm khắc của chế tài (loại, khung) phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm; 2) các chế tài phải được xây dựng theo sự phân hoá của các loại tội phạm; 3) các chế tài được quy định đối với các loại tội phạm khác nhau phải bảo đảm sự cân xứng nhất định; 4) các chế tài phải tạo ra khả năng hợp lý cho Toà án cân nhắc tất cả những tình tiết khách quan và chủ quan xảy ra trong thực tế.</p>
<b><p align="CENTER">Chương III</p>
</b><p align="CENTER">nguyên tắc công bằng và việc quyết định hình phạt</p>
<i><p align="JUSTIFY"> </i>Trong chương này tác giả phân tích hai vấn đề quan trọng của việc áp dụng pháp luật hình sự là định tội danh và quyết định hình phạt đối với việc thực hiện tội phạm.</p>
<b><p align="JUSTIFY">I. Định tội danh đúng - tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng .</p>
</b><p align="JUSTIFY">- Nguyên tắc công bằng không chỉ xuyên suốt hoạt động lập pháp hình sự, mà còn xuyên suốt trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, đặc biệt trong việc định tội danh hành vi nguy hiểm cho xã hội và việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội. ở đây công bằng liên hệ chặt chẽ với việc áp dụng có căn cứ và đúng pháp luật, với việc tuân thủ chính xác và nhất quán các quy định của pháp luật, với việc xác định được chân lý khách quan của vụ án hình sự.</p>
<p align="JUSTIFY">- Trong lĩnh vực hình sự việc tuân thủ nghiêm túc các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đã được thể hiện trong đạo luật ở một mức độ rất lớn gắn chặt với việc định tội danh đúng các tội phạm đã thực hiện. Nếu coi Đạo luật hình sự là một trong những biểu hiện của các quan niệm về công bằng được thừa nhận trong xã hội, rằng việc thực hiện tội phạm là những biểu hiện cụ thể của sự bất công, là bất công thì dễ nhìn thấy rằng đòi hỏi của nguyên tắc công bằng biểu hiện ở việc định tội danh là ở chỗ xác định sự phù hợp của hành vi nguy hiểm cụ thể cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này hay cấu thành tội phạm khác đã được Luật hình sự quy định.</p>
<p align="JUSTIFY">- Đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc định tội danh là việc định tội danh phải đúng, chính xác, đầy đủ.</p>
<p align="JUSTIFY">- Định tội danh <i>đúng</i> tức là đánh giá đúng bản chất chính trị - xã hội và pháp lý của tội phạm đã thực hiện, xác định được sự phù hợp của hành vi phạm tội đã được thực hiện với các dấu hiệu được chỉ ra trong luật mô tả ở dạng khái quát hành vi đó. Định tội danh đúng có nghĩa là tuân thủ chính xác các quy định của đạo luật hình sự, áp dụng điều luật, khoản và điểm của điều luật hoặc tổng hợp các điều luật bao quát được hành vi phạm tội đã thực hiện. Việc định tội danh <i>chính xác</i> cần phải có việc viện dẫn đến điều luật cụ thể ở phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, còn điều luật bao gồm nhiều khoản, nhiều điểm thì phải chỉ rõ khoản, điểm tương ứng của điều luật đó.</p>
<p align="JUSTIFY">- Định tội danh đầy đủ có nghĩa là trong thực tế có bao nhiêu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện do các điều luật của Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì phải được định bấy nhiêu tội danh, dù cho trong đó có hành vi nào đó theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của mình khác biệt rất lớn với hành vi khác.</p>
<p align="JUSTIFY">- Định tội danh là quá trình xác định chân lý khách quan. Để việc định tội danh đạt được chân lý khách quan, sự nhận thức của điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán phải bao quát đầy đủ, chính xác, khách quan ba loại yếu tố sau: 1) nhận thức và hiểu biết về các tình tiết thực tế của vụ án; 2) nhận thức và hiểu biết về nội dung của quy phạm pháp luật hình sự; 3) nhận thức và quan niệm về mối tương quan giữa các dấu hiệu thực tế của hành vi và các dấu hiệu được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.</p>
<p align="JUSTIFY">- Định tội danh là một quá trình, là hoạt động nghiệp vụ pháp lý phức tạp bao gồm các giai đoạn nhất định. Giai đoạn thứ nhất có nhiệm vụ làm sáng tỏ hành vi cụ thể đã thực hiện có dấu hiệu của tội phạm hay không. Giai đoạn thứ hai làm sáng tỏ các dấu hiệu loại của hành vi phạm tội, tức là làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó thuộc loại tội nào trong Bộ luật Hình sự. Giai đoạn thứ ba là làm sáng tỏ và so sánh các dấu hiệu loại của tội phạm và chỉ rõ cấu thành tội phạm cụ thể nào được áp dụng. </p>
<p align="JUSTIFY">- Như vậy, định tội danh là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, có ý nghĩa lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật. Định tội danh phải dựa vào các tình tiết cụ thể của vụ án và vào các quy định của pháp luật hình sự; được tiến hành theo những giai đoạn nhất định, là sự tìm kiếm chân lý khách quan. <i>Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng.<p>
</i><b><p align="JUSTIFY">II. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt</p>
</b><p align="JUSTIFY">- Quyết định hình phạt là một giai đoạn, nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử. Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng đối với tội phạm đã thực hiện là tiền đề; điều kiện để đạt được các mục đích của hình phạt; nghĩa là mới có khả năng cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, mới có tác dụng phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, với dư luận, với ý thức pháp luật. Hình phạt được tuyên đối với bị cáo phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.</p>
<p align="JUSTIFY">- Khi quyết định hình phạt để bảo đảm sự tương xứng nói trên, trước hết Toà án phải cân nhắc <i>tính chất và mức độ</i> nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Tính chất nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính khách quan của tội phạm được quyết định bởi ý nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội do tội phạm đó xâm hại, các dấu hiệu về mặt khách quan, về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm.</p>
<p align="JUSTIFY">- Khi xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể đã thực hiện phải xuất phát từ tổng thể các tình tiết mà ở đó tội phạm cụ thể đã được thực hiện. Các tình tiết (dấu hiệu) thuộc mặt khách quan và chủ quan ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và do đó ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt. Đó là các tình tiết như: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, hậu quả, phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm; các hình thức, loại và mức độ của lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm.</p>
<p align="JUSTIFY">Trong những trường hợp những dấu hiệu đó được nhà làm luật quy định là những dấu hiệu bắt buộc cuả cấu thành tội phạm thì chúng có vai trò quyết định trong việc định tội danh và ở mức độ nhất định nào đó cũng ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt. Trong những trường hợp những dấu hiệu đó không phải là những dấu hiệu bắt buộc của tội phạm thì chúng không có ý nghĩa đối với việc định tội danh, nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với việc quyết định hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">- Để có căn cứ đầy đủ cho việc quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng phù hợp với tội phạm đã thực hiện, ngoài việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện Toà án phải cân nhắc <i>thân nhân người phạm tội.<p>
</i><p align="JUSTIFY">Những đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội được Toà án nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá dưới hai khía cạnh: khía cạnh pháp lý hình sự và khía cạnh tội phạm học. Việc nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá nhân thân người phạm tội dưới khía cạnh pháp lý hình sự là nhằm làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa trực tiếp đối với việc quyết định hình phạt. Việc nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá nhân thân người phạm tội dưới khía cạnh tội phạm học được tiến hành nhằm mục đích làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các điều kiện hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, trình độ văn hoá, các mối quan hệ nói lên mặt tốt, mặt xấu của người phạm tội.</p>
<p align="JUSTIFY">Khi nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá các đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội, một mặt không nên trừu tượng hoá và tách rời chúng khỏi tội phạm do người đó thực hiện. Điều đó nói lên mối liên hệ biện chứng giữa cái khách quan - tội phạm đã thực hiện và cái chủ quan - các đặc điểm, đặc tính thuộc nhân thân người phạm tội. Khi cân nhắc hai căn cứ đó trong mọi trường hợp Toà án phải coi trọng và lấy căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện làm căn cứ hàng đầu, quan trọng và quyết định. Bởi vì tội phạm đã thực hiện là thước đo khách quan duy nhất của trách nhiệm hình sự, của việc quyết định hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">Các đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội cụ thể bao giờ cũng có nội dung cụ thể. Bởi vậy, trong từng vụ án cụ thể Toà án phải xác định và chỉ rõ những tình tiết cụ thể chứng minh mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội, bao gồm cả các đặc điểm xấu lẫn các đặc điểm tốt của người đó để quyết định hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">- Khi quyết định hình phạt Toà án còn phải cân nhắc <i>các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.</i> Bởi vì, cân nhắc các tình tiết đó là một trong những căn cứ của việc quyết định hình phạt công bằng, là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hoá hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với quyết định hình phạt tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể, vào từng người phạm tội cụ thể. Bởi vậy, toà án có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong từng vụ án cụ thể.</p>
<p align="JUSTIFY">Việc đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cần phải dựa vào quan điểm toàn diện, đầy đủ trong một tổng thể thống nhất. Việc đánh giá, cân nhắc như vậy là phương pháp tốt nhất để xác định "trọng lượng" , "ý nghĩa" của các tình tiết đối lập nhau đối với việc quyết định hình phạt.</p>
<p align="JUSTIFY">Khi đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự toà án phải ghi cụ thể trong bản án những tình tiết nào được coi là tình tiết giảm nhẹ, những tình tiết nào được cân nhắc với ý nghĩa tăng nặng. Việc chỉ ra một cách cụ thể các tình tiết đó làm cho hình phạt được tuyên có sức thuyết phục, tạo điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo người phạm tội.</p>
<p align="JUSTIFY">Việc cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong luật không phải là quyền mà là nghĩa vụ của toà án.</p>
<p align="JUSTIFY">- <i>ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và niềm tin nội tâm</i> của thẩm phán và hội thẩm nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt công bằng. Bởi lẽ, trong mọi trường hợp, khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo, thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải dựa vào ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm của mình.</p>
<p align="JUSTIFY">Như vậy, đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt là: hình phạt được tuyên đối với bị cáo phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội, hình phạt được tuyên phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do. Để làm căn cứ cho việc quyết định một hình phạt công bằng Toà án cần phải cân nhắc tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.</p> </div> </td>
TLNoiDungNghienCuu:
TLNoiLuuTru:
Trung tâm Thông tin thư viện, Viện Khoa học pháp lý
TLPhuongPhapNC:
<td></td> <td> <div> <div align="justify"></div> </div> </td>
TLSoLanDoc:
1,648
TLSoLanDownload:
0
TLSoLuong:
0
TLTinhCapThiet:
<td width="12"></td> <td> <div> <div align="justify"></div> </div> </td>
TLTrangThaiXuatBan:
1
TLTuKhoa:
EnableView:
No
NoiDungToanVan:
<div align="justify" style="line-height:150%;">
<p>
<strong> </strong><strong>Chương I. K</strong><strong>hái niệm nguyên tắc công bằng trong luật hình sự</strong></p>
<p>
Trong chương này, tác giả làm sáng tỏ khái niệm công bằng và các mối liên hệ của nó; lập luận công bằng là một nguyên tắc của luật hình sự Việt nam; chỉ ra những hình thức thể hiện của nguyên tắc đó trong luật hình sự.</p>
<p>
<strong>1. Khái niệm công bằng và các mối liên hệ của nó</strong></p>
<p>
- <em>Công bằng là một khái niệm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể, tính giai cấp, tính nhân loại và nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, đạo đức, tư tưởng, văn hoá, truyền thống và các điều kiện khác quyết định.</em> ở dạng khái quát nhất có thể hiểu công bằng là một phạm trù lịch sử cụ thể, mang tính giai cấp được thể hiện ở các lý luận về triết học, xã hội học, đạo đức, chính trị, kinh tế, pháp lý ghi nhận những quan hệ xã hội nhất định và những qui luật, qui tắc xử sự, hành vi và hành động của con người phù hợp với những quan hệ đó. Phạm trù công bằng được áp dụng để đánh giá, đo lường những hiện tượng kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý khác nhau, thái độ của xã hội đối với cá nhân, của Nhà nước đối với công dân và thái độ của cá nhân, công dân đối với xã hội, Nhà nước; thái độ của người này đối với người khác. Công bằng là sự đánh giá tương xứng giữa giá trị thực tế của những cá nhân khác nhau (các nhóm xã hội, các giai cấp) và địa vị xã hội của họ, giữa lao động và trả công, giữa hành vi và sự đền đáp, giữa công lao và việc thừa nhận nó, giữa phẩm giá của con người và sự thừa nhận của xã hội đối với những phẩm giá đó, giữa quyền và nghĩa vụ, giữa vi phạm pháp luật và trách nhiệm ... Công bằng là một trong nhưng giá trị xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.</p>
<p>
- <em>Công bằng có mối quan hệ chặt chẽ với lợi ích.</em> Trong xã hội có giai cấp mỗi giai cấp có lợi ích riêng của mình, dựa vào chúng giai cấp đó hình thành nên quan niệm của mình về công bằng và bất công. Các quan niệm về công bằng phản ánh các lợi ích của các chủ thể tương ứng. Điều đó được thể hiện ở hai điểm: thứ nhất, lợi ích là điểm xuất phát, là tiền đề của việc đánh giá xuất phát từ quan điểm công bằng; thứ hai, để các hành động, hành vi được đánh giá là công bằng hoặc bất công chúng phải đi qua "lăng kính", "xâm nhập" vào phạm vi của lợi ích, sự khác nhau về lợi ích quyết định sự khác nhau trong quan niệm về công bằng. Sự đa dạng về lợi ích là nguồn gốc của sự đa dạng của những quan niệm về công bằng. Mối quan hệ giữa công bằng và lợi ích được thể hiện rõ nét nhất, bản chất nhất là ở lĩnh vực pháp luật. Pháp luật vừa là lĩnh vực thể hiện lợi ích của giai cấp thống trị, vừa là lĩnh vực thể hiện, ghi nhận các quan niệm và đòi hỏi về công bằng của giai cấp đó.</p>
<p>
- <em>Công bằng và pháp luật là những khái niệm có mối quan hệ biện chứng với nhau.</em> ở bất kỳ một xã hội có giai cấp nào pháp luật bao giờ cũng lấy những quan niệm về công bằng thống trị trong xã hội đó làm cơ sở của mình. Công bằng đã được thừa nhận và bảo đảm về mặt pháp lý tồn tại dưới hình thức các đạo luật và các văn bản qui phạm khác. Pháp luật chỉ thể hiện những đòi hỏi của công bằng phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Trong xã hội ta pháp luật không chỉ thừa nhận ở mức độ nhất định các quan niệm về công bằng, mà còn lập chương trình, định hướng cho sự phát triển những quan niệm đó phù hợp với lợi ích của xã hội.</p>
<p>
<strong>2. Công bằng - nguyên tắc của luật hình sự</strong></p>
<p>
- <em>Công bằng là nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng các mối quan hệ xã hội: </em>Quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa Nhà nước và công dân, giữa các tổ chức xã hội và các thành viên của chúng và giữa các cá nhân với nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Công bằng thể hiện ở chỗ xã hội cần phải có công dân, công dân cần phải có Nhà nước; các tổ chức xã hội cần phải có thành viên, thành viên cần các tổ chức đó. Đối với mỗi con người công bằng thể hiện nghĩa vụ của người đó trước xã hội, trước Nhà nước, trước các tổ chức xã hội của mình và trước chính bản thân mình. Mặt khác, công bằng đòi hỏi xã hội, Nhà nước và các tổ chức xã hội phải có nghĩa vụ nhất định trước con người trong việc tạo ra các điều kiện về mọi mặt cho sự phát triển toàn diện của nó.</p>
<p>
- <em>Công bằng là nguyên tắc chung của pháp luật, bao quát tất cả "các tầng" của hệ thống pháp luật của thượng tầng pháp lý.</em> Khi nguyên tắc công bằng và các đòi hỏi của nó được ghi nhận và thể hiện trong pháp luật, thì như vậy pháp luật có được đặc tính công bằng. Với tính cách là một nguyên tắc chung của pháp luật, công bằng thể hiện ở việc qui định "phạm vi" pháp lý giống nhau của hành vi và trách nhiệm pháp lý tương ứng đối với các hành vi vi phạm pháp luật; ở việc qui định các quyền và nghĩa vụ giống nhau đối với tất cả các thành viên của xã hội; ở việc qui định các qui phạm loại bỏ các đặc quyền, đặc lợi đối với một số người nhất định; ở việc truy cứu trách nhiệm khi có lỗi; ở việc không thoát khỏi trách nhiệm; ở sự tương xứng của trách nhiệm với hành vi vi phạm pháp luật.</p>
<p>
- <em>Công bằng là một nguyên tắc của luật hình sự. </em>Việc thể hiện và thực hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự là một quá trình nhiều mặt và phức tạp, có những cấp độ khác nhau. Công bằng có hai khía cạnh: công bằng ngang nhau và công bằng phân phối. Trong luật hình sự hai khía cạnh đó của công bằng có mối quan hệ chặt chẽ, thâm nhập và chuyển giao lẫn nhau, trong công bằng ngang nhau có công bằng phân phối và trong công bằng phân phối có công bằng ngang nhau.</p>
<p>
Với tính cách là nguyên tắc của luật hình sự công bằng có cơ chế tác động và thể hiện của mình thông qua những hình thức (mức độ) nhất định, thông qua những phạm trù, khái niệm, chế định, qui phạm pháp luật hình sự. Cơ chế đó thể hiện ở ba hình thức:1- ý thức pháp luật; 2- Hoạt động luật pháp hình sự (qui phạm pháp luật hình sự); 3- Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (quan hệ pháp luật hình sự). Như vậy, công bằng xuyên suốt thượng tầng pháp lý hình sự: ý thức pháp luật; qui phạm pháp luật hình sự; quan hệ pháp luật hình sự. Ba hình thức nói trên không tách rời, biệt lập nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ, bổ sung cho nhau tạo thành một hệ thống các đòi hỏi của nguyên tắc đó, từ cấp độ chung cho đến những cấp độ cụ thể.</p>
<p>
Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt nam là phạm trù pháp lý bao bồm những nguyên lý (đòi hỏi) chung đối với việc qui định: cơ sở của trách nhiệm hình sự; tội phạm và phân loại tội phạm; giới hạn tác động của điều cấm hình sự; hình phạt và hệ thống hình phạt; hệ thống các chế tài; việc định tội danh; việc quyết định hình phạt và một số chế định khác.</p>
<p>
- <em>Trong luật hình sự nguyên tắc công bằng có mối liên hệ rất chặt chẽ, hữu cơ với các giá trị, nguyên tắc khác như dân chủ, nhân đạo, bình đẳng pháp chế, chân lý. </em>Giữa các giá trị, nguyên tắc đó có những nội dung, đòi hỏi xâm nhập nhau và ở dạng tổng thể tạo nên cơ sở tư tưởng và nhận thức cho việc xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật hình sự cũng như việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân.</p>
<p>
<strong>Chương II. N</strong><strong>guyên tắc công bằng và việc qui định tội phạm và hình phạt</strong></p>
<p>
Trong chương này, tác giả phân tích những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định tội phạm và hình phạt.</p>
<p>
I. <strong>Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định tội phạm</strong></p>
<p>
<strong>1. <em>Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự.</em></strong></p>
<p>
- Đòi hỏi quan trọng nhất của nguyên tắc công bằng được thể hiện trong luật hình sự, bảo đảm quan trọng của pháp chế là <em>nguyên tắc trách nhiệm đối với hành vi</em> (hành động hoặc không hành động). Hành vi ở đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự và có lỗi, tức là hành vi có đầy đủ tất cả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được qui định trong pháp luật hình sự. Lý luận luật hình sự xã hội chủ nghĩa, pháp luật hình sự nước ta khẳng định vai trò đứng đầu của hành vi trước các đặc điểm nhân thân trong việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự. Khi tiếp nhận hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có lỗi với tư cách là cơ sở của trách nhiệm hình sự khoa học luật hình sự xây dựng nên cấu thành tội phạm, nơi đó nhân thân chỉ phản ánh bằng một số dấu hiệu hình thức cơ bản: năng lực trách nhiệm và lứa tuổi. Như vậy, cơ sở thống nhất, duy nhất tức là công bằng của trách nhiệm hình sự là hành vi có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được pháp luật hình sự quy định, còn việc cân nhắc các đặc điểm của nhân thân chỉ giúp cho việc cá thể hoá trách nhiệm. Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề này, tác giả đưa ra kiến nghị và phương án về việc hoàn thiện điều luật quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta.</p>
<p>
<strong><em>2. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định tội phạm và phân loại tội phạm</em></strong></p>
<p>
- Đòi hỏi quan trọng của công bằng đối với việc quy định tội phạm là <em>xác định rõ giới hạn giữa hành vi coi là tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác.</em> Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu vật chất tổng hợp của mọi hành vi trái pháp luật, là thuộc tính khác quan của nó. Tiêu chuẩn cơ bản của việc phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác là <em>mức độ</em> của tính nguy hiểm cho xã hội của các loại vi phạm pháp luật đó.</p>
<p>
- Trong lĩnh vực pháp luật hình sự nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải thực hiện nhất quán <em>quan điểm phân hoá trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và những người thực hiện chúng.</em> Việc phân hoá trách nhiệm hình sự thể hiện rõ nét nhất ở việc phân loại đúng các tội phạm và quy định cụ thể các hậu quả pháp lý tương ứng đối với từng loại đó trong pháp luật. Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là cơ sở cơ bản của việc phân loại tội phạm.</p>
<p>
- Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện trong luật thông qua những chỉ số (đơn vị) đo lường thống nhất, đơn vị đo lường đó chính là hình phạt. Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ở hình thức ngắn gọn và tập trung nhất được thể hiện ở <em>mức độ hình phạt</em> được qui định ở chế tài của qui phạm đối với việc thực hiện tội phạm. Như vậy, <em>mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện thông qua đại lượng đo lường - chế tài là cơ sở để phân các tội phạm thành các phạm trù (loại) khác nhau.</em></p>
<p>
- Tác giả cho rằng nên phân các tội phạm thành 4 loại: 1) các tội không nguy hiểm lớn cho xã hội; 2) hành vi đó có tính phổ biến tương đối; 3) việc cấm hành vi đó phải phù hợp với các quan niệm đạo đức của nhân dân và loại trừ được việc gây ra những hậu quả xã hội tiêu cực tương tự; 4) hành vi đó phải được chứng minh về mặt tố tụng hình sự; 5) điều cấm của pháp luật hình sự không được mâu thuẫn với các ngành pháp luật khác và các công ước quốc tế.</p>
<p>
- Khi phi tội phạm hoá một hành vi trước đây bị coi là tội phạm cần dựa vào những cơ sở sau: 1) hiện nay hành vi đó có mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn; 2) hành vi đó có mức độ bị kết án không lớn về đạo đức; 3) các qui định về trách nhiệm đối với việc thực hiện hành vi đó được áp dụng rất ít trong thực tiễn; 4) xã hội có những biện pháp khác có thể đấu tranh có hiệu quả hơn với các hành vi đó - các biện pháp tác động hành chính, kỷ luật, vật chất hoặc giáo dục.</p>
<p>
- Nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải xây dựng được những cấu thành tội phạm <em>chính xác, cụ thể, rõ ràng, có sự phân hoá cao. Vì rằng công bằng đòi hỏi phải có những phạm vi, thước đo </em>chung chính xác, rõ ràng, cụ thể để áp dụng đối với những phạm trù hành vi nhất định. Cấu thành tội phạm được diễn đạt, xây dựng một cách cụ thể, rõ ràng, chính xác sẽ bảo đảm được tính ổn định của hoạt động áp dụng pháp luật, bảo đảm được tính ổn định của bản án.</p>
<p>
- Để bảo đảm cho việc xây dựng được các cấu thành tội phạm đáp ứng được các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng cần phải sử dụng <em>những thuật ngữ bảo đảm được tính xác định, nhất quán, thống nhất, chính xác và đồng nghĩa về nội dung mà thuật ngữ đó thể hiện.</em> Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả cho rằng cần hoàn thiện các thuật ngữ, khái niệm đánh giá theo hướng cụ thể hoá bằng số lượng và con số cụ thể hoặc đưa ra những tiêu chuẩn chung để đánh giá các thuật ngữ, khái niệm đó.</p>
<p>
Như vậy, đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc xác định rõ giới hạn tác động của điều cấm hình sự là: xác định rõ nhóm hành vi bị coi là tội phạm và nhóm hành vi không bị coi là tội phạm; cách thức xây dựng các cấu thành tội phạm trong phần các tội phạm; các cấu thành tội phạm phải được xây dựng rõ ràng, chính xác, cụ thể; các thuật ngữ, khái niệm được sử dụng phải bảo đảm tính xác định, thống nhất, nhất quán, đồng nghĩa cả về nội dung lẫn sự thể hiện làm cho pháp luật hình sự thực sự trở thành thước đo chung giống nhau.</p>
<p>
<strong>II. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hình phạt</strong></p>
<p>
<strong><em>1. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hình phạt và hệ thống hình phạt</em></strong></p>
<p>
- Vì trong việc xác định và đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phải bảo đảm các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, cho nên trong việc chuẩn bị các biện pháp hình sự đấu tranh với các hành vi đó cũng phải bảo đảm các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng.</p>
<p>
- Biện pháp trách nhiệm hình sự (hình phạt) phải được qui định tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Để đạt được sự tương xứng giữa tội phạm và trách nhiệm cần phải có những tiêu chuẩn bao gồm những đặc điểm về chất và lượng cho phép, nếu như không đo lường được, thì cũng so sánh được tội phạm và hình phạt. Từ quan điểm công bằng đối với những tội phạm khác nhau cần phải có những dạng trách nhiệm (loại và mức hình phạt) khác nhau phù hợp với mức độ nguy hiểm của các tội phạm.</p>
<p>
- Công bằng đòi hỏi phải có sự kết hợp yếu tố trừng trị (cưỡng chế) và yếu tố giáo dục, cải tạo (thuyết phục) ở những mức độ, liều lượng khác nhau khi qui định các hình phạt khác nhau đối với những tội phạm có những mức độ nguy hiểm khác nhau đối với xã hội. Việc giải quyết mối tương quan và sự kết hợp sự cưỡng chế và thuyết phục trong từng hình phạt tuỳ thuộc vào các điều kiện lịch sử cụ thể trong đó hình phạt được áp dụng.</p>
<p>
- Hệ thống hình phạt công bằng là: 1) hệ thống có các thang bậc (mức độ) nghiêm khắc (loại và mức hình phạt) tương xứng với các thang bậc (mức độ) nghiêm trọng của các loại phạm trù (loại) tội phạm; 2) hệ thống trong đó các hình phạt phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo sự sắp xếp của việc phân loại tội phạm; 3) hệ thống trong đó các hình phạt thể hiện được sự cân đối nhất định, các hình phạt kế tiếp nhau, xét về bản chất, nội dung, hình thức, điều kiện áp dụng không khác biệt nhau quá lớn; 4) hệ thống trong đó có việc qui định rõ loại hình phạt nào được áp dụng đối với loại (phạm trù) tội phạm nào, đối với những người phạm tội nào và loại nào không được áp dụng đối với ai, đối với tội phạm nào; 5) hệ thống trong đó mỗi hình phạt được qui định rõ ràng, cụ thể, chính xác về nội dung và điều kiện áp dụng nó; 6) hệ thống qui định rõ giới hạn tối thiểu và giới hạn tối đa của từng loại hình phạt trong một sự tương xứng chung; 7) hệ thống trong đó các hình phạt được qui định ở phần các tội phạm cụ thể phải có một sự tương xứng, haì hoà nhất định; 8) hệ thống trong đó các hình phạt được qui định ở phần chung và các hình phạt được qui định đối với những phạm trù (loại) tội phạm khác nhau cần phải tuân theo một tỷ lệ tương xứng nhất định, đối với các loại tội phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cần áp dụng các hình phạt nghiêm khắc nhất, đối với các tội ít nghiêm trọng và không nguy hiểm lớn cho xã hội thì áp dụng các hình phạt ít nghiêm khắc hơn.</p>
<p>
- Trên cơ sở nghiên cứu tác giả cho rằng việc hoàn thiện hệ thống hình phạt nước ta cần được tiến hành theo hướng tăng cường vai trò của các hình phạt không phải từ cả về mặt pháp luật lẫn về mặt áp dụng trong thực tiễn.</p>
<p>
<strong><em>2. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quy định hệ thống chế tài ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự</em></strong></p>
<p>
- Một hệ thống các chế tài công bằng được quy định đối với các tội phạm cụ thể ở phần các tội phạm cụ thể là cơ sở pháp luật, là tiền đề quan trọng để Tòa án quyết định những hình phạt công bằng đối với những tội phạm đã thực hiện.</p>
<p>
Công bằng đòi hỏi khi xây dựng hệ thống các chế tài ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự phải bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa mức độ nghiêm trọng của tội phạm và mức độ nghiêm khắc của hình phạt được quy định đối với nó. Muốn vậy, khi xây dựng chế tài cần dựa vào: 1) tầm quan trọng, giá trị, ý nghĩa của các quan hệ xã hội bị tội phạm được mô tả trong luật xâm hại hoặc sẽ bị xâm hại; 2) tính chất của hành vi, các biện pháp, phương thức thực hiện hành vi đó, hậu quả về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức ... 3) hình thức lỗi, mức độ lỗi, động cơ, mục đích; 4) năng lực trách nhiệm hình sự, lứa tuổi, một số đặc điểm của người phạm tội.</p>
<p>
- Chế tài được xây dựng phù hợp với các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng là chế tài bảo đảm được quan điểm phân hóa trách nhiệm hình sự bằng cách quy định những chế tài khác nhau về mức độ nghiêm khắc với việc cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, lẫn những tình tiết định khung tăng nặng và định khung giảm nhẹ đặc trưng đối với những tội phạm khác nhau, các đặc điểm nhân thân của một số người phạm tội tương ứng.</p>
<p>
- Chế tài có thể coi là công bằng là chế tài phải cân xứng với các chế tài quy định đối với việc thực hiện các tội phạm khác. Tính cân xứng của các chế tài được quy định đối với các loại tội phạm khác nhau thể hiện ở những điểm sau: 1) đối với các tội phạm cùng loại, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau thì phải quy định các chế tài có mức độ nghiêm khắc giống nhau; 2) đối với các loại tội phạm khác loại, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì phải quy định các chế tài có mức độ nghiêm khắc khác nhau; 3) các chế tài được quy định đối với những tội phạm có mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội phải bảo đảm sự cân xứng nhất định và theo một mức độ nghiêm khắc kế tiếp nhau nhất định; 4) các chế tài được quy định ở khung cơ bản, ở khung tăng nặng và khung giảm nhẹ phải bảo đảm các khung hình phạt có gối đầu kế tiếp nhau.</p>
<p>
- Chế tài công bằng là chế tài tạo cho Toà án khả năng cá thể hoá hình phạt với việc cân nhắc tất cả các khả năng có thể có của việc thực hiện tội phạm trong hiện thực khách quan. Để đáp ứng đòi hỏi trên các chế tài trong Bộ luật hình sự nước ta được quy định theo kiểu: 1) xác định tương đối; và 2) tuỳ nghi, lựa chọn, có thể. Việc quy định như vậy mà nhằm tạo điều kiện cho Toà án áp dụng các biện pháp trách nhiệm được công bằng, hợp lý nhất, nhưng vẫn bảo đảm được sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa.</p>
<p>
- Tác giả đã phân tích việc quy định hệ thống các chế tài trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự và đi đến kết luận rằng hệ thống các chế tài đó, về cơ bản đáp ứng được các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng, nhưng vẫn chưa bảo đảm được tư tưởng phân hoá trách nhiệm hình sự. Do vậy, <em>các chế tài quy định đối với các tội phạm cụ thể cần được hoàn thiện theo hướng bảo đảm sự phân hoá cao bằng cách thu hẹp giới hạn (khung) của các chế tài xác định tương đối và tăng cường chế tài tuỳ nghi lựa chọn giữa các hình phạt không phải tù.</em></p>
<p>
- Nguyên tắc công bằng đòi hỏi phải giải quyết tốt mối tương quan giữa giới hạn của luật và giới hạn của sự phán xét độc lập tương đối của Toà án. Trong việc điều chỉnh pháp luật cần phải kết hợp nhân tố quy phạm và nhân tố cá nhân: nhân tố cá nhân là cơ bản, xuất phát, hàng đầu; nhân tố thứ hai là thứ yếu tuỳ thuộc vào nhân tố thứ nhất. Sự tự do phán xét của Toà án là phạm trù tương đối, còn đạo luật là cái thứ nhất và là tuyệt đối. Cho nên, sự phán xét của Toà án là thẩm quyền do luật định và được thực hiện trong giới hạn luật.</p>
<p>
Như vậy, các chế tài hình sự được coi là công bằng là những chế tài đáp ứng được các đòi hỏi sau: 1) mức độ nghiêm khắc của chế tài (loại, khung) phải tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm; 2) các chế tài phải được xây dựng theo sự phân hoá của các loại tội phạm; 3) các chế tài được quy định đối với các loại tội phạm khác nhau phải bảo đảm sự cân xứng nhất định; 4) các chế tài phải tạo ra khả năng hợp lý cho Toà án cân nhắc tất cả những tình tiết khách quan và chủ quan xảy ra trong thực tế.</p>
<p>
<strong>Chương III. N</strong><strong>guyên tắc công bằng và việc quyết định hình phạt</strong></p>
<p>
Trong chương này tác giả phân tích hai vấn đề quan trọng của việc áp dụng pháp luật hình sự là định tội danh và quyết định hình phạt đối với việc thực hiện tội phạm.</p>
<p>
<strong>I. Định tội danh đúng - tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng .</strong></p>
<p>
- Nguyên tắc công bằng không chỉ xuyên suốt hoạt động lập pháp hình sự, mà còn xuyên suốt trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, đặc biệt trong việc định tội danh hành vi nguy hiểm cho xã hội và việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội. ở đây công bằng liên hệ chặt chẽ với việc áp dụng có căn cứ và đúng pháp luật, với việc tuân thủ chính xác và nhất quán các quy định của pháp luật, với việc xác định được chân lý khách quan của vụ án hình sự.</p>
<p>
- Trong lĩnh vực hình sự việc tuân thủ nghiêm túc các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đã được thể hiện trong đạo luật ở một mức độ rất lớn gắn chặt với việc định tội danh đúng các tội phạm đã thực hiện. Nếu coi Đạo luật hình sự là một trong những biểu hiện của các quan niệm về công bằng được thừa nhận trong xã hội, rằng việc thực hiện tội phạm là những biểu hiện cụ thể của sự bất công, là bất công thì dễ nhìn thấy rằng đòi hỏi của nguyên tắc công bằng biểu hiện ở việc định tội danh là ở chỗ xác định sự phù hợp của hành vi nguy hiểm cụ thể cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này hay cấu thành tội phạm khác đã được Luật hình sự quy định.</p>
<p>
- Đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc định tội danh là việc định tội danh phải đúng, chính xác, đầy đủ.</p>
<p>
- Định tội danh <em>đúng</em> tức là đánh giá đúng bản chất chính trị - xã hội và pháp lý của tội phạm đã thực hiện, xác định được sự phù hợp của hành vi phạm tội đã được thực hiện với các dấu hiệu được chỉ ra trong luật mô tả ở dạng khái quát hành vi đó. Định tội danh đúng có nghĩa là tuân thủ chính xác các quy định của đạo luật hình sự, áp dụng điều luật, khoản và điểm của điều luật hoặc tổng hợp các điều luật bao quát được hành vi phạm tội đã thực hiện. Việc định tội danh <em>chính xác</em> cần phải có việc viện dẫn đến điều luật cụ thể ở phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, còn điều luật bao gồm nhiều khoản, nhiều điểm thì phải chỉ rõ khoản, điểm tương ứng của điều luật đó.</p>
<p>
- Định tội danh đầy đủ có nghĩa là trong thực tế có bao nhiêu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện do các điều luật của Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì phải được định bấy nhiêu tội danh, dù cho trong đó có hành vi nào đó theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của mình khác biệt rất lớn với hành vi khác.</p>
<p>
- Định tội danh là quá trình xác định chân lý khách quan. Để việc định tội danh đạt được chân lý khách quan, sự nhận thức của điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán phải bao quát đầy đủ, chính xác, khách quan ba loại yếu tố sau: 1) nhận thức và hiểu biết về các tình tiết thực tế của vụ án; 2) nhận thức và hiểu biết về nội dung của quy phạm pháp luật hình sự; 3) nhận thức và quan niệm về mối tương quan giữa các dấu hiệu thực tế của hành vi và các dấu hiệu được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.</p>
<p>
- Định tội danh là một quá trình, là hoạt động nghiệp vụ pháp lý phức tạp bao gồm các giai đoạn nhất định. Giai đoạn thứ nhất có nhiệm vụ làm sáng tỏ hành vi cụ thể đã thực hiện có dấu hiệu của tội phạm hay không. Giai đoạn thứ hai làm sáng tỏ các dấu hiệu loại của hành vi phạm tội, tức là làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó thuộc loại tội nào trong Bộ luật Hình sự. Giai đoạn thứ ba là làm sáng tỏ và so sánh các dấu hiệu loại của tội phạm và chỉ rõ cấu thành tội phạm cụ thể nào được áp dụng.</p>
<p>
- Như vậy, định tội danh là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, có ý nghĩa lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật. Định tội danh phải dựa vào các tình tiết cụ thể của vụ án và vào các quy định của pháp luật hình sự; được tiến hành theo những giai đoạn nhất định, là sự tìm kiếm chân lý khách quan. <em>Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng.</em></p>
<p>
<strong>II. Những đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt</strong></p>
<p>
- Quyết định hình phạt là một giai đoạn, nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử. Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng đối với tội phạm đã thực hiện là tiền đề; điều kiện để đạt được các mục đích của hình phạt; nghĩa là mới có khả năng cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, mới có tác dụng phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, với dư luận, với ý thức pháp luật. Hình phạt được tuyên đối với bị cáo phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.</p>
<p>
- Khi quyết định hình phạt để bảo đảm sự tương xứng nói trên, trước hết Toà án phải cân nhắc <em>tính chất và mức độ</em> nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện. Tính chất nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính khách quan của tội phạm được quyết định bởi ý nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội do tội phạm đó xâm hại, các dấu hiệu về mặt khách quan, về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng cho chủ thể. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm.</p>
<p>
- Khi xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể đã thực hiện phải xuất phát từ tổng thể các tình tiết mà ở đó tội phạm cụ thể đã được thực hiện. Các tình tiết (dấu hiệu) thuộc mặt khách quan và chủ quan ảnh hưởng rất lớn đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và do đó ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt. Đó là các tình tiết như: thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, hậu quả, phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm; các hình thức, loại và mức độ của lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm.</p>
<p>
Trong những trường hợp những dấu hiệu đó được nhà làm luật quy định là những dấu hiệu bắt buộc cuả cấu thành tội phạm thì chúng có vai trò quyết định trong việc định tội danh và ở mức độ nhất định nào đó cũng ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt. Trong những trường hợp những dấu hiệu đó không phải là những dấu hiệu bắt buộc của tội phạm thì chúng không có ý nghĩa đối với việc định tội danh, nhưng có ý nghĩa rất lớn đối với việc quyết định hình phạt.</p>
<p>
- Để có căn cứ đầy đủ cho việc quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng phù hợp với tội phạm đã thực hiện, ngoài việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện Toà án phải cân nhắc <em>thân nhân người phạm tội.</em></p>
<p>
Những đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội được Toà án nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá dưới hai khía cạnh: khía cạnh pháp lý hình sự và khía cạnh tội phạm học. Việc nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá nhân thân người phạm tội dưới khía cạnh pháp lý hình sự là nhằm làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa trực tiếp đối với việc quyết định hình phạt. Việc nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá nhân thân người phạm tội dưới khía cạnh tội phạm học được tiến hành nhằm mục đích làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, các điều kiện hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, trình độ văn hoá, các mối quan hệ nói lên mặt tốt, mặt xấu của người phạm tội.</p>
<p>
Khi nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá các đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội, một mặt không nên trừu tượng hoá và tách rời chúng khỏi tội phạm do người đó thực hiện. Điều đó nói lên mối liên hệ biện chứng giữa cái khách quan - tội phạm đã thực hiện và cái chủ quan - các đặc điểm, đặc tính thuộc nhân thân người phạm tội. Khi cân nhắc hai căn cứ đó trong mọi trường hợp Toà án phải coi trọng và lấy căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện làm căn cứ hàng đầu, quan trọng và quyết định. Bởi vì tội phạm đã thực hiện là thước đo khách quan duy nhất của trách nhiệm hình sự, của việc quyết định hình phạt.</p>
<p>
Các đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội cụ thể bao giờ cũng có nội dung cụ thể. Bởi vậy, trong từng vụ án cụ thể Toà án phải xác định và chỉ rõ những tình tiết cụ thể chứng minh mức độ nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội, bao gồm cả các đặc điểm xấu lẫn các đặc điểm tốt của người đó để quyết định hình phạt.</p>
<p>
- Khi quyết định hình phạt Toà án còn phải cân nhắc <em>các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.</em> Bởi vì, cân nhắc các tình tiết đó là một trong những căn cứ của việc quyết định hình phạt công bằng, là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hoá hình phạt.</p>
<p>
ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với quyết định hình phạt tuỳ thuộc vào từng vụ án cụ thể, vào từng người phạm tội cụ thể. Bởi vậy, toà án có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong từng vụ án cụ thể.</p>
<p>
Việc đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cần phải dựa vào quan điểm toàn diện, đầy đủ trong một tổng thể thống nhất. Việc đánh giá, cân nhắc như vậy là phương pháp tốt nhất để xác định "trọng lượng" , "ý nghĩa" của các tình tiết đối lập nhau đối với việc quyết định hình phạt.</p>
<p>
Khi đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự toà án phải ghi cụ thể trong bản án những tình tiết nào được coi là tình tiết giảm nhẹ, những tình tiết nào được cân nhắc với ý nghĩa tăng nặng. Việc chỉ ra một cách cụ thể các tình tiết đó làm cho hình phạt được tuyên có sức thuyết phục, tạo điều kiện cho việc giáo dục và cải tạo người phạm tội.</p>
<p>
Việc cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong luật không phải là quyền mà là nghĩa vụ của toà án.</p>
<p>
- <em>ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và niềm tin nội tâm</em> của thẩm phán và hội thẩm nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt công bằng. Bởi lẽ, trong mọi trường hợp, khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc các đặc điểm của nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo, thẩm phán và hội thẩm nhân dân phải dựa vào ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm của mình.</p>
<p>
Như vậy, đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt là: hình phạt được tuyên đối với bị cáo phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội, hình phạt được tuyên phải bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do. Để làm căn cứ cho việc quyết định một hình phạt công bằng Toà án cần phải cân nhắc tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự; ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa.</p>
<p>
</p>
<p align="JUSTIFY">
</p>
</div>
<p>
</p>
NoiDungTomTat:
<div>
<div align="justify">
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là trên cơ sở cách tiếp cận tổng thể phân tích, làm sáng tỏ bản chất, nội dung, các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng và sự thể hiện, biểu hiện của nó trong các qui định của pháp luật hình sự, chứng minh, lập luận công bằng là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật hình sự Việt nam, xuyên suốt hoạt động lập pháp hình sự và hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.</div>
</div>
<div>
<div align="justify">
<p>
Tính phức tạp và nhiều mặt, nhiều mức độ về nội dung, về sự thể hiện, biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự không cho phép trong phạm vi của một luận án xem xét hết tất cả những khía cạnh, mức độ thể hiện, biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong các qui định của pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng chúng. Do vậy, luận án chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung, các đòi hỏi, sự thể hiện và biểu hiện của nguyên tắc công bằng trong một số chế định quan trọng nhất của luật hình sự như: cơ sở của trách nhiệm hình sự; tội phạm và phân loại tội phạm; giới hạn tác động của luật hình sự; hệ thống hình phạt và hệ thống các chế tài luật hình sự; định tội danh và quyết định hình phạt.</p>
<p>
Mục đích và phạm vi nghiên cứu nói trên quyết định việc đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:</p>
<p>
Khái niệm nguyên tắc công bằng, bản chất và các mức độ biểu hiện của nó trong luật hình sự;</p>
<p>
Xác định các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự, việc qui định tội phạm, việc qui định giới hạn tác động của pháp luật hình sự;</p>
<p>
Xác định các đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc định tội danh và việc quyết định hình phạt trong thực tiễn.</p>
<p>
Trên cơ sở việc giải quyết những vấn đề lý luận, phân tích các qui phạm pháp luật hình sự, thực tiễn xét xử của toà án đưa ra những kết luận và kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm khắc phục và hạn chế những sai sót trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta.</p>
<p>
Cái mới của luận án thể hiện ở chỗ đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên trong sách báo khoa học pháp lý của Việt nam về những vấn đề cơ bản của công bằng trong lĩnh vực luật hình sự. Dựa trên sự phân tích lý luận, phân tích các qui phạm của Bộ luật hình sự, thực tiễn xét xử của nước ta, từ quan điểm của nguyên tắc công bằng tác giả đánh giá một số chế định cơ bản của luật hình sự Việt nam.</p>
<p>
Tác giả đưa những luận điểm sau đây để bảo vệ đề tài nghiên cứu:</p>
<p>
1. Công bằng là một khái niệm mang tính lịch sử cụ thể, tính giai cấp, do các điều kiện kinh tế, xã hội, đạo đức, tư tưởng, văn hoá ... quyết định. Đó là một khái niệm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, là một giá trị xã hội có liên quan chặt chẽ với lợi ích, với pháp luật và các giá trị xã hội khác.</p>
<p>
2. Công bằng là một nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội xuyên suốt mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là nguyên tắc của chính sách hình sự và pháp luật hình sự. Nguyên tắc công bằng được thể hiện ở ba lĩnh vực của chính sách hình sự: lập pháp hình sự, áp dụng pháp luật hình sự và ý thức pháp luật. Trong lĩnh vực hình sự công bằng được thể hiện thông qua các đòi hỏi của mình.</p>
<p>
3. Công bằng có những đòi hỏi cụ thể nhất định đối với việc qui định cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với việc qui định tội phạm, giới hạn tác động của điều cấm hình sự, được thể hiện cả ở việc qui định các chế định của phần chung lẫn ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.</p>
<p>
4. Các đòi hỏi của công bằng thể hiện ở việc qui định hình phạt, hệ thống hình phạt và các chế tài cụ thể đối với các tội phạm. Tương ứng với các tội phạm khác nhau về tính chất và mức độ nghiêm khắc.</p>
<p>
5. Công bằng có những đòi hỏi nhất định đối với việc định tội danh. Định tội danh đúng là tiền đề quan trọng của việc quyết định hình phạt công bằng.</p>
<p>
6. Đòi hỏi của nguyên tắc công bằng đối với việc quyết định hình phạt là cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc các đặc điểm nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, cân nhắc ý thức pháp luật và dư luận xã hội. Hình phạt công bằng là hình phạt tương xứng với các yếu tố được nêu trên.</p>
<p>
</p>
</div>
</div>
<p>
</p>
TLKetQuaNghienCuu:
<td> </td> <td class="ket_qua_nc"> <div align="justify"></div> </td>
TLKieuLuanVan:
Luận án Tiến sỹ
TLLoaiHinhNghienCuu:
TLMaSoLuanVan:
5.05.14
TLNguoiThucHien:
Võ Khánh Vinh
TLNoiBaoVe:
Hà Nội
TLNuocBaoVe:
TLThoiDiemBaoVe:
TLThongTinXepGia:
TLNamBaoVe:
1993
Approval Status:
Approved
Attachments:
VoKhanhVinh tomtat.docx
Created at 9/15/2014 5:35 PM by System Account
Last modified at 10/12/2014 4:47 PM by System Account
Go back to list
Home(Tài liệu)