LBaiTrichTapChi: Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Title:
Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
NoiLuuGiu:
Trung tâm Thông tin - Thư viện khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý
SoLanDoc:
876
SoLanDownload:
SoTapChi:
7
TacGia:
Bùi Xuân Đính
TenTapChi:
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
TrangThaiXuatBan:
1
TuKhoa:
TenBaiViet:
EnableView:
No
NoiDungToanVan:
<div>
<h2 style="text-align: right;">
<span style="font-size:12px;">VIỆC TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI </span><strong style="font-size: 12px;">TRONG LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM</strong></h2>
<p style="text-align: right;">
<strong><em> Bùi Xuân Đính</em></strong> <sup>*</sup></p>
</div>
<p style="text-align: justify;">
Tuyển chọn và sử dụng quan lại<a href="#_ftn1" name="_ftnref1" style="background-color: rgb(255, 255, 255);" title="">[1]</a> là vấn đề lớn, một trong những mối quan tâm hàng đầu của các triều đại phong kiến Việt Nam nhằm tạo ra một đội ngũ quan lại có năng lực, tận tâm, công tâm thực thi các nhiệm vụ của hoàng đế và triều đình, đưa nền hành chính vào nền nếp, để các cơ quan Nhà nước hoạt động có hiệu quả. Tuyển chọn và sử dụng quan lại còn là tiêu chí phản ánh trình độ tổ chức, tầm nhìn, sự đổi mới hay bảo thủ của một thể chế (trước hết là của người đứng đầu) đối với các nhiệm vụ xây dựng đất nước ở từng thời kỳ lịch sử.</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">
Ở Việt Nam, kể từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý (1010), các vương triều phong kiến luôn quan tâm đến việc đào tạo và sử dụng quan lại. Nghiên cứu việc đào tạo và sử dụng quan lại của cha ông giúp chúng ta có thể vận dụng những bài học kinh nghiệm của lịch sử trong việc quản lý đội ngũ công chức, viên chức, góp phần xây dựng Nhà nước vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện của sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">
Dưới đây là những nét chính của việc đào tạo và sử dụng quan lại Nhà nước phong kiến Việt Nam.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>I - CÁC HÌNH THỨC ĐÀO TẠO, TUYỂN CHỌN QUAN LẠI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>1 - Chế độ khoa cử </em></p>
<p style="text-align: justify;">
Khoa cử là con đường chính yếu để Nhà nước phong kiến tuyển chọn quan lại. Khoa cử Nho học ở Việt Nam được mở từ năm Ất Mão đời Lý Nhân Tông (1075), với khoa Minh Kinh và Nho học tam trường. Từ đó đến khoa thi Hội cuối cùng (năm Kỷ Mùi đời Vua Khải Định - 1919), đã có 183 khoa thi được tổ chức, 2898 người<a href="#_ftn2" name="_ftnref2" title="">[2]</a> vượt qua các kỳ thi ngặt nghèo này để được nhận vinh hiển của triều đình, gồm 46 Trạng nguyên, 47 Bảng nhãn, 75 Thám hoa, 65 Đệ nhất giáp Tiến sĩ, 598 Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp), 1799 Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân và 266 Phó bảng. Ngoài các khoa thi Hội để lấy Tiến sĩ, Nhà nước còn tổ chức nhiều khoa thi Hương để lấy Hương cống (Cử nhân thời Nguyễn). Cho đến nay, chưa có số liệu tổng kết về số người đỗ trong khoa này, chỉ riêng dưới triều Nguyễn, đã có 4674 người (không kể 558 người sau đỗ Tiến sĩ), là nguồn bổ sung đông đảo và quan trọng quan lại cho bộ máy Nhà nước phong kiến các cấp.</p>
<p style="text-align: justify;">
Mặc dù chế độ khoa cử Nho học có một số nhược điểm nhất định song về cơ bản, những người thi đỗ đều là những người <em>học thực, thi thực </em>và về sau đều trở thành<em> tài thực</em>. Việc tuyển chọn quan lại bằng con đường khoa cử có 3 ưu điểm nổi bật:</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Tiêu chuẩn xét tuyển thống nhất.</em> So với chế độ tiến cử, bảo cử (sẽ trình bầy dưới đây) thì xét tuyển bằng khoa cử khách quan hơn, hạn chế được những chủ quan mà các hình thức khác thường mắc phải; đồng thời thúc đẩy việc giáo dục, học tập, tạo ra một “xã hội học tập”.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Những người tham gia thi cử tương đối bình đẳng</em>, trừ những người thuộc tầng lớp bị xem là “phản nghịch” hoặc “vô loài” (con nhà chèo hát), còn thì ai cũng có thể dự thi và nếu thi đỗ đều được bổ làm quan và đều có cơ hội phấn đấu trở thành người tài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Tạo ra sự kết hợp giữa học tập sách vở, thi cử và tham chính</em> (thực hiện nhiệm vụ quan trường). Ba mặt này kết hợp với nhau thúc đẩy xã hội trọng thị giáo dục, văn hoá, trọng thị sự rèn luyện tài năng cá nhân. Người làm quan đều đã qua học hành, là những cống sĩ, tiến sĩ giỏi thơ phú, biết cách cai trị dân, có trình độ quản lý cao và tương đối thống nhất. Phần lớn các bậc quan tiến sĩ này đều là những người tài.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>2- Chế độ tiến cử </em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Tiến cử</em> là chế độ cho phép một vị quan được đề nghị đưa một người có tài nhưng vì nhiều nguyên nhân mà chưa có điều kiện đi thi (hoặc thi không đỗ) được giữ một chức quan nào đó. Người tiến cử phải lấy tước vị, phẩm hàm của mình để bảo đảm rằng người được tiến cử là có tài, xứng đáng với chức vị được giao. Điều 174 <em>Quốc triều hình luật</em> quy định, người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người giỏi thì bị biếm hoặc bị phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc vì ăn tiền mà tiến cử thì xử nặng thêm hai bậc.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>3 - Chế độ bảo cử </em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Bảo cử</em> là chế độ cho phép một vị quan được đề nghị đưa một người có tài năng và <em>có kinh nghiệm thực tiễn quan trường</em> vào một chức vụ nào đó đang <em>bị khuyết người</em>. Người đứng ra bảo cử phải lập hồ sơ người được bảo cử để trình lên bộ Lại và cũng phải lấy phẩm hàm, chức vụ của mình ra để bảo đảm rằng người được bảo cử là xứng đáng. Bản chất của bảo cử là việc cử các quan lại có thâm niên và kinh nghiệm làm việc, có năng lực, đạo đức và hầu hết là xuất thân khoa bảng vào các chức vụ quan trọng đang khuyết. Việc bảo cử xuất hiện từ năm Hồng Đức thứ 15 đời Lê Thánh Tông (1484).</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhìn chung, cả hai hình thức tiến cử và bảo cử đều có những mặt tích cực. Phan Huy Chú nhận xét : “<em>Cử người làm quan có hai lối. Một là tiến cử thì lấy người tài, đức hơn hẳn mà không cứ thân phận. Hai là bảo cử thì lấy người danh vọng rạng rệt mà phải theo tư cách. Hai lối ấy giống nhau mà thể thức hơi khác. Lệ bảo cử có từ đời Hồng Đức. Bấy giờ việc ấy làm thận trọng, cho nên không ai dám bảo cử thiên tư, các chức đều xứng đáng rút cục thu được hiêụ quả là chọn được người hiền tài”</em><a href="#_ftn3" name="_ftnref3" title="">[3]</a>. Các triều vua đều có quy định tiêu chuẩn của vị quan được đứng ra bảo cử và người được bảo cử theo các chức vụ.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sang thời Nguyễn dường như không có sự phân biệt rạch ròi giữa hai chế độ mà gọi chung là đề cử hoặc tiến cử.</p>
<p style="text-align: justify;">
Các triều vua một mặt khuyến khích việc tiến cử người hiền tài, nhưng cũng rất nghiêm khắc xử phạt những người “cống cử phi nhân” (tiến cử người bậy bạ)<a href="#_ftn4" name="_ftnref4" title="">[4]</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>4- Chế độ thế tập và tập ấm</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Thế tập và tập ấm, gọi chung là <em>tập ấm</em> là chế độ bổ nhiệm quan lại thông qua địa vị quan chức của cha ông mà bổ dụng con cháu; hay là chế độ bổ dụng con cháu do ấm thụ của cha ông. Chỉ có con cái các đại thần mới được hưởng chế độ này.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chế độ tập ấm là sự thể hiện ưu đãi của nhà nước đối với con cháu các quan đại thần có công, có mặt tích cực là sử dụng được một số người có năng lực, buộc họ phải cố gắng cho xứng đáng với “con ông cháu cha”, song mặt hạn chế là hầu hết số người này không qua thi cử, chưa hẳn có tài, một số thường cậy mình là “con ông cháu cha”, không cố gắng trên đường quan trường, thậm chí làm liều, làm càn. Phan Huy Chú nhận xét, chế độ tập ấm “chỉ lấy tư cách con quan mà được hơn tư cách người thường, những công tử sang trọng chơi bời thường không có thực tài mà được lạm tuyển, thì phép chọn tài bổ quan không khỏi bị hỏng vì thiên tư, đó là phép tuyển bổ không được tốt vậy”<a href="#_ftn5" name="_ftnref5" title=""><em><strong>[5]</strong></em></a><em>.</em> Vì thế, từ đầu thế kỷ XVIII, các triều vua đã hạn chế việc tuyển bổ này.</p>
<p style="text-align: justify;">
II <strong>- CÁC NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG QUAN LẠI ĐỂ CHỌN LỌC NHÂN TÀI</strong></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>1- Đặt vị trí quan lại theo đúng tài và đức</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Mục đích của triều đình phong kiến là tìm được những vị quan đảm đương được những nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mỗi vị quan khi được đặt vào một vị trí nào đó phải được xem xét có đủ thực tài và thực đức, có tương xứng với vị trí, chức trách được giao hay không. Việc trả ơn, ban ơn hay phe cánh không phải là việc được xem xét đầu tiên khi cất nhắc quan lại vì :</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Ngoài chức, quan lại phong kiến còn có hàm (tức phẩm trật), từ nhất phẩm xuống cửu phẩm, mỗi trật lại chia thành 2 hạng chánh và tòng. Mỗi chức có giá trị ngang với một phẩm trật (ví dụ, Thượng thư tương đương với Chánh nhị phẩm). Phẩm trật là yếu tố căn cứ để tính lương. Nếu không hoàn thành chức vụ hoặc vi phạm pháp luật sẽ bị giáng chức và có thể bị giáng phẩm trật.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Nhà nước thực hiện chế độ <strong>Hồi tỵ</strong> </em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- Nhà nước còn kiểm soát việc thực thi nhiệm vụ tại chức của quan lại bằng chế độ giám sát, khảo khoá, thưởng phạt rất nghiêm minh.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Với nguyên tắc này, dưới thời phong kiến, hiện tượng người thân thích, người có công nhưng không thực tài được cất nhắc vào những vị trí quan trọng rất ít xảy xa. Xin nêu một ví dụ: thời Trần, Nguyễn Quốc Phụ là Nội thư Chánh chưởng, là cận thần của Vua Trần Nhân Tông. Sau khi Trần Nhân Tông lên làm Thượng hoàng, Trần Anh Tông lên ngôi vua, trong triều khuyết chức Hành khiển (Tể tướng), Nhân Tông gợi ý với Anh Tông cho Quốc Phụ giữ chức đó, nhưng Anh Tông kiên quyết không theo lệnh cha vì Phụ là người không có tài cán, lại nghiện rượu.</p>
<p style="text-align: justify;">
2- Tuỳ đặc điểm tính chất công việc mà xếp đặt quan lại vào vị trí thích hợp và số quan lại, chức viên phù hợp</p>
<p style="text-align: justify;">
Nguyên tắc này nhằm bố trí quan lại vào đúng công việc theo “sở trường sở đoản”; đồng thời tránh tình trạng đùn đẩy giữa các bộ phận, các chức viên trong nha môn, từ đó mới lọc ra được người có năng lực.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ví dụ, vào thời Nguyễn, Vua Minh Mạng căn cứ vào vị trí địa lý, tình hình dân cư, kinh tế - xã hội, an ninh … mà chia các phủ huyện thành 4 loại, từ đó cắt cử số quan lại, viên chức. Chẳng hạn :</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- <strong>Phủ tối yếu khuyết</strong> (phủ có rất nhiều việc), có 1 tri phủ, 1 đồng tri phủ, 1 lại mục và 8 thông lại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>- <strong>Phủ yếu khuyết</strong> (phủ có tương đối nhiều việc), có 1 tri phủ, có hoặc không có đồng tri phủ tuỳ theo số huyện phụ thuộc, 1 lại mục và 8 thông lại,</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong><em>- Phủ trung khuyết</em></strong><em> (có vừa việc) và phủ giản khuyết (có ít việc), có 1 tri phủ, 1 lại mục và 6 thông lại.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Tính chất của phủ huyện cũng là căn cứ để triều đình cắt đặt loại quan có học vị, phẩm trật, tài năng, đức độ nào nắm giữ. Chẳng hạn, với phủ tối yếu khuyết, chỉ những quan lại đỗ tiến sĩ, có tài năng, có kinh nghiệm cai trị, mẫn cán, có đức độ mới được làm việc ở đây<a href="#_ftn6" name="_ftnref6" title="">[6]</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>3- Bảo đảm sự hài hoà, nghiêm minh giữa chức và trách</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Chức</em> (chức vụ) được coi là danh, còn <em>t</em><em>rách</em> (trách nhiệm, quyền hạn) là thực. Một vị quan được coi là tốt phải bảo đảm được sự hài hoà, nghiêm minh giữa chức và trách. Cụ thể là phải :</p>
<p style="text-align: justify;">
- Hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao theo chức vụ, không được vô trách nhiệm;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Bàn bạc giải quyết công việc trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của chức vụ, không được lạm quyền.</p>
<p style="text-align: justify;">
Đây là cơ sở để khen thưởng, khiển trách quan lại.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>4- Luân chuyển quan lại</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Mục đích của công việc này là bố trí lại quan lại vào các vị trí thích hợp sau khi họ bộc lộ “sở trường, sở đoản”, ưu khuyết … trong thời gian làm việc; đồng thời chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi giữa các vị quan ở một khu vực, ngành nào đó; qua đó cũng để lựa thải quan lại, đồng thời tránh sự “cát cứ”, bè cánh, lộng quyền của những viên quan thoái hoá, biến chất. Việc luân chuyển quan lại được căn cứ vào thời hạn, kết quả làm việc, nơi làm việc, được xét duyệt thông qua chế độ khảo khoá .</p>
<p style="text-align: justify;">
Năm Quang Thuận thứ 8 (1467), Lê Thánh Tông đã quy định viên chức làm việc ở biên giới xa xôi được 9 năm thì được chuyển về xuôi. Năm sau (1468), thời hạn này giảm xuống còn 6 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Năm 1478 bắt đầu thực hiện luân chuyển quan lại căn cứ vào năng lực: người nào do chân lại viên xuất thân, học thức nông cạn, tài năng thấp kém thì bộ Lại xét chuyển đi việc khác; chọn tiến sĩ, các sĩ nhân đã đỗ, từng giữ các chức ở phủ huyện có tài năng kiến thức thay vào.</p>
<p style="text-align: justify;">
Lê Thánh Tông còn chú trọng tới việc lựa thải quan lại nhằm loại bỏ những viên quan và nha lại kém tài, già yếu, thoái hoá biến chất ra khỏi bộ máy Nhà nước. Ngoài bằng con đường khảo công (sẽ được trình bày ở dưới), vào các năm 1478, 1481, 1485 ông còn định lệ lựa thải quan lại, căn cứ vào tài năng, kiến thức, mức độ vi phạm, tuổi tác quan lại. Những người già yếu, không đủ năng lực trình đô sẽ bị gạt ra khỏi công việc hoặc cho về hưu.</p>
<p style="text-align: justify;">
Các triều vua sau cũng có những quy định tương tự.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>5- Thực hiện luật “Hồi tỵ”</em></p>
<p style="text-align: justify;">
“Hồi tỵ” tiếng Hán nghĩa là “<em>tránh đi</em>” hoặc <em>“lánh đi”,</em> về sau là một khái niệm để chỉ một nguyên tắc bố trí quan lại của Nhà nước, xuất hiện từ lâu đời ở Trung Quốc. Theo đó, những người có quan hệ huyết thống, đồng hương, thầy trò, bạn bè... không được cùng làm quan hay làm việc trong cùng một địa phương, công sở. Nếu gặp một trong những trường hợp trên đây thì phải tâu báo lên để thuyên chuyển những người thân thuộc đó đi các nơi khác nhau. Quy định “Hồi tỵ” nhằm tránh sự làm việc không khách quan, nể nang, né tránh hoặc bao che, nâng đỡ cho nhau giữa những người có quan hệ thân thuộc, gây ra nhiều tiêu cực, làm cho bộ máy Nhà nước kém hiệu lực.</p>
<p style="text-align: justify;">
Lê Thánh Tông là người đầu tiên tiếp thu và vận dụng chế độ “Hồi tỵ” vào việc xây dựng bộ máy chính quyền và cung cách làm việc của các cơ quan đó. Trong <em>Quốc triều hình luật,</em> có một số điều quy định “Hồi tỵ” đó là:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Không đưa quan lại về quê hương bản quán nhậm trị;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quan lại không được tậu đất, vườn ruộng, nhà tại nơi cai quản;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Quan lại không được lấy người cùng quê làm người giúp việc;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Người có quan hệ thầy trò, bạn bè không được làm việc tại cùng một công sở.</p>
<p style="text-align: justify;">
Luật “Hồi tỵ” thời Lê Thánh Tông còn thực thi nghiêm ngặt trong các kỳ thi Hương, thi Hội; áp dụng với cả đội ngũ chức viên ở cấp xã. Năm Hồng Đức thứ 19 (1488), nhà vua xuống chiếu: hễ là anh em ruột, anh em con chú con bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người được làm xã trưởng, không được cùng làm để trừ mối tệ bè phái hùa nhau<a href="#_ftn7" name="_ftnref7" title="">[7]</a>. Tám năm sau (1496), quy định này được mở rộng ra với cả những người là con cô con cậu, con dì con già và những người có quan hệ thông gia; nếu đã cùng làm rồi thì chọn người nào có thể làm được việc cho lưu lại, còn thì cho về làm dân <a href="#_ftn8" name="_ftnref8" title="">[8]</a>. Biện pháp này nhằm ngăn chặn tệ lợi dụng quan hệ thân tộc, vây bè kéo cánh cả về phía họ ngoại và thông gia trong việc nắm giữ các chức danh trong bộ máy quản lý, thao túng làng xã.</p>
<p style="text-align: justify;">
Vua Minh Mạng là người thực hiện luật <em>Hồi tỵ</em> triệt để hơn. Ngoài các điểm chung như Luật Hồi tỵ thời Lê Thánh Tông, Minh Mạng còn quy định một cách tích cực và triệt để. Đó là:</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các lại dịch ở các nha môn, các bộ ở kinh đô và các tỉnh là con, anh em ruột, anh em con chú con bác với nhau thì phải tách ra, đổi bổ đi nơi khác;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các quan lại không được làm quan ở nơi trú quán (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ hoặc lúc trẻ tuổi. Các lại mục, thông lại cũng không được làm việc ở phủ huyện là quê hương mình;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các lại mục, thông lại các nha thuộc các phủ huyện là người cùng làng cũng phải chuyển bổ đi nơi khác;</p>
<p style="text-align: justify;">
- Các quan viên từ Tham biện trở lên ở các trấn, tỉnh về kinh đô chầu được dự đình nghị, song khi trong các cuộc họp có bàn việc liên quan đến địa phương mà mình nhậm trị thì không được vào dự.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tuy nhiên, có một số cơ quan và ngành không áp dụng luật Hồi tỵ. Ví dụ, Ty Chiêm hậu là cơ quan chuyên trách về lịch, Thái Y viện là cơ quan chăm sóc sức khoẻ nhà vua, Ty Hiệu lễ sinh chuyên coi về lễ nghi là những cơ quan cần người có trình độ chuyên môn cha truyền con nối.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>6- Giám sát quan lại</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Để kiểm soát được quan lại, Nhà nước phong kiến áp dụng chế độ <em>giám sát ngự sử </em>của Nhà nước phong kiến Trung Quốc. Từ thời Trần đã đặt<em> Ngự sử đài</em> là cơ quan làm nhiệm vụ giám sát các hoạt động của quan lại triều đình, có chức Ngự sử trung tán (hay Ngự sử trung thừa), Ngự sử đại phu giữ, song nhiều khi do Hành khiển (Tể tướng) kiêm nhiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời Lê Thánh Tông, Ngự sử đài được đặt ở vị trí quan trọng, có đủ các chức <em>Đô Ngự sử</em> (hàm từ Tòng Nhị phẩm trở lên), <em>Phó Đô ngự sử</em> (Tòng Tam phẩm), <em>Thiêm đô Ngự sử</em> (Chánh ngũ phẩm), thường do những người có học vị tiến sĩ nắm giữ. Thời Nguyễn Ngự sử đài được thay thế bằng Viện Đô sát, đứng đầu là Tả, Hữu Đô Ngự sử tương đương với Thượng thư.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngoài Ngự sử đài, từ 1471, Nhà nước phong kiến còn đặt ra <em>Lục khoa</em> là cơ quan thanh tra ở sáu bộ, có trách nhiệm tâu hặc quan lại sai trái và các việc không đúng thể thức ở mỗi bộ. Đứng đầu mỗi khoa có <em>Cấp sự trung</em> và <em>Đô Cấp sự trung</em>, trật Chánh ngũ phẩm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ở địa phương (trấn, đạo, xứ thời Lê, tỉnh thời Nguyễn) có <em>Giám sát ngự sử</em> - quan có hàm Chánh Thất phẩm giám sát quan lại ở cấp đạo trở xuống. Mỗi đạo (hoặc tỉnh) lại có cơ quan giám sát là <em>Hiến sát sứ ty</em> với chức trách thanh tra quan lại, nghĩa là đề cao vai trò và trách nhiệm của quan lại của đạo, phủ huyện đối với các công việc của nhà nước ở địa phương và đối với nhân dân, xem họ là đại diện của vua, thực hiện việc “<em>tuyên dương đức chính của vua, quan hệ trực tiếp đến sự tồn vong của nhà nước</em>”. Đứng đầu cơ quan này là Hiến sát sứ và Hiến sát Phó sứ (hàm Chánh Thất phẩm). Giám sát Ngự sử cùng với các quan trong Hiến ty có nhiệm vụ phối hợp “<em>hặc tâu các quan làm bậy, soi xét uẩn khuất của dân</em>”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Các cơ quan thanh tra giám sát này tạo thành một hệ thống kiểm soát quan lại theo nguyên tắc “<em>Tất cả đều liên quan đến nhau, ràng buộc lẫn nhau</em>” để “<em>không có người ăn hại mà trách nhiệm lại có nơi quy kết, khiến cho quan to quan nhỏ đều ràng buộc với nhau, chức trọng chức khinh cùng kiềm chế nhau. Uy quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay. Hình thành thói quen giữ đạo lý, theo pháp luật mà dứt bỏ tội lỗi khinh nhân nghĩa, phạm ngục hình</em>…” <a href="#_ftn9" name="_ftnref9" title="">[9]</a>.</p>
<p style="text-align: justify;">
Điều đáng lưu ý là chế độ thanh tra giám sát thời phong kiến là <em>chế độ độc lập</em>. Ví dụ, một quan tri phủ mắc lỗi thì quan Hiến sát có quyền tâu hặc thẳng lên Ngự sử đài hoặc trực tiếp lên bộ Hình, thậm chí lên cả vua, không cần thông qua Giám sát ngự sử. Triều đình sẽ cử ngay quan về điều tra, nếu quan tri phủ có lỗi hoặc vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Cả quan Đô ngự sử cũng có thể bị người khác tâu hặc nếu phạm lỗi. Ngay cả bộ Lại - bộ có quyền hành cao nhất trong triều đình trong việc tuyển bổ, thăng giáng, bãi miễn quan lại trung cao cấp, song nếu thăng bổ không xứng thì Lại khoa “có quyền giới thiệu người, vừa có quyền bắt bẻ, tố giác” theo nguyên tắc “<em>lớn nhỏ, trong ngoài cùng ràng buộc lẫn nhau</em>”.</p>
<p style="text-align: justify;">
Ngoài chế độ giám sát, tâu hặc theo thông lệ, Nhà nước phong kiến còn có chế độ giám sát đặc biệt. Năm Quang Thuận 8 (1467), Lê Thánh Tông định lệ chọn ở 6 bộ, 6 khoa và 6 tự (cơ quan giúp việc cho 6 bộ) mỗi cơ quan 2 người “<em>có hạnh kiểm, đi thăm hỏi, điều tra nỗi đau khổ của sinh dân và điều hay dở của chính sự</em>”. Thời Nguyễn, trong những trường hợp đặc biệt, nhất là khi ở một địa phương xảy ra binh đao, giặc giã, dân tình tao loạn, quan lại lộng quyền ức hiếp nhân dân, triều đình cử ra đoàn thanh tra đặc biệt, do một hai viên quan đại thần, có uy tín, gọi là “Kinh lược đại sứ”, xuống địa phương đó xem xét. Đoàn Kinh lược sứ này có toàn quyền giải quyết các vụ việc xảy ra, sau đó tâu lại với vua.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chế độ giám sát giúp cho triều đình phát hiện được các vụ việc tiêu cực của quan lại các ngành, các cấp để kịp thời xử lý; đồng thời răn đe quan lại, để họ biết sợ pháp luật, phấn đấu thành vị quan tài giỏi, đức hạnh.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>7 - Chế độ khảo công quan lại</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Phép khảo công</em> (hay <em>khảo khoá)</em> quan lại là một thể chế làm việc của Nhà nước phong kiến Trung Hoa, xuất hiện từ thời Đường (thế kỷ VIII). Theo đó, quan lại các cấp theo định kỳ (thường là 3 năm một lần) phải chịu sự khảo xét hành trạng tốt - xấu, hay - dở, những việc làm được hay không làm được, những lỗi lầm… trong 3 năm. Căn cứ vào đó triều đình sẽ tiến hành thăng - giáng chức, hoặc thuyên chuyển họ đi nơi khác, làm việc khác cho phù hợp.</p>
<p style="text-align: justify;">
Chế độ khảo công ở nước ta bắt đầu từ năm Tân Mão đời Vua Lý Thái Tông (1051) và được bổ sung vào các năm 1162, 1179, 1193, 1246, 1337, 1434. Tùy mỗi thời có quy định khác nhau nhưng nhìn chung, cứ 3 năm, các quan lại được khảo công một lần và được chia thành các bậc : <em>thượng - trung -</em> <em>hạ</em>, tuỳ theo số lần được các mức nào sẽ được thăng chức hoặc bị giáng chức và điều đi nơi khác, làm việc khác.</p>
<p style="text-align: justify;">
Phép khảo công đã giúp cho triều đình nhận rõ những ưu khuyết điểm, những thành tích, mặt mạnh, yếu, mặt hạn chế của đội ngũ quan lại các cấp để chấn chỉnh họ, bố trí lại họ vào những vị trí, chức trách, nhiệm vụ theo tài năng, đức độ và tinh thần trách nhiệm của ho với công việc, khích lệ từng người cố gắng phấn đấu trở thành những viên quan tốt; đồng thời răn đe, xử phạt những vị quan có hành vi xấu. Sử cũ cho biết, nhờ các kỳ khảo công này mà nhiều vụ tiêu cực của quan lại các cấp, cả quan to của triều đình bị phát giác và xử lý nghiêm khắc; qua đó chấn chỉnh đội ngũ quan lại<a href="#_ftn10" name="_ftnref10" title="">[10]</a>. Ví dụ, sau kì khảo công năm Chính Hoà 12 (1691), “<em>các sĩ đại phu đều tự cổ lệ mình theo đường danh tiết, không có sự chạy vạy cầu cạnh”</em><a href="#_ftn11" name="_ftnref11" title="">[11]</a><em>.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<em>8 - Xử lý quan lại phạm luật</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Vấn đề này chúng tôi đã có dịp đề cập trong một bài viết gần đây trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật. Ở đây xin nhắc lại một vài đặc điểm nổi bật của việc xử lý quan lại phạm luật dưới thời phong kiến:</p>
<p style="text-align: justify;">
- <em>Kiên quyết và nghiêm khắc đối với mọi trường hợp quan lại phạm tội, bất kể là quan đại thần có công.</em></p>
<p style="text-align: justify;">
- Chủ trương dùng hình phạt nặng đối với quan lại phạm tội, như <em>đồ hình, lưu hình, bãi chức về làm dân, phát vãng và hiệu lực</em><a href="#_ftn12" name="_ftnref12" title="">[12]</a><em>, tử hình</em> với hai hình thức <em>trảm </em>(chém) và <em>giảo</em> (thắt cổ cho chết), mỗi hình thức lại có <em>quyết</em> (<em>trảm quyết</em> và <em>giảo quyết</em>, tức chém hoặc thắt cổ ngay) và <em>hậu</em> (trảm hậu và giảo giam hậu, tức bị tội chém hay tội giảo nhưng được giam lại đợi đến án thu thẩm, tức xét lại án vào mùa thu có thể được giảm án hoặc y án).</p>
<p style="text-align: justify;">
- Công minh trong việc áp dụng hình phạt đối với các đối tượng phạm tội, kể cả với quan to trong triều, người có công. Trong các án phải chịu “trảm quyết” dưới triều Minh Mạng (1820 - 1840) có 1 Tả Tham tri (như thứ trưởng thứ nhất hiện nay), trong các án “giảo quyết” có 1 Tuần phủ (tương đương với Chủ tịch UBND một tỉnh nhỏ hiện nay). Cả những người là công thần cũng không được vua chúa chiếu cố tha giảm tội.</p>
<p style="text-align: justify;">
Sự nghiêm khắc, kiên quyết xử lý của các vua chúa đối với quan lại phạm tội góp phần quan trọng vào việc chấn chỉnh hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp, khích lệ những quan lại tài năng, trung thực làm việc.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>9- Bảo đảm chế độ lương bổng cho quan lại</em></p>
<p style="text-align: justify;">
Để bảo đảm cho quan lại yên tâm làm việc, trong điều kiện nền kinh tế thấp kém, nguồn thu ngân sách rất ít ỏi, Nhà nước phong kiến thời Lê Thánh Tông vẫn cố gắng giải quyết chế độ lương bổng cho họ gồm các khoản:</p>
<p style="text-align: justify;">
- <em>Lộc điền</em> tức cấp ruộng cho quan lại có hàm từ tứ phẩm trở lên.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Ruộng đất theo chế độ quân điền, ban hành vào năm 1477 cho quan lại tam phẩm xuống dân thường. Theo chế độ này, nếu một dân thường được 3 phần ruộng thì quan tam phẩm được 11 phần, quan tứ phẩm được 10 phần, các phẩm hàm từ dưới đó sẽ kém phẩm hàm trên 0, 5 phần.</p>
<p style="text-align: justify;">
- Bổng lộc (lương bằng tiền) theo các mức độ khác nhau.</p>
<p style="text-align: justify;">
Thời Nguyễn, quan lại được cấp tiền lương. Ngoài lương chính, các quan phủ huyện còn được cấp thêm <em>tiền dưỡng liêm</em> (tiền nuôi lòng thanh liêm), tuỳ thuộc vào nơi yếu khuyết hay giản khuyết.</p>
<p style="text-align: justify;">
Nhìn chung, mức lương trên đây tuy cao so với người dân và có khoảng cách chênh lệch giữa các loại quan nhưng vẫn rất thấp, không đủ cho các yêu cầu chi tiêu, sinh hoạt của quan lại. Tình hình này dẫn đến sự phân hóa trong hàng ngũ quan lại: một số lớn “không giữ được mình”, lợi dụng chức quyền để tham nhũng bằng mọi cách.</p>
<p style="text-align: justify;">
Để khắc phục tình trạng tham nhũng do mức lương quá thấp, Nhà nước phong kiến một mặt nghiêm khắc xử phạt quan lại phạm tội (như đã được trình bày ở trên), mặt khác coi trọng việc giáo dục quan lại, thể hiện ở việc tăng cường giáo huấn. Các đề thi văn sách trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình phần lớn đều đưa ra chủ đề “trị nước” và trách nhiệm của kẻ sĩ, với mục đích là làm cho quan lại thấm nhuần và giữ được lý tưởng sống của kẻ sĩ “<em>Thành danh, lập ngôn, lập công và lập đức”</em>, chấp nhận “<em>Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an</em>” (người quân tử ăn không cần no, ở không cần sang) hay “<em>an bần, lạc đạo</em>” (yên phận với cảnh nghèo mà vui được hành đạo, tức đem tài năng thi thố với đời “trị quốc bình thiên hạ”), sống thanh liêm.</p>
<p style="text-align: justify;">
Tóm lại, việc đào tạo, tuyển chọn và sử dụng quan lại các cấp là một quá trình sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp tổng hợp nhằm đạt được hiệu quả thực tế, không mang tính hình thức. Đây là những bài học kinh nghiệm của lịch sử vẫn có giá trị tham khảo đối với việc đào tạo, sử dụng công chức, đào tạo nhân tài của chúng ta hôm nay, bảo đảm cho hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp.</p>
</div>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<div>
<p style="text-align: justify;">
</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div id="ftn1">
<p style="text-align: justify;">
<sup>*</sup>TS Sử học, Viện Dân tộc học, Trung tâm KHXH và NVQG</p>
<p style="text-align: justify;">
[1] <em>Quan</em> là người có phẩm hàm, nắm quyền điều hành trong các công sở Nhà nước, <em>lại</em> (nha lại) là nhân viên trong các công sở, thừa hành mệnh lệnh của các quan.</p>
</div>
<div id="ftn2">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref2" name="_ftn2" title="">[2]</a> Theo sách “<em>Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 -1919)”,</em> Nxb Văn học, Hà Nội, trong số này có 6 người đỗ 2 lần (do lần đỗ đầu không đạt học vị như mong muốn, đã trả học vị, khoa thi sau lại thi và lại đỗ).</p>
</div>
<div id="ftn3">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref3" name="_ftn3" title="">[3]</a> Phan Huy Chú - <em>Lịch triều hiến chương loại chí,</em> tập I, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1992, tr. 581.</p>
</div>
<div id="ftn4">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref4" name="_ftn4" title="">[4]</a> Xin nêu một ví dụ tiêu biểu: vào năm Mậu Tý (1828), Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực đề cử 5 học trò của mình, Thượng thư bộ Hộ Lương Tiến Tường đề cử 1 người. Tất cả đều được bổ vào làm việc ở Hàn Lâm viện. Song Vua Minh Mạng sai sát hạch lại thì cả 6 người về văn lý đều không đạt, riêng Lê Trọng Thực và Ngô Vi Chuẩn là học trò của Phan Huy Thực lại mượn người làm thay! Việc bị phát giác, Phan Huy Thực và Lương Tiến Tường đều bị giáng chức vì tội “cống cử phi nhân”; cả 6 người học trò của họ đều bị loại khỏi các chức vụ được đề cử. Riêng Lê Trọng Thực, Ngô Vi Chuẩn còn bị đánh 100 trượng, bắt đi làm khổ sai ở vùng đất mới khai hoang tại Trấn Ninh.</p>
</div>
<div id="ftn5">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref5" name="_ftn5" title="">[5]</a> Phan Huy Chú - <em>Lịch triều hiến chương loại chí,</em> tập I, sđd, tr. 575.</p>
</div>
<div id="ftn6">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref6" name="_ftn6" title="">[6]</a> Nguyễn Minh Tường - <em>Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh,</em> Nxb KHXH, Hà Nội, 1996, tr. 151.</p>
</div>
<div id="ftn7">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref7" name="_ftn7" title="">[7]</a> <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>Nxb. KHXH, Hà Nội, 1985, tập II, tr. 507.</p>
</div>
<div id="ftn8">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref8" name="_ftn8" title="">[8]</a> <em>Đại Việt sử ký toàn thư, </em>sđd, tr. 519.</p>
</div>
<div id="ftn9">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref9" name="_ftn9" title="">[9]</a> <em>Đại Việt sử ký toàn thư,</em> tập II, sđd, tr. 454 - 455.</p>
</div>
<div id="ftn10">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref10" name="_ftn10" title="">[10]</a> Bùi Xuân Đính - <em>Phép khảo công với việc xây dựng đội ngũ quan lại trông coi pháp luật thời phong kiến,</em> tạp chí <em>Luật học</em>, số 5/ 1997, tr 55 - 59.</p>
</div>
<div id="ftn11">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref11" name="_ftn11" title="">[11]</a> <em>Lịch triều tạp kỷ</em>, tập I, Nxb KHXH, Hà Nội, 1975, tr. 129 - 130.</p>
</div>
<div id="ftn12">
<p style="text-align: justify;">
<a href="#_ftnref12" name="_ftn12" title="">[12]</a> <em>Phát vãng và hiệu lực</em>: đày đi một nơi xa (thường là nơi rừng núi, hải đảo xa xôi) và bắt làm một công việc nào đó để lập công chuộc tội.</p>
</div>
</div>
<p>
</p>
NoiDungTomTat:
NamXuatBan:
TLChuyenNganh:
TLKhaiThacToanVan:
No
Nam:
2,003
LAuthor:
Nguyễn Thị Thu Hương
TLSoLuong:
1
Approval Status:
Approved
Attachments:
009Tuyenchonvasudungquanlai.doc
Created at 7/14/2015 2:19 AM by tlplsv/thuhuongnguyen
Last modified at 7/14/2015 2:19 AM by tlplsv/thuhuongnguyen
Go back to list
Home(Tài liệu)