• Thuộc tính
Tên đề tài Các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế
Nội dung tóm tắt
 

Hiện tượng các vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh tế không cấu thành tội phạm nhưng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự (tức là hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế) đã và đang là vấn đề được công luận quan tâm, lên tiếng phản đối mạnh mẽ. Bản thân việc hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế không chỉ gây hại trực tiếp cho các nhà đầu tư, mà còn gián tiếp gây hại cho nền kinh tế nói chung. Khi hình sự hóa đã trở thành phổ biến thì hiện tượng này sẽ trở thành một trở lực to lớn đối với hoạt động kinh doanh vốn đã đầy biến động, rủi ro trong thương trường mới ở dạng sơ khai như Việt Nam. Như vậy, giải quyết đúng đắn vấn đề này có ý nghĩa kinh tế, xã hội và chính trị to lớn.

 

Thêm vào đó, mặc dù lâu nay hiện tượng hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế được nhắc đến khá nhiều song cách hiểu về nó vẫn chưa có sự thống nhất. Trong công luận, giới khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn vẫn còn nhiều quan niệm, cách nhìn rất khác nhau về “hình sự hóa...”. Vì vậy, làm sáng tỏ khái niệm này, lý giải ở Việt Nam có thực sự có hiện tượng này hay không và nếu có thì nó được thể hiện như thế nào, ở mức độ nào, nguyên nhân của hiện tượng này ra sao, các giải pháp nào cần thực hiện để khắc phục nó là điều có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn.

Những luận cứ kể trên chính là cơ sở để khẳng định rằng việc triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ “các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục đích sau đây:

Thứ nhất, trả lời cho câu hỏi có hay không có hiện tượng hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế ở nước ta và nếu có thì nó đang ở mức độ nào, ở đâu là chủ yếu?

Thứ hai, nên hiểu khái niệm hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế như thế nào cho thực sự chuẩn xác và khoa học?

Thứ ba, tìm ra các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế, trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp để khắc phục nó.

Hiện tượng hình sự hóa các giao dịch này cũng có thể xảy ra trên phạm vi rộng lớn. Tuy nhiên, do thời gian và các điều kiện vật chất khác có hạn nên đề tài chủ yếu đề cập đến tình trạng hình sự hóa một số loại giao dịch dân sự, kinh tế chủ yếu như mua bán, vay mượn, thuê mướn tài sản. Đồng thời, đề tài cũng chỉ xin tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu vấn đề hình sự hóa trong hoạt động áp dụng pháp luật và các biện pháp khắc phục tình trạng này cũng chủ yếu được đưa ra trong các lĩnh vực nêu trên mà thôi.

I. KHÁI NIỆM HÌNH SỰ HÓA CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ

Trong thời gian qua đã có tình trạng một số hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản được xác lập từ các giao dịch dân sự, kinh tế tuy không cấu thành tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Để đặt tên cho hiện tượng kể trên, báo chí, công luận, các chính khách, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách gọi khác nhau như “hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự”, “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”, “hình sự hoá các tranh chấp dân sự, kinh tế” ...

Trong các bài nghiên cứu, các bài tham luận tại các hội thảo về hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau về cách đặt tên cho hiện tượng vừa nêu.

Tựu chung lại có hai luồng ý kiến cơ bản. Một luồng ý kiến thể hiện sự tán đồng với tên gọi “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”. Song cũng không ít ý kiến phản đối việc sử dụng cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” để đặt tên cho hiện tượng kể trên.

Luồng ý kiến phản đối cho rằng, việc sử dụng cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” là hoàn toàn không chính xác về mặt khoa học. Việc sử dụng cụm từ này sẽ gây sự hiểu lầm trong giới lý luận và trong công luận, làm sai lệch nội hàm truyền thống của khái niệm “hình sự hoá”. Lập luận của luồng ý kiến này dựa trên cách hiểu truyền thống về khái niệm “hình sự hoá” đã được chấp nhận rộng rãi trong khoa học luật hình sự[1]. Khi xem xét lại các công trình lý luận cơ bản về luật hình sự được phổ biến ở Việt Nam, có thể thấy khái niệm “hình sự hoá” cùng với khái niệm “tội phạm hoá”, “phi tội phạm hoá” “phi hình sự hoá” trở thành những khái niệm chủ chốt để mô tả quá trình phát triển, vận động của luật hình sự. Theo đó, “tội phạm hoá” là việc thông qua một hình thức văn bản nhất định, nhà làm luật quy định những hành vi nào đó là tội phạm. Còn việc quy định hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này hay tội phạm kia được khoa học pháp lý hình sự gọi là hình sự hoá. Quá trình ngược lại của tội phạm hoá và hình sự hoá được gọi là “phi tội phạm hoá” và “phi hình sự hoá”. Như vậy, "hình sự hoá" chỉ diễn ra ở giai đoạn xây dựng pháp luật chứ không thể có ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Thêm vào đó, kể từ khi pháp luật hình sự Việt Nam bãi bỏ nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật và ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 thì chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền tiến hành việc hình sự hoá. Quan điểm này đã được trình bày khá nhất quán trong các tác phẩm về lý luận luật hình sự ở Việt Nam[2].

Với cách hiểu như thế, rõ ràng “hình sự hoá” trong lý luận luật hình sự truyền thống không phản ánh tình trạng oan sai trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Cách hiểu về “hình sự hoá” trong cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” được sử dụng nhiều trên báo chí và trong nhiều bài viết của một số nhà nghiên cứu trong một vài năm gần đây không có nội hàm như khái niệm “hình sự hoá” vừa phân tích ở trên. Thay vào đó, khi cụm từ này được sử dụng để mô tả hiện tượng dùng biện pháp hình sự để giải quyết những vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh tế dẫn tới oan sai trong tố tụng; mô tả hành vi trái pháp luật của cơ quan tố tụng trong việc làm oan sai người vô tội, thì cụm từ này đã mang trong mình một nội hàm mới. Với việc xuất hiện trên hàng chục báo chí, nhiều diễn đàn quan trọng khắp trong Nam ngoài Bắc suốt mấy năm qua, cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" đã trở thành cách sử dụng khá phổ biến và hầu như bất cứ độc giả nào khi đọc đến cụm từ đó cũng đều mường tượng trong mình về một hiện tượng tiêu cực của nền tư pháp nước nhà. Điều này chứng tỏ cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” đã đi sâu vào đời sống thường nhật và chứng tỏ sức sống độc lập của mình. Việc đặt tên khác đi, sẽ tạo ra một sự nhầm lẫn mới trong dư luận, trên báo chí. Có thể coi việc sử dụng cụm từ này có tính chất "dùng mãi thành quen", một hiện tượng không phải là ít gặp trong ngôn ngữ và nhờ đó trở thành một cụm từ có sức sống độc lập với các cụm từ khác. Nếu thừa nhận lập luận này, việc sử dụng cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” sẽ không thể bị coi là thiếu khoa học, mà ngược lại việc tiếp tục sử dụng cụm từ này dễ tạo được sự ủng hộ rộng rãi của công luận, báo chí, đại đa số các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách hơn. Điều đó cho thấy giá trị thực tiễn to lớn của việc tiếp tục thừa nhận cách sử dụng của cụm từ này. Đây cũng là quan điểm được Ban chủ nhiệm Đề tài tán đồng. Tuy nhiên, để tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc trong việc sử dụng cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” với khái niệm “hình sự hoá” của lý luận luật hình sự truyền thống, nếu không có chú thích gì, không nên gọi tắt “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế” thành “hình sự hoá” mà nên gọi một cách đầy đủ cả cụm từ.

Qua các diễn đàn, hội thảo về chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế vừa qua, hầu hết các nhà nghiên cứu đều tán đồng một số điểm sau đây trong nội hàm của cụm từ “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”:

- Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là một hiện tượng mới của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

- Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là hậu quả của sự sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự. Chưa có nhà nghiên cứu nào hoặc bài báo nào lại coi việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự là hình sự hoá.

- Sự sai lầm kể trên có thể là do cơ quan tố tụng chưa điều tra đầy đủ, khách quan, nôn nóng trong khi giải quyết hoặc cũng có thể do một số cán bộ biến chất trong các cơ quan tố tụng cố ý hình sự hoá để trục lợi.

- Nội dung của sự sai lầm này là, một hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng kinh tế (chủ yếu là nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản) không cấu thành tội phạm nhưng đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Dựa trên những điểm thống nhất đó, có thể hiểu khái niệm “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" như sau: “Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là một thực trạng trong đó hành vi của người vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản được xác lập từ giao dịch dân sự, kinh tế tuy không cấu thành tội phạm nhưng người thực hiện các hành vi ấy đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự".

Nếu như coi việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về hình sự đối với người không phạm tội là việc làm oan sai người vô tội, thì hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, với tư cách là sự sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự, là một dạng làm oan sai người vô tội. Sự sai lầm này có thể do cố ý hoặc vô ý. Trong thực tiễn, tuy không loại trừ hiện tượng cơ quan tố tụng (thông qua người tiến hành tố tụng) cố ý “hình sự hoá” nhưng sự sai lầm này chủ yếu được thực hiện ngoài mong muốn của các cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng. Sự sai lầm ấy thể hiện ở việc cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố (tức là áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự) đối với cả hành vi chưa phải là tội phạm. Cách hiểu về hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế kể trên cũng bao hàm ý nghĩa rằng, hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là sự can thiệp trái pháp luật của các cơ quan tố tụng vào sự vận động bình thường của các giao dịch dân sự, kinh tế, do đó xâm hại tới các quan hệ dân sự, kinh tế. Vì thế chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế cũng là một trong những biện pháp bảo vệ các giao dịch dân sự, kinh tế, làm lành mạnh môi trường kinh doanh, góp phần làm giảm rủi ro trong môi trường kinh doanh vốn đầy thách thức của các nhà doanh nghiệp.

II. THỰC TRẠNG HÌNH SỰ HÓA CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM QUA

Trong phạm vi nghiên cứu, Ban chủ nhiệm đề tài đã thu thập được một số thông tin phản ánh thực trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế trong thời gian qua. Cụ thể:

Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 1997 chỉ đối với hai loại tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 135 và 158 Bộ luật Hình sự 1985) Viện kiểm sát nhân dân các cấp của 40 tỉnh, thành phố đã ra quyết định chỉ điều tra 106 vụ với 118 bị can vì hành vi của những người nói trên không cấu thành các tội phạm mà họ bị khởi tố, điều tra. Có 46 người trong số 118 người trước đó đã bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp tạm giam. Cũng theo số liệu thống kê của ngành kiểm sát, trong các năm 1995, 1996, 1997 Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử các tội phạm theo các Điều 135 và 158 Bộ luật Hình sự 1985 như sau: Tòa án cấp quận huyện xét xử sơ thẩm 2257 vụ với 3009 bị cáo trong đó 1 bị cáo được tuyên không phạm tội; tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm 3057 vụ với 5781 bị cáo trong đó có 24 bị cáo được tuyên không phạm tội, tòa án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm 606 vụ với 1008 bị cáo, đã tuyên 6 bị cáo không phạm tội; ủy ban thẩm phán tòa án cấp tỉnh xét xử giám đốc thẩm 62 vụ với 72 bị cáo và tuyên 11 bị cáo không phạm tội; các tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 1128 vụ với 1781 bị cáo đã tuyên 6 bị cáo không phạm tội. Trong năm 1997 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm 27 vụ án với các tội danh lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử và tuyên 12 bị cáo trong 8 vụ án không phạm tội như quy kết của án sơ thẩm hoặc phúc thẩm[3]. Trong năm 1998, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị tất cả 279 vụ án trong đó có 48 vụ án về các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Toà hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử 33 vụ án; trong đó có 8 vụ Toà án cấp Giám đốc thẩm đã xác định các bị cáo không phạm tội hình sự, chuyển giải quyết lại theo thủ tục kinh tế hoặc dân sự; 19 vụ bị sửa đổi từng phần do có những hành vi đã bị hình sự hoá không đúng pháp luật. Cũng trong năm 1998, các Toà án địa phương đã gửi hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tối cao để trao đổi với tổng số là 39 vụ án do Viện kiểm sát nhân dân  truy tố các bị cáo về các hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng qua nghiên cứu chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân  cấp tỉnh thấy có vấn đề vướng mắc về tội danh và đường lối xử lý vụ án, cần trao đổi xin ý kiến Tòa án nhân dân tối cao. Qua nghiên cứu các vụ án này Tòa án nhân dân tối cao cũng đã phát hiện khoảng 1/3 số vụ án, trong đó các bị can bị truy tố không đúng tội hoặc oan và theo yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp tỉnh xem xét và giải quyết lại theo trình tự thủ tục các vụ án dân sự hoặc kinh tế[4]. Theo Báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 1999 và 6 tháng đầu năm 2000, đã có 76 vụ án và 349 bị can bị khởi tố, điều tra về các nhóm tội: tội phạm kinh tế, xâm phạm sở hữu Nhà nước, xâm phạm sở hữu công dân sau đó phải đình chỉ điều tra vì không có tội mà thực chất đây chỉ là vụ việc thuộc các quan hệ dân sự và kinh tế[5]. Cũng theo Báo cáo này, có 115 người bị khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử sau đó Toà án đã tuyên bị cáo không phạm tội (trong đó có 59 người do Toà án cấp sơ thẩm tuyên án và 56 người do toà án cấp phúc thẩm tuyên án không phạm tội).

Do chưa được chú ý tổng kết một cách toàn diện trong tất cả các cơ quan tiến hành tố tụng, nên các con số kể trên, mặc dù phần nào phản ánh tính bức xúc và nhức nhối của tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế song vẫn chưa phản ánh được đầy đủ tình trạng hình sự hoá. Đây vẫn chỉ là thông tin có tính chất như “phần bề mặt của một tảng băng trôi”. Bởi lẽ, chắc chắn, không ít vụ án bị hình sự hoá[6]còn chưa được thống kê trong những con số kể trên. Đó là chưa kể đến những vụ án bị hình sự hoá về mặt thực tế song chưa được phát hiện bởi các cơ quan tiến hành tố tụng. Chuyện có những vụ án bị hình sự hoá nhưng chưa được các cơ quan tố tụng phát hiện ra là hoàn toàn có thể tin được bởi lẽ điều đó cũng đáng tin như việc tồn tại tội phạm ẩn. Tội phạm ẩn là tất yếu nhất là trong điều kiện hệ thống các cơ quan tư pháp còn có nhiều bất cập.

III. MỘT SỐ VỤ ÁN TIÊU BIỂU

Thông qua các nguồn tư liệu đã được công bố, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài, Ban chủ nhiệm đã sưu tập và phân tích hàng chục vụ án bị hình sự hoá được báo chí, công luận nhiều lần lên tiếng. Đó là:

1.Vụ án Bạch Minh Sơn - Giám đốc công ty cổ phần BEMAX bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 135 Bộ luật Hình sự 1985).

2.  Vụ án Huỳnh Thị Thu - người được cử làm đại diện cho công ty MORTAPTY (Úc), phụ trách đầu tư ở Việt Nam (bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân theo Điều 158 Bộ luật Hình sự 1985).

3.Vụ án Nguyễn Văn Tiếp (bị truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa theo Điều 135 Bộ luật Hình sự 1985).

4.Vụ án Nguyễn Thị Hồng (bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân theo Điều 158 Bộ luật Hình sự 1985).

5.Vụ án Bùi Thị Lý (bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân theo Điều 158 và 157 Bộ luật Hình sự 1985).

6.Vụ án Đào Thị Mỹ - từ tranh chấp về tài sản cầm cố, Đào Thị Mỹ bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 158 Bộ luật Hình sự 1985)

7.Vụ án Ngô Thị Dung (bị khởi tố, điều tra, truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa theo Điều 135 Bộ luật Hình sự 1985).

8.Vụ án Công ty TNHH Kim Thịnh Phát (giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế bằng cách nhờ sự can thiệp của cơ quan công an).

9.Vụ tranh chấp hợp đồng mua bán dầu DOP (giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán ngoại thương bằng việc nhờ sự giúp đỡ của cơ quan công an).

10.  Vụ án Terry Lee-Daso (bị khởi tố, điều tra về tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân" theo Điều 158 Bộ luật Hình sự 1985):

Qua nghiên cứu thì không chỉ có doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam bị hình sự hoá, mà cả những doanh nghiệp, doanh nhân nước ngoài làm ăn, kinh doanh ở Việt Nam cũng đã trở thành đối tượng bị hình sự hoá.

Ví dụ: Vụ án James Chor Hang Chow[7] (James). James là một công dân Canada gốc Hoa đến TP. HCM để kinh doanh. Trong quá trình làm ăn, ông James nợ Công ty Vận tải biển Kháng Hoà tiền thuê tàu biển, không thanh toán đúng hạn. Cuối tháng 12 năm 1991, Trọng tài kinh tế TP. HCM ra quyết định chung thẩm buộc ông James phải trả cho Công ty Vận tải biển Khánh Hoà 213.000USD. Ông James cho rằng phán quyết của Trọng tài không đúng nên khiếu nại quyết định của Trọng tài kinh tế. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, ông James chưa chịu thanh toán nợ cho Công ty vận tải biển. Do đó, tháng 8 năm 1992, ông James bị bắt giam với tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa; tài sản bị niêm phong, trong đó có một con tầu (tàu Đường Thuỷ 1) do ông James là chủ sở hữu hợp pháp. Cuối năm 1992, cơ quan điều tra Công an TP. HCM tạm giao tàu cho Công ty vận tải biển Khánh Hoà quản lý và khai thác trong thời gian chờ xét xử. Tháng 2 năm 1995, Tòa án nhân dân TP xét xử vụ án ông James phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ông James bị phạt 30 tháng và 5 ngày tù. Án sơ thẩm tuyên giao tàu Đường Thuỷ 1 cho Công ty vận tải biển Khánh Hoà để thanh toán nợ, ông James kháng cáo. Đến ngày 14.8.1995, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP. HCM mở phiên toà phúc thẩm, nhận định: Khoản tiền ông James nợ Công ty là tiền công vận chuyển, nếu ông James vi phạm hợp đồng thì Công ty có quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác. Án tuyên: ông James không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Vụ án Terry Lee-Daso[8]. Trong vụ án này, từ một tranh chấp hợp đồng ngoại thương đã có phán quyết bằng bản án của Trọng tài Quốc tế nhưng chưa được thi hành, bên được bồi thường đã nóng lòng gửi đơn tố cáo đến cơ quan điều tra. Thế là từ đây tố tụng hình sự chen chân vào, khiến cho một công dân nước ngoài (ông Terry Lee - quốc tịch Đài Loan) phải vào vòng lao lý với hơn 2 năm trời là bị can, 8 tháng bị tạm giam. Không chỉ trong thời gian ấy, Lee phải chịu những tổn thất về mặt cơ hội làm ăn kinh doanh, bị nỗi nhục và sức ép về tinh thần.

Qua một vài ví dụ kể trên, có thể thấy, trong thực tế:

- Hình sự hoá không chỉ xảy ra đối với chủ thể của các giao dịch dân sự mà xảy ra cả đối với chủ thể của các quan hệ kinh tế, thương mại, không chỉ bó hẹp trong các giao dịch dân sự, kinh tế nội địa mà cả giao dịch dân sự, kinh tế có yếu tố nước ngoài. Chính vì vậy, người bị hình sự hoá không chỉ là người dân mà cả các nhà doanh nghiệp, không chỉ là người Việt Nam mà cả công dân nước ngoài.

- Hành vi hình sự hoá của cơ quan tố tụng không chỉ là việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hình sự mà còn gồm cả việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như bắt, tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản...

- Hành vi bị đánh giá sai bản chất pháp lý và bị coi là tội phạm chủ yếu là hành vi không trả được nợ (vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong các giao dịch làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ). Vì vậy loại giao dịch chủ yếu hay bị hình sự hoá thường là các hợp đồng mua bán, cho vay, cho mượn, cho thuê, đặt cọc tài sản...

- Loại tội danh thường bị áp dụng nhầm lẫn trong các vụ án này là tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 134, 134A, 157 Bộ luật Hình sự 1985; nay là Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999), “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (Điều 135, 158 Bộ luật Hình sự 1985; nay là Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999).

IV. NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA TÌNH TRẠNG HÌNH SỰ HÓA CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ

1. Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế trước hết xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hình sự hoá

Trong thực tế, hầu hết các vụ án bị hình sự hoá đều gắn với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự như bắt, tạm giữ, tạm giam, niêm phong, kê biên tài sản. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người bị hình sự hoá trước hết xâm phạm tới quyền tự do, dân chủ của công dân. Có thể kể hàng chục vụ án[9] trong đó người bị hình sự hoá đã bị áp dụng biện pháp tạm giam. Thời hạn tạm giam có thể là vài tháng, song cũng có trường hợp lên tới hàng năm trời. Việc khởi tố, bắt, giữ oan sai này còn gây ra những tổn thương tâm lý vô cùng to lớn cho các đối tượng bị hình sự hoá. Đã có trường hợp, do áp lực tâm lý căng thẳng từ việc cơ quan công an thúc ép con nợ phải trả nợ cho chủ nợ, con nợ đã tìm đến con đường tự kết liễu cuộc sống của mình. Việc khởi tố, điều tra, bắt giam, truy tố, xét xử oan sai trong vụ án bị hình sự hoá còn gây thiệt hại nghiêm trọng về sinh mạng chính trị của người.

Việc bắt giam trái pháp luật còn gây ra sự lãng phí thời gian công sức của người bị tạm giam, tạm giữ và của chính cơ quan tiến hành tố tụng. Chỉ cần tính rằng nếu như những con người bị hình sự hoá không bị tạm giam, trong thời gian đó họ vẫn hoạt động bình thường thì họ đã làm được bao việc cho họ và cho xã hội. Bằng quỹ thời gian được tiết kiệm ấy, cơ quan tố tụng có thể chuyên tâm hơn vào việc phát hiện các tội phạm ẩn.

Riêng đối với những người là chủ các doanh nghiệp, là người quản lý, điều hành của doanh nghiệp thì khi bị khởi tố và bị bắt giam, doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng "rắn mất đầu" và hầu hết lâm vào tình trạng phá sản. Đối với những doanh nghiệp may mắn thoát khỏi, thì cũng phải mất vài năm sau, hoạt động của doanh nghiệp mới trở lại bình thường.

Một điều cần kể tới là, khi bị rơi vào vòng lao lý, uy tín của người bị hình sự hoá sẽ bị tổn hại một cách nghiêm trọng. Ngoài ra nếu người bị hình sự hoá là chủ hoặc người quản lý, điều hành doanh nghiệp thì uy tín của doanh nghiệp do người này làm chủ hoặc quản lý điều hành cũng bị giảm sút nghiêm trọng. Hầu hết các đối tác làm ăn, bạn hàng đều có thái độ dè chừng, xa lánh, khiến cho doanh nghiệp mất môi trường làm ăn kinh doanh. Điều đó sẽ đẩy doanh nghiệp vào tình trạng nếu ở mức độ nhỏ cũng gặp phải khó khăn, thua lỗ kéo dài, còn nếu ở mức độ lớn sẽ là sự sụp đổ của doanh nghiệp.

Thêm vào đó, không chỉ bản thân người bị hình sự hoá phải rơi vào cảnh lao đao mà người thân của những người này cũng lâm vào tình trạng tương tự vì bị kéo vào tiến trình kêu oan cho người thân của mình. Những chi phí tố tụng để đi đến được sự giải oan trong thực tế không hề nhỏ.

Việc niêm phong, kê biên tài sản trong các vụ án doanh nghiệp bị hình sự hoá còn làm cho các tài sản của doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng đóng băng, không đưa được vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Theo thống kê của đề tài, đã có hàng chục vụ án tài sản trị giá hàng tỷ, hàng chục tỷ của doanh nghiệp đã bị tách ra khỏi chu trình kinh doanh phục vụ cho hoạt động tố tụng kéo dài nhiều tháng, thậm chí hàng năm trời.

Trong khi đó, mặc dù đã có những quy định bước đầu về việc bồi thường thiệt hại cho những người bị oan sai trong tố tụng, nhưng do tính kém hiệu quả của cơ chế này, những tác động tiêu cực trên của việc hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế càng làm các tác động này thêm trầm trọng.

2. Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế tạo ra nhiều tác động tiêu cực có tính dây chuyền về kinh tế, xã hội

Xét về mặt thực tế, bất cứ doanh nghiệp nào cũng là một cộng đồng về lợi ích. Doanh nghiệp không chỉ mang trong mình lợi ích của bản thân mình mà còn lợi ích của bao doanh nghiệp, bạn hàng, bạn làm ăn khác (các chủ nợ, đối tác làm ăn, người lao động..). Chính vì thế khi các ông chủ (người đứng đầu) doanh nghiệp bị hình sự hoá và lâm vào tình trạng khó khăn, đặc biệt là trường hợp doanh nghiệp bị phá sản, sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền. Trong thời gian qua, đã không ít trường hợp các doanh nghiệp đang ăn nên làm ra đã lâm vào tình trạng phá sản vì mất người quản lý điều hành, bị bạn hàng khác từ chối làm ăn, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản... Hậu quả tiếp đến đó là người lao động bị mất việc làm, kéo theo sự khủng hoảng của các doanh nghiệp bạn hàng, gây tác hại to lớn cho nền kinh tế. Những thiệt hại kể trên rất khó tính được khi đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp, người bị hình sự hoá.

3. Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế xâm hại tới môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam

Những ví dụ thực tế về hình sự hóa giao dịch dân sự kinh tế kể trên là những minh chứng không thể chối cãi của những tác hại do tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế gây ra cho doanh nghiệp trong nước và doanh nhân nước ngoài làm ăn, kinh doanh ở Việt Nam. Rõ ràng, nếu còn để tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự tái diễn thì môi trường đầu tư vốn đã không mấy hấp dẫn ở Việt Nam càng trở nên kém hấp dẫn. Hình ảnh của Việt Nam trong con mắt quốc tế bị bóp méo. Có ý kiến còn cường điệu hoá rằng tình trạng hình sự hoá làm cho cộng đồng quốc tế nhìn xã hội Việt Nam là "một xã hội cảnh sát" chứ không phải là xã hội dân sự[10].

Môi trường kinh doanh có tình trạng hình sự hoá là môi trường mà ở đó, giới doanh nhân không chỉ phải đương đầu với những khó khăn trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi, những thách thức của quá trình hội nhập từ một xuất phát điểm rất thấp về sức cạnh tranh mà họ còn phải hàng ngày, hàng giờ đối phó với nguy cơ can thiệp từ phía các cơ quan tố tụng, nguy cơ bị khép vào các tội danh hình sự ngay cả khi hành vi của họ về bản chất chỉ là những vi phạm kinh tế, dân sự. Trong đời sống kinh doanh, sự lỗ lãi, chậm thanh toán cho đối tác chỉ là những biểu hiện nhất thời và cũng là thường tình trong hoạt động của doanh nghiệp.

Cùng với những tác động tiêu cực đến môi trường kinh doanh, gây sức ép tâm lý đối với doanh nghiệp đang hoạt động, hình sự hoá còn làm nản lòng những người có ý định đầu tư vào các dự án lớn, dài hạn, rủi ro cao, ngại tham gia vào các giao dịch trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng, chủ chốt, quyết định sự phát triển của đất nước như ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bất động sản... Đồng thời hình sự hoá còn gây ra một hiệu ứng phản phát triển đó là các chủ doanh nghiệp, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư không làm gì, không kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng, chờ đợi, chấp nhận hiệu quả thấp thì an toàn hơn những người xông xáo, dám chấp nhận khó khăn, rủi ro trên thương trường mà đầu tư rủi ro, nhắm vào những ngành sản xuất mới, những dịch vụ mới rất có thể sẽ trở thành những động lực quan trọng tạo ra những đột phá cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Theo ý kiến của các nhà doanh nghiệp, các luật sư hành nghề tại các diễn đàn chống hình sự hoá tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế còn tạo ra một động thái là các doanh nhân không dám khai lỗ trong hoạt động của mình. Chỉ sợ khi khai lỗ, doanh nghiệp, doanh nhân sẽ bị biến thành đối tượng để dò xét và rồi dẫn tới bị hình sự hoá.

4. Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế làm giảm niềm tin của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp vào nền công lý

Về bản chất, hình sự hoá là làm oan sai đối với người vô tội. Tình trạng làm oan sai này khiến cho các cơ quan bảo vệ pháp luật (cơ quan công an, viện kiểm sát, toà án) đáng lẽ là chỗ dựa của công lý, là hiện thân của nền công lý, là người bạn của những con người lương thiện nay đã trở thành một yếu tố ở thái cực ngược lại. Đáng lẽ cơ quan bảo vệ pháp luật là người bạn của các doanh nghiệp làm ăn chân chính thì các cơ quan này (khi để xảy ra tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế) trở thành cơ quan can thiệp thô bạo, xâm hại tới lợi ích của người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Có thể nói, tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp vào công lý, là một trong những biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động của nền tư pháp nước nhà. Sự tồn tại của tình trạng hình sự hoá làm những người quan tâm không khỏi nghi ngờ về khả năng tự phát hiện và tự sửa sai của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

V. NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG HÌNH SỰ HOÁ CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ

Với tư cách là sai lầm trong áp dụng pháp luật hình sự, hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

1. Sự chưa rõ ràng trong quy định về cấu thành tội phạm của một số tội danh trong Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự đã quy định rõ, chỉ người nào phạm một tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 2 Bộ luật Hình sự 1985/1999). Chính vì thế, tiêu chuẩn để đánh giá tính chất pháp lý của hành vi, để xét xem hành vi đó phạm tội hay không phạm tội chỉ là các quy định về các yếu tố cấu thành tội phạm của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có sự mập mờ trong các quy định của tội danh trong Bộ luật Hình sự chắc chắn dẫn tới việc áp dụng không đúng, không chuẩn xác quy định của Bộ luật Hình sự và có thể hoặc làm oan người vô tội, hoặc bỏ lọt tội.

Khi nghiên cứu các tội danh thường bị áp dụng sai lầm gây nên tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế đó là các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 134, 135, Điều 157, 158 Bộ luật Hình sự năm 1985), chúng ta dễ thấy tính thiếu rõ ràng trong quy định của các tội danh này.

Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (công dân hoặc xã hội chủ nghĩa), phần mô tả về hành vi phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ quy định "Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản... thì bị phạt cải tạo..." (Điều 135/158). Muốn áp dụng chính xác điều luật này, cụm từ “lạm dụng tín nhiệm” và “chiếm đoạt tài sản” cần phải được làm rõ.

Đối với tội lừa đảo, không chỉ trong Bộ luật Hình sự 1985 mà ngay cả trong Bộ luật Hình sự 1999, lời văn của tội danh này cũng được quy định hết sức khái quát "Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản... thì bị phạt..." (Điều 134/157 Bộ luật Hình sự 1985 và Điều 139 Bộ luật Hình sự 1999). Muốn áp dụng chính xác điều luật này, rõ ràng các cụm từ “bằng thủ đoạn gian dối” và “chiếm đoạt tài sản” cần phải được làm rõ.

Trong lần sửa đổi mới nhất, Bộ luật Hình sự 1999 vừa qua, tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có được quy định rõ ràng hơn. Điều 140 Bộ luật Hình sự 1999. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, khi đọc kỹ lời văn của các điều luật kể trên, có thể thấy, vấn đề mấu chốt để chứng minh một người phạm tội lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chứng minh sự tồn tại của hành vi chiếm đoạt tài sản. Thế nhưng, thế nào là chiếm đoạt tài sản thì Bộ luật Hình sự vẫn chưa quy định cụ thể. Cần lưu ý thêm là trong các vụ án bị hình sự hoá, vấn đề mắc nhất chính là xét xem trong những trường hợp nào, người không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản, bị coi là có hành vi chiếm đoạt tài sản, trường hợp nào thì không.

Trong thời gian qua, trong giới lý luận, có nhiều ý kiến cho rằng, chính sự chưa hoàn thiện của lý luận về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự, sự không phân biệt rõ hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, kinh tế với hành vi phạm tội là nguyên nhân và điều kiện của tình trạng hình sự hoá.

Đề tài lại cho rằng, khi tiến hành tố tụng, việc phân biệt rõ sự khác nhau giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự không là vấn đề cần giải quyết trong một vụ án hình sự cụ thể. Vấn đề trước tiên và tối quan trọng là phải trả lời bằng được câu hỏi có hay không có hành vi phạm tội. Hay nói cách khác, vấn đề mấu chốt đảm bảo việc giải quyết đúng hay không đúng của vụ việc là trả lời câu hỏi hành vi của chủ thể không trả  nợ, không hoàn trả tài sản có thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự hay không. Khi xảy ra tranh chấp hoặc các biểu hiện vi phạm nghĩa vụ dân sự mà bị cáo buộc là phạm tội thì điều quan trọng mà cơ quan tố tụng phải làm không phải là xem có hay không có vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế mà vấn đề mấu chốt là phải xem xem trong vụ việc đang giải quyết đó có hay không có hành vi thoả mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Việc chứng minh có sự vi phạm nghĩa vụ được xác lập trong giao dịch dân sự, kinh tế rõ ràng hoàn toàn không có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc gây ra sự nhầm lẫn trong việc hình sự hoá.

Vậy là, bản chất của sự nhầm lẫn của cơ quan tố tụng trong các vụ án bị hình sự hoá không phải là sự lầm lẫn giữa vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự kinh tế với tội phạm mà chính là sự lầm lẫn trong việc nhận định hành vi của người bị cáo là tội phạm hay không. Nói chính xác, với các tình tiết của vụ việc đã thu thập được, cơ quan tố tụng đã đánh giá sai tính chất của sự việc, từ sự thật là không có hành vi phạm tội, không có hành vi cấu thành tội phạm trở thành có hành vi cấu thành tội phạm.

Như vậy, đặt ra việc phân biệt vi phạm dân sự với vi phạm hình sự rõ ràng ít ý nghĩa về mặt thực tiễn.

2. Sự bất cập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng

Bản chất của việc hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế chính là sự sai lầm của các cơ quan tố tụng, trước hết là cơ quan điều tra (thuộc lực lượng công an). Cơ quan điều tra là người thực hiện những biện pháp đầu tiên của quá trình tố tụng. Nếu cơ quan điều tra đánh giá sai tính chất pháp lý của các hành vi vi phạm nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự kinh tế, coi các hành vi đó là tội phạm thì sẽ có cơ hội cho việc hình sự hoá len chân vào. Tiếp đó, nếu như Viện kiểm sát chủ động hơn trong việc thực hiện các quyền năng về giám sát việc thực thi pháp luật trong quá trình điều tra của cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có thể ngăn chặn được sớm hơn tình trạng hình sự hoá. Tuy nhiên, thực tế đã không diễn ra đúng như vậy.

Mặc dù các quy định về tội danh lạm dụng tín nhiệm hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản vẫn còn có không ít điểm chưa rõ ràng, song không phải là tất cả. Chính vì thế, không ít trường hợp trong thực tế, sự nhận thức sai lầm bản chất pháp lý của hành vi dẫn tới việc hình sự hoá là do những bất cập trong bản thân tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Sự bấp cập này thể hiện ở các điểm sau đây:

Thứ nhất là trình độ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử chưa đáp ứng được yêu cầu. Như phần trên cho thấy, việc tránh lầm lẫn khi đánh giá bản chất pháp lý của hành vi trong các vụ án bị hình sự hoá không hề đơn giản, do vậy, khi mà trình độ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử thấp thì tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế sẽ càng trở nên phổ biến hơn.

Thứ hai, tình trạng thiếu cán bộ dẫn tới sự quá tải trong công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tố tụng chắc chắn cũng là một nguyên nhân quan trọng làm giảm chất lượng công tác áp dụng pháp luật hình sự trong đó có việc gây ra tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế.

Thứ ba, tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp, ý thức đạo đức của không ít cán bộ chưa cao càng tạo điều kiện cho hiện tượng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế có cơ hội tồn tại. Trong các vụ án bị hình sự hoá được nêu ở phần trước, Tòa án nhân dân tối cao đã nhiều lần nhắc tới việc toà án cấp phúc thẩm đã không nghiên cứu kỹ hồ sơ, chứng cứ có liên quan nên không phát hiện ra tình trạng oan sai trong vụ án mình giải quyết. Điều đó cho thấy ý thức trách nhiệm của một số thẩm phán còn chưa cao. Ngoài ra, việc tồn tại các trường hợp cán bộ tố tụng cố ý hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế để trục lợi cũng cho thấy sự giảm sút trong uy tín, lương tâm, đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ tố tụng[11]. Trong thực tế, tình trạng chủ nợ nhờ cơ quan công an giải quyết việc đòi nợ cho mình là có thực, nhiều nơi còn là nhức nhối.

3. Sự bất cập trong các quy định của pháp luật dân sự, kinh tế và sự kém hiệu quả, hiệu lực của các thiết chế giải quyết tranh chấp kinh tế, dân sự

Tình trạng pháp luật dân sự, kinh tế (cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng) có những bất cập, chưa thực sự bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp cũng là một yếu tố thúc đẩy các bên tranh chấp từ bỏ phương thức giải quyết tranh chấp của luật tư để yêu cầu cơ quan tố tụng hình sự hoá với hi vọng sớm chấm dứt được sự tranh chấp, đòi lại được tài sản của mình.

Có thể kể đến hàng chục bất cập trong pháp luật dân sự, kinh tế khiến cho pháp luật dân sự, kinh tế chưa phải là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Trong số đó, phải kể đến vấn đề quy định thời hạn khởi kiện vụ án kinh tế (6 tháng) là quá ngắn. Sau khi hết thời hiệu khởi kiện, doanh nghiệp đương nhiên mất quyền khởi kiện nên không đòi được tài sản đã nhờ cơ quan công an hình sự hoá. Hoặc vấn đề khó khăn khi thực hiện việc phá sản doanh nghiệp cũng làm cho chủ doanh nghiệp, người quản lý điều hành doanh nghiệp mất công cụ bảo vệ mình khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Ngoài ra, cho đến nay, vẫn chưa có giải pháp cơ bản để phân định rõ các loại hợp đồng dân sự, kinh tế, thương mại, từ đó dẫn tới việc lúng túng cho các chủ thể khi chọn lựa phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, sự đùn đẩy giữa các toà án trong việc thụ lý các tranh chấp, sự lúng túng trong việc chọn lựa quy phạm pháp luật áp dụng cho trong những trường hợp tranh chấp cụ thể.

Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài lại càng bộc lộ rõ những bất cập cả về mặt quy định của pháp luật lẫn về mặt thực tế. Thực tiễn xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trọng tài ở Việt Nam thời gian qua cho thấy sự chậm trễ của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề này. Một vấn đề có tính mấu chốt để đảm bảo cho trọng tài có thể hoạt động được theo đúng thông lệ quốc tế là phán quyết của trọng tài trong nước phải được công nhận và cho thi hành bằng toà án thì Việt Nam lại không thừa nhận. Điều 31 Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ quy định rằng: sau khi đã có phán quyết của trọng tài mà các bên không tự nguyện thi hành thì các bên có thể kiện ra toà án để giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế. Quy định này được coi là một sự phủ nhận một cách rõ ràng vai trò của các trung tâm trọng tài ở nước ta và làm giảm hiệu lực thực tế của Nghị định 116/CP.

Để giải quyết được vấn đề, chí ít phải có văn bản tầm Pháp lệnh để mở rộng thẩm quyền cho toà án thực hiện việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài trong nước. Tuy nhiên, nguồn pháp luật về trọng tài của nước ta hiện tại chỉ vẻn vẹn có 1 Nghị định của Chính phủ và vài Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Tình trạng này làm kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp, sự thiếu hiệu lực và hiệu quả của các cơ chế giải quyết tranh chấp dẫn tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, doanh nghiệp chưa được bảo vệ kịp thời. Điều này tất yếu nảy sinh tâm lý thiếu tin tưởng vào các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, dân sự hiện đang tồn tại ở Việt Nam. Thay vào đó, không ít cá nhân, doanh nghiệp đã từ bỏ phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp truyền thống của luật tư quay sang nhờ cậy vào các cơ quan công quyền dùng biện pháp hành chính, hình sự (công cụ của luật công) để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.

4. Nguyên nhân từ phía các cá nhân, doanh nhân, doanh nghiệp bị hình sự hoá

Bản thân các doanh nghiệp, cá nhân với tư cách là chủ nợ cũng chưa có ý thức pháp luật đầy đủ, hoặc chỉ chạy theo lợi ích cá nhân mà cố tình đẩy vụ tranh chấp dân sự, kinh tế lên thành vụ hình sự để mau chóng đòi lại tài sản. Đây là các doanh nhân, người dân còn mang trong mình tư duy kiểu cũ; họ cho rằng cứ con nợ không trả được nợ là cho rằng con nợ đã phạm tội và nhờ công an giải quyết.

Ngoài ra, cũng không ít trường hợp, cá nhân, nhà doanh nghiệp không ý thức đầy đủ về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chưa hiểu biết pháp luật để tự bảo vệ mình trước các hành vi hình sự hoá. Ngay cả doanh nhân bị hình sự hoá cũng mắc phải sai lầm này. Chẳng hạn có doanh nhân chưa ý thức hết được vai trò của người luật sư hoặc những người tư vấn pháp luật trong quá trình hoạt động của mình cũng như trong việc đấu tranh chống lại các hành vi hình sự hoá mà mình là nạn nhân. Nhiều vụ hình sự hoá có thể dẹp bỏ ngay từ đầu nếu người có hành vi bị hình sự hoá biết đến với các luật sư để nhờ cậy vào chuyên môn của họ, cái mà mình không am tường.

5. Nền tư pháp Việt Nam chưa tương thích với yêu cầu khách quan trong đổi mới, cải cách kinh tế; đổi mới, cải cách hệ thống chính trị, dân chủ hoá đời sống

Theo quan điểm của Đảng ta, cải cách, đổi mới của nước ta trước hết được thực hiện trong kinh tế. Thực tiễn cải cách, đổi mới của hơn 15 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của quan điểm này. Tuy nhiên, đã đến lúc phải thấy rằng, sự nghiệp đổi mới, cải cách kinh tế không thể tiến xa và tiến nhanh hơn nếu như chúng ta chưa chú trọng đúng mức đến việc đổi mới cải cách hệ thống chính trị nói chúng, đổi mới, cải cách nền hành chính và nền tư pháp nói riêng. Phải khẳng định rằng, sự vận hành có hiệu lực và hiệu quả của nền tư pháp là một nhân tố không thể thiếu để sự nghiệp đổi mới, cải cách kinh tế được thành công. Hiện tượng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế với tư cách là một biểu hiện của sự bất cập trong nền tư pháp là minh chứng không thể phủ nhận của mối quan hệ hữu cơ giữa nền tư pháp với sự vận hành bình thường của nền kinh tế.

Trong các diễn đàn chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế thời gian qua, các nhà doanh nghiệp đã có lý khi nói rằng: trong khi nền hành chính của chúng ta đã có nhiều đổi mới, cải cách đáng kể phục vụ sự vận hành của nền kinh tế thị trường đang được thiết lập và từng bước phát triển ở nước ta thì nền tư pháp vẫn còn trong trạng thái cũ, cách vận hành, cách hoạt động, cách hành xử vẫn của những con người cũ, theo tư duy cũ, dựa trên nền tảng quy phạm cũ. Nền tư pháp cũng cần được mở cửa và đổi mới phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, duy trì nền công lý của xã hội - một nền công lý có tính chất dân chủ, có chất lượng, nền công lý của cơ chế thị trường, nền công lý của sự tự do, có cách nhìn về hoạt động của doanh nghiệp, doanh nhân nên rộng lượng và bớt dò xét hơn..

VI. KIẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP CẦN ÁP DỤNG ĐỂ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HÌNH SỰ HOÁ CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ, KINH TẾ

Trên cơ sở phân tích thực trạng, nguyên nhân của tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, đề tài đã đưa ra một số biện pháp khắc phục tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế sau đây:

1. Sớm ban hành thông tư hướng dẫn có tính liên ngành về các tội danh thường bị áp dụng sai trong thực tiễn gây ra tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế

Như đã trình bày, hình sự hoá trong thực tế thường chủ yếu diễn ra xung quanh việc áp dụng tội danh "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Do cấu thành của các tội danh này được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 quá chung chung, nên việc áp dụng chúng dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau. Vì vậy, tội danh "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" và "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" đã trở thành một trong những trọng tâm nghiên cứu để hoàn thiện trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, ngay cả khi đã được hoàn thiện như quy định của Bộ luật Hình sự 1999, các ý kiến phản hồi từ thực tiễn vẫn cho thấy những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các tội danh này nếu như không có sự hướng dẫn chi tiết hơn từ các cơ quan có thẩm quyền.

Đáng lưu ý là, ngay từ khi Bộ luật Hình sự 1999 chưa được ra đời, để góp phần khắc phục tình trạng hình sự hoá, trong báo cáo sơ kết công tác xét xử 6 tháng đầu năm 1998, Tòa án nhân dân tối cao đã có những hướng dẫn cho các toà án cấp dưới để làm cơ sở tránh các trường hợp hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế. Tuy nhiên, các hướng dẫn này chỉ thuần túy là hướng dẫn về mặt nghiệp vụ chứ không phải hướng dẫn dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật[12]. Thêm vào đó, ngay cả trường hợp các hướng dẫn này tồn tại dưới dạng Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các hướng dẫn này chỉ mang tính chất nội bộ trong ngành Tòa án nhân dân  nên không có giá trị bắt buộc đối với cơ quan điều tra và viện kiểm sát. Tuy nhiên, hình sự hoá không phải là vấn đề riêng của ngành toà án, cũng không phải vấn đề riêng của ngành kiểm sát hay công an, mà đây là vấn đề có tính chất liên ngành. Chính vì vậy, cần có sự phối hợp có tính chất liên ngành mà hành động thích hợp nhất và cấp thiết nhất hiện nay là cả 3 ngành (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an) phải phối hợp nhau lại để xây dựng được Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các tội danh dễ bị lạm dụng trong các vụ án bị hình sự hoá.

 Trong thông tư liên tịch này cần làm rõ các vấn đề sau đây: thế nào là hành vi chiếm đoạt, các biểu hiện; cách chứng minh ý thức chiếm đoạt; các trường hợp hay bị nhầm lẫn. Có như thế, các cơ quan tố tụng mới có cách nhìn nhận và đánh giá thống nhất khi thụ lý các vụ việc thường dễ bị hình sự hoá.

2. Nâng cao hơn nữa tính dân chủ trong các hoạt động tố tụng

Tình trạng luật sư không được các điều tra viên, kiểm sát viên tôn trọng và tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền của mình là khá phổ biến. Khi ra toà, tình trạng hội đồng xét xử chưa thực sự coi trọng ý kiến của luật sư cũng là điều thường diễn ra. Trong khi đó, việc sai lầm trong các vụ án bị hình sự hoá chủ yếu là do sai lầm trong đánh giá bản chất pháp lý của hành vi, là sự thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu toàn diện theo hướng bất lợi cho người bị hình sự hoá. Việc tạo điều kiện cho luật sư thực hiện tốt hơn nữa vai trò của mình chính là biện pháp thể hiện việc đảm bảo dân chủ trong hoạt động tố tụng và cũng góp phần giải quyết vụ việc đúng pháp luật hơn.

3. Xây dựng sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ cho ngành kiểm sát và các cơ quan điều tra

Trên cơ sở có Thông tư liên tịch hướng dẫn việc áp dụng các tội danh thường gặp trong các vụ án bị hình sự hoá, tùy điều kiện cụ thể của các ngành, mỗi ngành cần có hướng dẫn riêng đề ra các biện pháp cụ thể để chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế. Chẳng hạn, theo đề tài, ngành kiểm sát và ngành công an cần soạn thảo các cuốn sổ tay hướng dẫn kinh nghiệm nghiệp vụ để tránh hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế. Bên cạnh đó, mỗi ngành, nhất là ngành công an có thể biên soạn những cuốn sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ khởi tố, điều tra riêng các tội phạm này để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế.

4. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật dân sự, kinh tế, hoàn thiện các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế và thi hành án

- Hàng loạt bất cập trong pháp luật dân sự, kinh tế cần được hoàn thiện như:

+ Hợp nhất các quy phạm pháp luật về hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại.

- Hàng loạt bất cập trong thể chế, thiết chế giải quyết tranh chấp kinh tế cần hoàn thiện:

+ Xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự, cần phải tiến hành sáp nhập toà dân sự và toà kinh tế để tránh sự đùn đẩy, dây dưa giữa các toà. Cải cách hệ thống các toà áp dụng luật tư theo xu hướng một cửa. Đây là kinh nghiệm mà thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện.

+ Xây dựng pháp luật trọng tài, trong đó cần chú ý tham khảo các tiêu chuẩn có tính chất quốc tế về tổ chức và hoạt động của trọng tài. Thừa nhận việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài trong nước.

+ Nâng cao năng lực, hiệu lực của cơ quan thi hành án nhằm đảm bảo bản án, phán quyết của toà án được thi hành nhanh chóng, hiệu quả.

Sớm hoàn thiện những bất cập trong pháp luật về dân sự, kinh tế cũng như các quy phạm tố tụng tương ứng để nâng cao hiệu lực của pháp luật dân sự, kinh tế nâng cao chất lượng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thông qua tố tụng dân sự, kinh tế.

5. Tăng cường kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tố tụng, thay đổi tư duy, phong cách làm việc của cơ quan tư pháp

Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử các án hình sự về các tội phạm dễ bị hình sự hoá để kịp thời phát hiện khi bị hình sự hoá, sớm khắc phục, sửa chữa các oan sai trong việc áp dụng pháp luật hình sự, xử lý thật nghiêm minh, kịp thời các cán bộ trong các cơ quan tố tụng đã có hành vi hình sự hoá các giao dịch dân sự- kinh tế, nhất là đối với các cán bộ cố ý thực hiện hành vi hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế để trục lợi.

Rõ ràng, hình sự hoá là hành vi của cơ quan tố tụng và chỉ là của cơ quan tố tụng, chính vì thế, việc chống hình sự hoá phải đặt mục tiêu trước tiên vào hoạt động của các cơ quan tố tụng. Phải coi cơ quan tố tụng là cái sàng để lọc các hành vi cố tình đưa vụ việc dân sự, kinh tế thành vụ việc hình sự của các doanh nghiệp, người dân thiếu hiểu biết pháp luật hoặc cố tình lợi dụng kẽ hở của pháp luật. Phải coi cơ quan tố tụng là đối tượng chính, có ý nghĩa quyết định tới việc thực hiện thành công hay không việc chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế. Muốn vậy, về lâu dài, việc cải cách nền tư pháp, nâng cao năng lực, trình độ của các cơ quan tố tụng phải được đặc biệt coi trọng.

6. Sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế bồi thường thoả đáng, kịp thời cho doanh nghiệp, cá nhân bị oan sai do hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế

Mặc dù Bộ luật Dân sự 1995 và Nghị định số 47/CP ngày 3/5/1997 đã quy định vấn đề bồi thường thiệt hại khi người tiến hành tố tụng gây ra, nhưng các quy định của những văn bản này vẫn còn mang tính nguyên tắc. Các quy định chưa làm rõ người nào, cơ quan nào phải chịu trách nhiệm đến mức độ nào khi để xảy ra oan sai. Các quy định trên cũng chưa giải quyết vấn đề cách xác định thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần cho từng dạng oan sai cụ thể. Các văn bản này cũng chưa phân biệt thế nào là xử lý oan, thế nào là xử lý sai, nên khi xác định mức bồi thường trong thực tế các cơ quan tố tụng gặp rất nhiều lúng túng. Ngoài ra, việc hội đồng xét giải quyết bồi thường không cho phép người bị xử lý oan sai tham dự làm cho không ít người nghi ngờ về tính dân chủ, công bằng của cơ chế này.

Những bất cập đó đã làm cho cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị hình sự hoá trong thực tế rất kém hiệu lực và hiệu quả. Chính vì thế, việc hoàn thiện cơ chế giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan sai nói chung và người bị hình sự hoá là công việc cấp bách, nên thực hiện trong thời gian tới.

7. Có cơ chế khuyến khích, cải thiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp, doanh nhân với giới luật sư, các công ty tư vấn pháp luật.

Khuyến khích các doanh nghiệp, doanh nhân, người dân sử dụng các dịch vụ pháp lý. Tăng cường tính tích cực về mặt pháp luật của các doanh nghiệp, doanh nhân.

8. Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là giáo dục các chuẩn mực pháp luật của nền kinh tế thị trường

9. Tạo dư luận lành mạnh lên án hiện tượng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế

Để thực hiện được điều này, hệ thống báo chí đóng vai trò rất quan trọng. Báo chí phải gióng hồi chuông báo động về những vụ việc hình sự hoá, công bố rộng rãi để công luận biết, phải theo sát từng cách xử lý người bị oan sai và cả các cán bộ gây ra tình trạng oan sai để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Báo chí cũng thực hiện việc quảng bá cho các chuẩn mực kinh doanh văn minh, lành mạnh, tôn vinh các doanh nhân, doanh nghiệp, người dân làm ăn chân chính.



[1] Xem chuyên đề của TS Phạm Hồng Hải trong đề tài này: Về một tình trạng được gọi là hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

[2] Xem Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật - NXB Chính trị quốc gia 1994 - trang 124); TSKH Đào Trí Úc: Luật Hình sự Việt Nam (quyển 1 - Những vấn đề chung - NXB Khoa học Xã hội - 2000 trang 85).

[3] Số liệu nêu trong tham luận của TS. Phạm Hồng Hải tại Hội thảo “Các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế ngày 19/10/1999 tại Bộ Tư pháp.

[4] TS. Nguyễn Văn Hiện (Tạp chí Kiểm sát số 6/1999).

[5] Báo Kinh doanh và Pháp luật số 44 ra ngày 2/11/2000 (trang 15). Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 28/11/2000 (trang 3)

[6] Từ hình sự hoá trong đề tài này nếu không chú thích gì khác, được hiểu là “hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”, chứ không phải là khái niệm “hình sự hoá” trong lý luận luật hình sự truyền thống.

[7] Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh ngày 29/4/2000.

[8] Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh ngày 3/10/2000.

[9] Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, năm 1997, chỉ riêng đối với 2 loại tội là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 135 Bộ luật Hình sự 1985) và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 158 Bộ luật Hình sự 1985), Viện kiểm sát nhân dân  các cấp của 40 tỉnh, thành phố đã ra quyết định đình chỉ điều tra 106 vụ với 118 bị can vì hành vi của những người trên không cấu thành các tội mà họ đã bị khởi tố, điều tra. Trong 118 người đã bị khởi tố, điều tra trái pháp luật ấy thì có tới 46 người đã bị cơ quan điều tra áp dụng biện pháp tạm giam.

[10] Tham luận của ông Nguyễn Tiến Lập - Phó Chủ tịch Công ty Investconsult Group tại diễn đàn Chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế.

[11] Vấn đề đòi nợ thuê được ông Lại Hợp Việt cũng đề cập tới diễn đàn chống hình sự hoá.

[12] Theo Điều  Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật thì Tòa án nhân dân tối cao chỉ có thể ra văn bản quy phạm pháp luật dưới dạng Nghị quyết của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao hoặc Thông tư liên tịch với các cơ quan, ban, ngành khác.

 
 

 

Nội dung toàn văn
File đính kèm downloadTải về