Trang chủ > Đề
tài >
Nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp đến năm 2030
|
Tên đề tài
|
Nghiên cứu đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp đến năm 2030
|
|
Nội dung tóm tắt
|
Đề tài được thực hiện nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất định hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp đến năm 2030 đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Các mục tiêu cụ thể của Đề tài:
-
Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý và quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp;
-
Tham khảo kinh nghiệm và mô hình quản lý luật sư, công chứng và giám định tư pháp ở một số quốc gia và khả năng vận dụng cho Việt Nam;
-
Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp trong giai đoạn hiện nay. Chỉ rõ các thành công, các hạn chế, tồn tại và xác định chính xác cácônguyên nhân của những hạn chế, tồn tại;
-
Đề xuất được các phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện, bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đến năm 2030.
Sau đây là tóm tắt kết quả nghiên cứu của Đề tài:
CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG, GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Trong chương này, Đề tài tập trung giải quyết 3 nội dung. Cụ thể:
Nội dung 1: Đề tài làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan như: quản lý, quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước và quản lý công mới, luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, công chứng và quản lý nhà nước về công chứng, giám định tư pháp và quản lý nhà nước về giám định tư pháp và làm rõ về vị trí, vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp và vấn đề tự quản của hội.
Theo đó, Đề tài khẳng định quan điểm về:
-
Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra... các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất.
-
Quản lý nhà nước được hiểu theo hai phạm vi: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
+ “Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng” là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
+ Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là toàn bộ hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan, đơn vị, tổ chức trực thuộc.
-
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân.
-
Quản lý công mới là xây dựng một Chính phủ gọn nhẹ, hoạt động nhanh nhạy và hiệu quả hơn nhằm tăng năng lực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá. Hoạt động quản lý hành chính không chỉ làm chức năng "cai trị" mà chuyển dần sang chức năng "phục vụ", cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Những xu hướng này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu cải cách hành chính mà Chính phủ Việt Nam đang hướng tới.
Và khẳng định, đây cũng là định hướng đã được khẳng định tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
-
Về mô hình quản lý, Đề tài cũng đã khẳng định quan điểm của đề tài về:
-
Mô hình quản lý luật sư, hiện đang áp dụng mô hình kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản ở hai cấp, theo đó:
+ Về chủ thể quản lý nhà nước: (1) Ở trung ương, có Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư; (2) Ở địa phương, có Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương (Điều 83).
Luật cũng quy định Liên đoàn luật sư Việt Nam (là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho luật sư, các Đoàn luật sư) và Đoàn luật sư (là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư) các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện tự quản luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của mình; đồng thời phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư và hành nghề luật sư (Điều 84).
+ Về đối tượng quản lý, Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã quy định khá cụ thể về đối tượng quản lý. Theo đó, Luật xác định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật quy định về nguyên tắc, điều kiện, phạm vi, hình thức hành nghề, tiêu chuẩn, quyền, nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, quản lý luật sư và hành nghề luật sư, hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (Điều 1) và khẳng định Nhà nước thống nhất quản lý về luật sư và hành nghề luật sư (đoạn hai, khoản 2 Điều 6).
+ Về nội dung quản lý luật sư, phù hợp với đặc thù của hoạt động nghề nghiệp luật sư, tại Điều 6 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 đã xác định nguyên tắc quản lý luật sư và hành nghề luật sư.
-
Về Mô hình quản lý công chứng, hiện đang áp dụng mô hình hai cấp quản lý nhà nước về công chứng, theo đó:
+ Về chủ thể quản lý nhà nước: (1) Ở trung ương, có Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công chứng; (2) Ở địa phương, có Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên được tham gia cùng cơ quan quản lý nhà nước trong một số hoạt động quản lý theo luật định.
Do đặc thù của hoạt động chứng, Luật cũng đã quy định cụ thể về trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp và định kỳ hang năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để tổng hợp báo cáo Chính phủ.
+ Về đối tượng quản lý, Luật Công chứng năm 2014 đã xác định rõ đối tượng quản lý. Đó là công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên.
+ Về nội dung quản lý công chứng. Như trên đã nêu, hoạt động công chứng là một nghề, theo đó, công chứng viên khi thực hiện công chứng phải tuân thủ cácônguyên tắc hành nghề, như: (1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (2) Khách quan, trung thực; (3) Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; và (4) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng.
Phù hợp với nguyên tắc hành nghề nghiệp của chức danh này, tại các Điều 69 và 70 Luật Công chứng đã xác định rõ trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, ngành có liên quan; của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các Sở Tư pháp trong công tác quản lý nhà nước về công chứng.
-
Về Mô hình quản lý giám định tư pháp, hiện đang áp dụng áp dụng mô hình hai cấp quản lý, song trùng trực thuộc, theo đó:
+ Về chủ thể quản lý: (1) Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp và (2) Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bộ, cơ quan ngang bộ khác thực hiện quản lý nhà nước và chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp ở lĩnh vực do mình quản lý; phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giám định tư pháp ở địa phương.
+ Về đối tượng quản lý là giám định viên tư pháp; tổ chức giám định tư pháp; người giám định tư pháp theo vụ việc, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc và hoạt động giám định tư pháp.
+ Nội dung quản lý giám định tư pháp. Theo quy định của Chương VII Luật giám định tư pháp năm 2012 (từ Điều 39 đến Điều 44) thì nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể quản lý quản lý đó, quản lý nhà nước về giám định tư pháp được quy định theo hướng gắn với chức năng, nhiệm vụ đặc thù của từng Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh.
Nội dung 2: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý luật sư, quản lý công chứng, quản lý giám định tư pháp từ đó rút ra các bài học và khả năng vận dụng cho Việt Nam. Các kết luận được rút ra như sau:
-
Với quan niệm, "Bổ trợ tư pháp" là trợ giúp, tạo điều kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho các cá nhân công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các hoạt động "Bổ trợ tư pháp" liên quan chặt chẽ, hướng vào hoạt động tư pháp, có tính chất tư pháp nhưng không lẫn lộn với hoạt động tư pháp với tư cách là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Các hoạt động bổ trợ tư pháp gồm hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, giám định, công chứng, lí lịch tư pháp... Trong đó, luật sư, công chứng, giám định tư pháp là các hoạt động mang tính chất điển hình cho bổ trợ tư pháp. Với đặc điểm, cơ quan, đơn vị hoạt động bổ trợ tư pháp có thể do Nhà nước thành lập, cũng có thể do cá nhân công dân, tổ chức thành lập và thường không mang tính bắt buộc – chỉ có ý nghĩa phụ giúp, hỗ trợ cho hoạt động tư pháp. Vì vậy, hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp có những điểm chung và những điểm khác biệt, phù hợp với mục tiêu và đối tượng quản lý; cũng như các tính đặc thù của từng chức danh nghề nghiệp.
-
Từ nội dung quản lý nhà nước, phù hợp với đặc thù của từng hoạt động của từng chức danh nghề nghiệp, hiện nay nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp được giao cho Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, như đã phân tích, mô hình quản lý đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp là không hoàn toàn giống nhau. Theo đó:
-
Đối với luật sư, theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 hiện đang áp dụng mô hình kết hợp quản lý nhà nước với chế độ tự quản ở hai cấp về luật sư;
-
Đối với công chứng, theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 hiện đang áp dụng mô hình hai cấp quản lý nhà nước về công chứng;
-
Đối với giám định tư pháp, theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 thì hiện nay trong lĩnh vực quản lý nhà nước về giám định tư pháp, áp dụng mô hình hai cấp quản lý, song trùng trực thuộc.
Đối với từng mô hình Luật và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đã quy định một cách cụ thể về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, đơn vị và trách nhiệm tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp tương ứng.
-
Việc xác định các mô hình quản lý đối với hoạt động của luật sư, công chứng, giám định tư pháp về cơ bản là phù hợp với thông lệ quốc tế và quản lý các chức danh này ở các nước. Tuy nhiên, do lịch sử phát triển của các chức danh này là không giống nhau và do tác động của công cuộc cải cách (cải cách hành chính, cải cách tư pháp) đối với các hoạt động này là khác nhau, lên trong thời gian tới hoạt động quản lý đối với các chức danh này rất cần tiếp tục được hoàn thiện để hỗ trợ, thúc đẩy và tăng cường quản lý nhằm kịp thời, nhanh chóng, chính xác cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho các cá nhân công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG, GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Trong Chương này, Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp trên các phương diện: (i) Tổng quan kết quả đạt được trong quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp; (ii) Đánh giá thực trạng công tác quản lý (quản lý nhà nước và tự quản) đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư; đối với công chứng và tổ chức hành nghề công chứng; đối với tổ chức và hoạt động giám định tư pháp trên các bình diện: (1) Công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật; (2) Thực trạng quản lý nhà nước ; (3) Thực trạng hoạt động tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp và (4) Một số vướng mắc bất cập trong quản lý. Ngoài việc chỉ rõ các kết quả đã đạt được, Đề tài tập trung xác định các vướng mắc bất cập trong quản lý nhà nước và xác định các nguyên nhân để từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp đổi mới. Cụ thể:
-
Công tác quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư thời gian qua có những hạn chế nhất định, như:
Thứ nhất, quy định về quản lý nhà nước trong Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành đối với nghề luật sư còn những điểm chưa rõ ràng và thiếu công cụ pháp lý hiệu quả, thiếu căn cứ pháp lý để giải quyết, xử lý các vi phạm pháp luật trong tổ chức và hoạt động của luật sư nên đã phần nào hạn chế hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư và hành nghề luật sư. Quy định về tiêu chuẩn trở thành luật sư còn lỏng lẻo, dễ dãi dẫn đến còn có cách hiểu khác nhau, sự áp dụng không thống nhất trên thực tế.
Thứ hai, hệ thống các văn bản pháp luật về thanh tra nằm rải rác ở các văn bản chuyên ngành, nhiều điểm còn bộc lộ bất hợp lý, không phù hợp với tình hình và yêu cầu của thực tiễn; việc xử phạt vi phạm hành chính trong một số trường hợp chưa đủ tính răn đe, thiếu quy định về chế tài để xử lý vi phạm, biện pháp bảo đảm thi hành các kết luận thanh tra, kiểm tra như thế nào; tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra ở Trung ương và địa phương còn mỏng.
Thứ ba, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa quy định hết hoặc quy định chưa thống nhất các hành vi theo quy định của Luật luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành. Chế tài xử lý cũng như các quy định phòng ngừa vi phạm của luật sư còn chưa rõ ràng đầy đủ dẫn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có công cụ để quản lý, xử lý.
Thứ tư, các văn bản điều chỉnh hoạt động của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng chưa thực sự tạo điều kiện cho luật sư trong việc tiếp xúc bị can bị cáo; việc thực hiện pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng chưa được thực hiện nghiêm túc trên thực tiễn.
Thứ năm, chất lượng luật sư, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của hoạt động tư pháp, cải cách tư pháp; chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn, chưa gắn kết với việc đào tạo các chức danh tư pháp khác; công tác đào tạo nguồn luật sư chưa thực sự góp phần quan trọng làm chuyển biến chất lượng công tác bào chữa, xét xử.
Thứ sáu, việc tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam trong những năm gần đây chưa được thực hiện tốt, có một số vi phạm mang tính hệ thống. Một bộ phận luật sư không tuân thủ Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật.
Thứ bảy, vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư hiện nay có điểm còn chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của hoạt động luật sư. Một số nhiệm vụ hiện nay pháp luật giao cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư thực hiện, nhưng trên thực tế chưa được triển khai thực hiện hoặc đã triển khai nhưng chưa hiệu quả.
-
Một số vướng mắc, bất cập trong quản lý công chứng và hành nghề công chứng
Việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động công chứng từ tính chất hành chính bao cấp sang mô hình xã hội hoá, chuyên nghiệp hoá và dịch vụ công đã đặt ra cho công tác quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng nước ta trước một bước phát triển mới, điều đó cũng cho thấy cơ chế quản lý công chứng hiện nay bộc lộ một số hạn chế nhất định, chưa theo kịp xu thế phát triển của hoạt động này, cụ thể là:
-
Về mô hình quản lý
Mặc dù về cơ bản công chứng đã được xác định là một nghề, theo đó công chứng viên tiến hành các hoạt động nghề nghiệp trên cơ sở pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên cơ chế quản lý hiện nay vẫn còn mang nặng tính hành chính, quá chú trọng yếu tố quản lý, giám sát từ phía cơ quan quản lý nhà nước trong hi đó chưa huy động hết các nguồn lực tham gia vào công tác quản lý (trong đó tự quản). Quá trình hình thành và phát triển của công chứng ở nước ta cho thấy vai trò của nhà nước trong việc hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng khung pháp luật, quản lý, đào tạo đội ngũ công chứng viên, bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng... Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng để bảo đảm công chứng thật sự là một nghề, có tính chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá cao thì cũng phải tính việc huy động sự tham gia quản lý của Tổ chức xã hội nghề nghiệp. Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước cần từng bước chuyển giao việc thực hiện một số việc như xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, hướng dẫn nghiệp vụ công chứng, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến hành nghề công chứng cho tổ chức xã hội nghề nghiệp (tự quản) nhằm bớt gánh nặng cho cơ quan quản lý nhà nước, tạo điều kiện để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các công việc đúng với chức năng là quản lý phù hợp với tinh thần cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
-
Về việc phân cấp quản lý trong thực hiện chức năng phát triển đội ngũ công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng
Hiện nay thẩm quyền bổ nhiệm công chứng viên được giao cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp còn thẩm quyền quyết định thành lập Phòng công chứng, cho phép thành lập Văn phòng công chứng, đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng do địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp) thực hiện. Qua thực tiễn triển khai cho thấy việc phân cấp này chưa thực sự hợp lý, phần nào tạo ra sự thiếu gắn kết giữa việc phát triển đội ngũ công chứng viên và việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng.
Sự ngắt quãng trong việc bổ nhiệm và hành nghề công chứng ở nước ta như hiện nay khó tránh khỏi tình trạng “bổ nhiệm treo” nghĩa là công chứng viên sau khi được bổ nhiệm không hành nghề công chứng do không đủ điều kiện hoặc không lựa chọn được địa điểm phù hợp để hành nghề. Bên cạnh đó, việc cho công chứng viên được quyền lựa chọn nơi để hành nghề công chứng còn có thể dẫn đến sự phát triển quá nóng ở một số địa bàn (thường là những nơi kinh tế phát triển, có nhu cầu công chứng cao) trong khi một số nơi khác lại không có Phòng công chứng hay Văn phòng công chứng nào để đáp ứng nhu cầu của nguời dân. Từ đây rất dễ dẫn đến sự mất cân đối trong việc phân bố các tổ chức hành nghề công chứng và kết quả là tính ổn định, bền vững trong hoạt động công chứng không được bảo đảm. Trong vấn đề này Nhà nước với vai trò quản lý cũng không thể điều tiết được khi tình trạng cung - cầu về công chứng mất cân đối.
-
Về công tác quản lý việc tổ chức, đào tạo nghề công chứng, bồi dưỡng nghề công chứng; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong tổ chức và hoạt động công chứng
Theo quy định hiện hành, nhiệm vụ quản lý việc tổ chức, đào tạo nghề công chứng, bồi dưỡng nghề công chứng do Bộ Tư pháp thực hiện. Mặc dù trong thời gian qua với mục tiêu tăng cường đội ngũ công chứng viên cả về số lượng và chất lượng, các khoá đào tạo nghề công chứng, bồi dưỡng nghề công chứng đã được tăng cường nhưng có thể thấy công tác này còn hạn chế, thể hiện vẫn chưa thật sự đổi mới cả về mục đích, chương trình để đội ngũ được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cập nhật một cách hệ thống đối với những thay đổi của pháp luật. Sự không kịp thời trong việc tổng kết thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng hệ thống giáo trình nghiệp vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chứng viên không phong phú. Đây cũng là một trong những yếu tố làm chậm quá trình chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá đội ngũ này.
Bên cạnh đó, việc Luật công chứng quy định những người được miễn đào tạo nghề công chứng như người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên, luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Toà án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật chưa thực sự hợp lý, mặc dù những đối tượng được miễn tập sự hành nghề công chứng này vẫn phải tham gia b ồi dưỡng nghề 3 tháng và tập sự hành nghề công chứng 6 tháng nhưng do đặc thù của nghề công chứng đòi hỏi những kỹ năng mang tính chất nghề nghiệp chuyên sâu nên việc không tham gia đào tạo nghề công chứng, không tập sự hành nghề công chứng đủ với thời gian phù hợp với đặc thù nghề đã làm mất đi cơ hội làm quen với những kỹ năng nghề nghiệp mà khó có khoá đào tạo nào có thể thay thế được. Thực tế cho thấy một số công chứng viên thuộc đối tượng miễn đào tạo bộc lộ sự lúng túng trong hành nghề, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động.
Các quy định liên quan đến việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực công chứng tuy bước đầu đã xác lập được nền tảng các nguyên tắc và mức độ, phạm vi xử lý vi phạm nhưng chưa làm rõ được ranh giới giữa vi phạm kỷ luật, vi phạm hành chính và hình sự, chưa dự báo được hết các hành vi vi phạm trong khi Luật công chứng, Luật xử lý vi phạm hành chính, các nghị định của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có công chứng còn chưa tương thích nhau làm giảm hiệu quả của công tác quản lý của các cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động công chứng.
Những hạn chế, bất cập nêu trên do rất nhiều nguyên nhân, nhưng tự chung lại, Đề tài xác định có một số nguyên nhân chính sau:
-
Mặc dù được hình thành từ rất sớm trên thế giới nhưng ở Việt Nam, chế định công chứng mới chỉ được củng cố, kiện toàn và phát triển trong vòng 30 năm trở lại đây. Do đó, nhận thức, kinh nghiệm trong công tác quản lý hoạt động này còn chưa đầy đủ. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự lúng túng trong xây dựng cơ chế quản lý và triển hai các hoạt động quản lý công chứng trong thời gian qua.
-
Do nhu cầu công chứng luôn phụ thuộc và phát triển tương ứng với sự phát triển kinh tế nên hoạt động công chứng diễn ra không đồng đều và thiếu sự ổn định giữa các địa phương trong cả nước. Điều này gây khó khăn cho công tác quy hoạch, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng. Bên cạnh đó, việc một số địa phương còn chưa thực sự quan tâm đến công tác tổ chức quản lý công chứng và hành nghề công chứng; một số địa phương chưa có quan niệm đúng về trách nhiệm quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng. Thậm chí ở một số địa phương còn tồn tại tâm lý e ngại về tính khả thi trong việc đổi mới cơ chế quản lý công chứng trong điều kiện nhiều nơi vẫn phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà nước.
-
Sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý công chứng còn hạn chế, thiếu đồng bộ. Chưa có sự liên thông giữa các cơ quan có liên quan, cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý công chứng còn thiếu, chủ yếu chỉ tập trung vào một số nội dung quản lý vĩ mô, trong khi những vấn đề nghiệp vụ công chứng phát sinh ngày một nhiều và phức tạp đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu và tổng kết thực tiễn một cách thường xuyên.
-
Xã hội hóa hoạt động công chứng bên cạnh mặt tích cực cũng có mặt trái như tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, mở địa điểm công chứng không đúng quy định; giảm phí công chứng để thu hút khách hàng..., cách hiểu về chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng của một số cá nhân, tổ chức chưa đúng với bản chất vấn đề đã ảnh hưởng đến uy tín của hoạt động công chứng và sai lệch chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng của Đảng và Nhà nước.
-
Thực tiễn hành nghề cho thấy tính phức tạp, rủi ro cao của nghề công chứng đang tồn tại như: tình trạng giả mạo chủ thể, giả mạo giấy tờ trong hoạt động công chứng ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi. Một số văn bản công chứng bị Tòa án tuyên vô hiệu hoặc khi cùng một vụ việc nhưng các cấp xét xử khác nhau lại có các phán quyết rất khác nhau về trách nhiệm của công chứng viên.
-
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động công chứng còn rất hạn chế, việc kết nối thông tin liên quan đến dữ liệu công chứng tại các địa phương chưa có (thậm chí nhiều tỉnh, thành phố chưa có mạng thông tin về dữ liệu công chứng như: ngăn chặn tài sản, lịch sử giao dịch của tài sản.)
-
Một số vướng mắc, bất cập trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp còn có những tồn tại, hạn chế và khó khăn sau đây:
-
Theo Luật giám định tư pháp thì công tác quản lý nhà nước về giám định tư pháp phải có “cộng đồng trách nhiệm” của các Bộ, ngành có liên quan, trong đó Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý chung về giám định tư pháp, còn quản lý nhà nước trên các lĩnh vực giám định là thuộc trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên ngành và bên cạnh đó, các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương (Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng) phải có trách nhiệm thông tin, phối hợp với các Bộ, ngành quản lý về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, nhiều cơ quan chưa nhận thức đầy đủ tinh thần quy định mới của Luật giám định tư pháp nên vẫn có tâm lý trách nhiệm quản lý nhà nước về giám định tư pháp chỉ thuộc về Bộ Tư pháp.
-
Một số Bộ, ngành chủ quản ở một số lĩnh vực giám định và các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương còn thiếu quan tâm chỉ đạo việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp”[1], Luật giám định tư pháp... Cụ thể như: (1) nhiều Bộ, ngành và địa phương chưa thực hiện kịp thời các nhiệm vụ được giao về giám định tư pháp; chưa ban hành quy trình giám định chuẩn trong phần lớn các lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên môi trường, thông tin và truyền thông..., (2) chưa ban hành định mức chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, định mức chi phí giám định làm cơ sở cho việc tính, chi trả chi phí giám định tư pháp; dự toán, cấp phát và bảo đảm nguồn kinh phí bảo đảm chi trả chi phí giám định theo cơ chế thị trường dịch vụ chuyên môn ở các lĩnh vực cho các cơ quan tiến hành tố tụng; (3) các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương chưa ban hành chỉ tiêu thống kê về trưng cầu, đánh giá, sử dụng kết luận giám định; hướng dẫn căn cứ, cách thức trưng cầu giám định...; hoặc có văn bản được ban hành nhưng chưa thực sự phù hợp với thực tế, chưa bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; (4) Việc thực hiện trách nhiệm thông tin, phối hợp liên ngành về giám định tư pháp còn có nhiều khó khăn, chưa thực sự kịp thời và hiệu quả. (5) Một số Bộ, ngành còn chưa quan tâm bảo đảm về tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ cũng như các điều kiện cần thiết khác bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ được giao về giám định tư pháp; chưa có đơn vị làm đầu mối tham mưu và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về giám định tư pháp...
-
Nhiều vướng mắc, khó khăn trong công tác giám định tư pháp nói chung, trong giải quyết án tham nhũng nói riêng tồn tại nhiều năm qua, nhiều lần được đưa ra báo cáo nhưng chưa được các ngành, các cấp có liên quan quan tâm phối hợp giải quyết dứt điểm, chưa được bàn sâu để tìm giải pháp khắc phục triệt để trong từng ngành, từng lĩnh vực.
Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế nêu trên trong quản lý nhà nước về giám định tư pháp có nhiều, nhưng tựu chung lại bởi một số vấn đề chính sau đây:
-
Nhận thức của một số Bộ, ngành, cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức, cá nhân có liên quan về công tác giám định tư pháp nói chung, trách nhiệm của từng Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị đối với công tác này trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể vẫn còn hạn chế, chưa đầy đủ; còn có tư tưởng coi nhiệm vụ quản lý, chăm lo cho công tác giám định tư pháp là của riêng Bộ Tư pháp, Sở tư pháp, nhiều Bộ, ngành chủ quản, địa phương chưa quan tâm, chăm lo đến hoạt động giám định tư pháp ở lĩnh vực chuyên quản hoặc địa bàn của mình.
-
Việc phổ biến quán triệt và triển khai thực hiện một số văn bản về giám định tư pháp chưa được một số Bộ, ngành và cơ quan tiến hành tố tụng cấp Trung ương quan tâm chỉ đạo thực hiện có hiệu quả, còn hình thức nên nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan này đối với công tác giám định tư pháp chưa đầy đủ, nên còn thiếu trách nhiệm trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ được giao.
-
Thiếu cơ chế thông tin thông suốt, phối hợp toàn diện, hiệu quả giữa các Bộ, ngành chủ quản, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương với Bộ Tư pháp trong hoạt động, quản lý giám định tư pháp.
-
Công tác thanh tra, kiểm tra về thực hiện nhiệm vụ được giao về giám định tư pháp ở các Bộ, ngành và địa phương còn dừng lại mức độ nhất định, còn thiếu sự quyết liệt, nên việc chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, vướng mắc chưa thực sự hiệu quả và kịp thời.
-
Trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý lĩnh vực và các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương đối với công tác giám định tư pháp còn chưa rõ và chưa gắn kết với việc kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành, cơ quan đó.
Đề tài đưa ra kết luận:
Hoạt động bổ trợ tư pháp có quan hệ và tác động trực tiếp đến chất lượng xét xử của Toà án, là công cụ không thể thiếu để hỗ trợ người dân và các cơ quan tiến hành tố tụng trong một nền tư pháp dân chủ, pháp quyền; góp phần vào việc thực hiện tốt các chủ trương, chính sách quan trọng trong cải cách tư pháp, cải cách hành chính và tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước.
Từ phân tích về lý luận và đánh giá thực trạng của công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp như đã phân tích ở các phần trên cho thấy "mô hình quản lý nhà nước" trên từng lĩnh vực là hợp lý; về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt Nam.
Theo đó:
-
Về mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư đến năm 2030 vẫn nên duy trì mô hình liên tịch quản lý ở hai cấp. Theo đó, (i) Ở trung ương, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư. (ii) Ở địa phương, có Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương. (iii) Về liên tịch quản lý, có Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước và Đoàn luật sư là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tự quản luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của luật và Điều lệ của mình.
-
Về mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng vẫn duy trì mô hình hai cấp quản lý như hiện nay. Tuy nhiên, khi tổ chức xã hội nghề nghiệp công chứng đủ năng lực (dự kiến đến năm 2025) sẽ chuyển giao từng phần nhiệm vụ quản lý cho tổ chức này, như mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư.
-
Về mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp đến năm 2030 vẫn nên duy trì mô hình hai cấp quản lý, song trùng trực thuộc. Tuy nhiên cần có sự phân công cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan được giao thống nhất quản lý (Bộ Tư pháp) và cơ quan quản lý chuyên ngành.
Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp trong thời gian qua, cho thấy:
-
Công tác quản lý nhà đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp có mặt, có nơi còn chưa theo kịp với sự phát triển của chủ trương xã hội hóa; một số địa phương còn lúng túng trong việc thực hiện việc kết hợp quản lý nhà nước với hoạt động tự quản của các tổ chức nghề nghiệp, nhất là mối quan hệ giữa các Sở Tư pháp và đoàn luật sư các tỉnh. Chủ trương cắt giảm các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp và bãi bỏ quy hoạch công chứng để phù hợp với Luật Quy hoạch năm 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) tạo thêm áp lực, khó khăn cho công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này. Trong bối cảnh số lượng các tổ chức hành nghề (luật sư, công chứng) phát triển nhanh, đặc biệt là các thành phố lớn, công tác quản lý nhà nước gặp nhiều khó khăn do số lượng biên chế ít. Tại các địa phương, chưa có cơ chế để chính quyền cấp huyện, xã tham gia quản lý đối với các tổ chức hành nghề nên áp lực đối với các Sở Tư pháp càng thêm nặng nề.
-
Sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp có mặt, có nơi còn hạn chế, thiếu đồng bộ. Chưa có sự liên thông giữa các cơ quan có liên quan, cũng như chưa hình thành cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin quản lý một cách thông suốt, đồng bộ. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý còn thiếu, chủ yếu chỉ tập trung vào một số nội dung quản lý vĩ mô, trong khi những vấn đề nghiệp vụ phát sinh ngày một nhiều và phức tạp đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu và tổng kết thực tiễn một cách thường xuyên.
-
Nhận thức của một số cơ quan, ban, ngành, địa phương về công tác xã hội hóa nói chung và xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp nói riêng còn hạn chế, chưa đầy đủ, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước. Một số bộ phận cán bộ, công chức, viên chức vẫn còn chậm đổi mới tư duy. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý e ngại khi sử dụng dịch vụ do các cá nhân, tổ chức ngoài công lập cung cấp. Mặt khác, do việc nhận thức, đánh giá chưa đầy đủ, toàn diện cả về lý luận và thực tiễn đối với tính chất đặc thù của từng hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp nên việc xã hội hóa còn bộc lộ một số hạn chế, có mặt chưa phù hợp với tình hình thực tiễn và thông lệ thế giới.
-
Việc thực hiện chức năng tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực luật sư, công chứng còn chưa tương xứng với yêu cầu, trách nhiệm được giao. Một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhận thức chưa đúng về vai trò quản lý nhà nước, quá đề cao vai tr tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của mình và chưa có sự phối hợp chặt chẽ, tích cực với cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư và hành nghề luật sư; Chưa có cơ chế thu hút các nguồn lực xã hội trong việc tham gia một số lĩnh vực bổ trợ tư pháp như giám định tư pháp...
Trong lĩnh vực giám định tư pháp, các tổ chức chuyên môn, các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực giám định còn có tâm lý e ngại trong việc cung cấp dịch vụ chuyên môn cho hoạt động tố tụng; chưa có cơ chế mạnh mẽ, rõ ràng nhằm bảo đảm lợi ích về vật chất cho các tổ chức và chuyên gia khi tham gia vào hoạt động giám định tư pháp. Khi thực hiện giám định, cá nhân, tổ chức thực hiện giám định chưa được chi trả đầy đủ các chi phí giám định cho phù hợp với mặt bằng dịch vụ chuyên môn trong chi phí thực tế cho hoạt động giám định rất lớn...; các cơ quan tiến hành tố tụng theo nếp quen và tâm lý, rất ít khi trưng cầu các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước để thực hiện giám định tư pháp.
CHƯƠNG III. BỐI CẢNH, PHƯƠNG HƯỚNG, KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG, GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐẾN NĂM 2030
Tại Chương này, ngoài việc xác định rõ bối cảnh tác động đến hoạt động quản lý lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp trong thời gian tới, Đề tài đã tổng thuật và phát triển các kết quả nghiên cứu và đưa ra các định hướng và kiến nghị đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định tư pháp đến năm 2030 như sau:
-
Tiếp tục triển khai nhất quán và có hiệu quả các quan điểm, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới hệ thống chính trị, mà cốt lõi là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, những chủ trương, định hướng cải cách tổ chức, hoạt động của các thiết chế nhà nước đã được thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng như:
-
Tiếp tục đoi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, công chứng, giám định tư pháp phù hợp với đặc thù của từng chức danh nghề nghiệp và phương thức quản lý nhà nước. Theo đó, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với luật sư, công chứng, giám định tư pháp cần tập trung vào các vấn đề sau đây:
-
Tiếp tục quan tâm, chỉ đạo hoàn thiện kịp thời đầy đủ các quan điểm, chủ trương, đư ng lối chiến lược về quản lý luật sư và hành nghề luật sư, về quản lý công chứng viên và hành nghề công chứng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ;
-
Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo việc thể chế hóa, xây dựng và hoàn thiện khung khổ thể chế pháp luật về công tác luật sư, công chứng, giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu vừa tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động hành nghề của các chức danh này, vừa có công cụ để quản lý có hiệu lực, hiệu quả đối với hoạt động luật sư, công chứng và giám định tư pháp;
-
Củng cố và tăng cường các tổ chức, hoạt động động luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp theo hướng nâng cao vai trò, năng lực (cả về số lượng và chất lượng hoạt động) của các tổ chức này trong việc hỗ trợ đắc lực hoạt động tư pháp và hỗ trợ cho mọi cá nhân, tổ chức tiếp cận hệ thống pháp luật và tư pháp;
-
Đổi mới quản lý nhà nước đối với các tổ chức bổ trợ tư pháp phù hợp với chủ trương xã hội hoá; kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật. Theo đó, cần tiếp tục:
Thứ nhất, cần tiếp tục coi hệ thống bổ trợ tư pháp là một thiết chế xã hội - nghề nghiệp đặc biệt mà thông qua đó nhân dân có khả năng tự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Từ đó xác định đúng định hướng, mô hình phát triển của các nghề và người làm nghề luật sư, công chứng, giám định tư pháp trong nền kinh tế thị trường, trong một nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Theo đó, một mặt cần tăng cường hoạt động quản lý đích thực (mang tính thực hiện quyền lực như cấp phép, giấy xác nhận, chứng thực, thu các khoản đóng góp vào ngân sách, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính) và chuyển giao theo lộ trình một số hoạt động quản lý cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp đảm nhận; mặt khác, cần đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động bổ trợ tư pháp bởi vì đây là xu hướng tất yếu, phù hợp với thực tiễn khách quan.
Thứ hai, do tính chất đặc biệt của hoạt động bổ trợ tư pháp, là những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, liên quan trực tiếp tới hoạt động của bộ máy hành chính và các cơ quan tư pháp, được điều chỉnh ở những mức độ khác nhau bằng luật tố tụng, nên tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp, về nguyên tắc, phải được điều chỉnh bằng luật để đảm bảo tính xác định chặt chẽ và hiệu lực pháp lý tương đương với các luật nội dung, luật tổ chức và luật tố tụng liên quan.
Thứ ba, nâng cao tính chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá, độc lập chịu trách nhiệm của đội ngũ chức danh bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng viên, giám định viên). Đây là yêu cầu có tính quyết định đối với chất lượng hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp. Một khi đã nhận thức rõ luật sư, công chứng, giám định đều là các nghề thì người hành nghề phải chuyên nghiệp và phải có chế độ tự chịu trách nhiệm về chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp cho khách hàng (trong đó có các cơ quan nhà nước, mà trước tiên là có các cơ quan tố tụng). Việc đào tạo nguồn và đào tạo nghề cho các chức danh bổ trợ tư pháp cũng sẽ phải chuẩn hoá lại theo hướng này.
Thứ tư, đổi mới nội dung và phương thức quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp theo hướng kết hợp chặt chẽ quản lý nhà nước với tự quản của các hiệp hội nghề nghiệp. Từng bước hình thành và nâng cao năng lực các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp của luật sư, công chứng viên, giám định viên ở các địa phương, khi đủ điều kiện tiến tới thành lập tổ chức hiệp hội toàn quốc[2] để chia sẻ trách nhiệm quản lý với Nhà nước theo các phương thức phù hợp với bản chất và đặc thù của từng loại nghề.
-
Phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, công chứng, giám định đến năm 2030
-
Phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư
-
Việc đổi mới mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư phải dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm các nước trên thế giới phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và dựa trên các giá trị cốt lõi là phẩm giá của luật sư và vị thế của nghề luật sư, đó là là phụng sự xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật.
Với mục tiêu phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nhu cầu của xã hội, hoạt động quản lý cần:
-
Tạo mọi điều kiện để hoạt động hành nghề luật sư trở thành nghề chuyên nghiệp song song với việc tạo lập môi trường cho dịch vụ nghề nghiệp của luật sư phát triển theo thông lệ quốc tế; hướng tới mục tiêu phát triển đội ngũ luật sư cả về số lượng và bảo đảm chất lượng; coi chất lượng là ưu tiên hàng đầu, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong thời kỳ phát triển mới của đất nước;
-
Phát triển tổ chức hành nghề luật sư hành nghề chuyên sâu trong một số lĩnh vực, có khả năng cạnh tranh cao, từng bước chiếm lĩnh thị trường dịch vụ pháp lý trong khu vực và trên thế giới. Để đạt được mục tiêu này, thể chế pháp lý cần tạo điều kiện để nghề luật sư phát triển bền vững, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm với những bước đi vững chắc; có sự kế thừa những thành tựu đã đạt được cũng như tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước.
-
Đề cao vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Phát huy hiệu quả nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư; bảo đảm hoạt động luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
-
Việc đổi mới hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tổ chức và hoạt động của luật sư.
Theo đó, cần sớm nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật luật sư và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến luật sư và hành nghề luật sư theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Chiến lược cải cách tư pháp. Đồng thời, cũng cần quan tâm xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, giữ vững bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, mở rộng dân chủ, tăng tính pháp quyền và hội nhập, theo hướng:
-
Nâng cao tiêu chuẩn trở thành luật sư, đề cao tiêu chuẩn phẩm chất đạo đức, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật; quy định chặt chẽ hơn về điều kiện được miễn đào tạo nghề luật sư, miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư; quy định cụ thể hơn quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của luật sư nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hành nghề.
-
Nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư bằng việc trao thêm các công cụ pháp lý, bổ sung các cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; tạo cơ chế hữu hiệu để cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư thực hiện vai trò quản lý nhà nước một cách thực chất, hiệu quả.
-
Phân định rõ ràng hơn vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, chức năng quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, phát huy hiệu quả nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Nhà nước không can thiệp vào công việc nội bộ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư nhưng không quá đề cao vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư dẫn đến sự tách rời với sự quản lý nhà nước; bảo đảm hoạt động luật sư và hành nghề luật sư theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
-
Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách nhằm phát triển nghề luật sư nói riêng và bổ trợ tư pháp nói chung theo hướng xây dựng chương trình đào tạo chung cho các nghề bổ trợ tư pháp; tổ chức kỳ kiểm tra cấp quốc gia để cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy phép hành nghề bổ trợ tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý của xã hội, luật sư không chỉ hiểu biết rộng các quy định của pháp luật mà còn cả kỹ năng hành nghề trong các lĩnh vực.
-
Tăng cường năng lực của chủ thể quản lý nhà nước; đẩy mạnh thực hiện các biện pháp quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, theo hướng:
-
Tập trung và đẩy mạnh việc theo dõi, đôn đốc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn luật sư Việt Nam, các Đoàn luật sư thực hiện Luật luật sư; chú trọng công tác theo dõi thi hành pháp luật, hướng dẫn, giải quyết các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc của địa phương; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động luật sư và hành nghề luật sư.
-
Tăng cường năng lực, phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác bổ trợ tư pháp, thanh tra ở địa phương, đặc biệt chú trọng việc quan tâm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kỹ năng cho cán bộ làm công tác bổ trợ tư pháp, thanh tra; đẩy mạnh tin học hóa, áp dụng mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư (đặc biệt trong việc quản lý hồ sơ, dữ liệu điện tử, xử lý thông tin...).
-
Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật của các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để bảo đảm hoạt động của luật sư được thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của luật sư; tham mưu, đề xuất kịp thời với cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
-
Xây dựng được cơ chế để sàng lọc đội ngũ luật sư ngay từ giai đoạn đào tạo nghề, cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo hướng (i) rà soát, sửa đổi, bổ sung các chương trình đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để lồng ghép giáo dục về chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp trong chương trình học với thời lượng phù hợp; quy định một trong những tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra của khóa đào tạo nghề luật sư phải là người chấp hành tốt pháp luật; (ii) thẩm tra chặt chẽ tiêu chuẩn của người đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; (iii) tăng cường cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, cơ sở đào tạo nghề luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan, kịp thời phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật.
-
Phân công, phân cấp và xác định rõ trách nhiệm của Liên đoàn luật sư Việt Nam, Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc giám sát các luật sư thành viên trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư. Theo đó :
-
Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo hướng bảo đảm cân bằng hợp lý giữa quản lý nhà nước về công tác luật sư với chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư phù hợp với điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam trong từng thời kỳ và của từng địa phương, vùng miền.
Mặt khác, việc kết hợp giữa cơ chế quản lý nhà nước và chế độ tự quản đối với tổ chức và hoạt động của luật sự trước hết phải cần phân định rõ giới hạn tránh nhiệm, nội dung của quản lý nhà nước và quyền tự quản, tự quyết định của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm quản lý của các Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư đối với thành viên của mình; tránh tình trạng lạm quyền hoặc bỏ sót, bỏ trống nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, phải bảo đảm mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tuyệt đối không được tách rời, thậm chí đối lập nhau. Chính vì vậy việc quy định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong quản lý nhà nước, cơ quan tố tụng và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong quản lý đối với hoạt động của luật sư là rất cần thiết, để cụ thể hóa trách nhiệm, hình thức, công cụ thực hiện sự phối hợp công tác.
-
Phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng
Với mục tiêu phát triển nghề công chứng theo hướng ngày càng chuyên nghiệp, phục vụ tốt các nhu cầu của nhân dân và xã hội, là công cụ quan trọng bảo đảm an toàn cho các hợp đồng, giao dịch và phòng ngừa các tranh chấp, trở thành một thiết chế không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (công chứng nội dung - công chứng viên phải chịu trách nhiệm cả về nội dung và hình thức của văn bản công chứng). Theo đó, xác định công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng là trung tâm của đối tượng quản lý. Vì vậy, phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng trong giai đoạn tới cần:
-
Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về công chứng theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nước về công chứng (Chính phủ, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành có liên quan, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp) cho phù hợp theo hướng phân cấp hợp lý, bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất trong công tác quản lý, theo hướng:
-
Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương tập trung thực hiện vai trò quản lý ở tầm vĩ mô (xây dựng khung pháp luật, quản lý, đào tạo đội ngũ công chứng viên, bổ nhiệm, miễn nhiệm công chứng viên, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật); qua đó, tạo hành lang pháp lý cho công chứng hoạt động chuyên nghiệp (hoạt động nghề nghiệp) và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình; đồng thời có các quy định phân cấp hợp lý cho địa phương để bảo đảm sự điều hành thống nhất trong toàn quốc nhằm bớt gánh nặng cho cơ quan quản lý nhà nước, tạo điều kiện để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện các công việc đúng với chức năng là quản lý phù hợp với tinh thần cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
-
Cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương là nơi trực tiếp quản lý nhà nước về công chứng tại địa phương có vai trò quyết định chất lượng quản lý công tác công chứng; có trách nhiệm bồi dưỡng quản lý về đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ của công chứng viên thông qua việc quản lý đội ngũ công chứng viên, nhân viên, tổ chức hành nghề công chứng, thực hiện phát triển các tổ chức hành nghề công chứng theo quy định và tổ chức thi hành các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về công chứng và liên quan đến công chứng.
-
Xây dựng các hàng rào kỹ thuật trong công tác quản lý đối với hoạt động công chứng trong điều kiện mới, như: (1) tăng độ khó nội dung kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, (2) bổ nhiệm công chứng viên theo nhu cầu quản lý, (3) xử lý nghiêm và kịp thời các vi phạm của công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, (4) rà soát sửa đổi tiêu chí thành lập Văn phòng công chứng bảo đảm chất lượng... qua đó làm tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng.
-
Quy định rõ các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản bắt buộc phải công chứng nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập khu vực và quốc tế về công chứng. Đồng thời, nâng cao vị trí, vai trò của hoạt động công chứng trong xã hội; đề cao giá trị pháp lý của văn bản công chứng, xác định văn bản công chứng có giá trị thi hành để giảm tải công việc cho Tòa án và tiết kiệm chi phí cho người dân, xã hội.
-
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về công chứng mà trọng tâm là công tác chỉ đạo, điều hành.
-
Cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương tập trung thực hiện vai trò quản lý ở tầm vĩ mô, chính sách lớn (xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, hướng dẫn nghiệp vụ công chứng, việc giải quyết các khiếu nại tố cáo liên quan đến hành nghề công chứng); đồng thời có các quy định phân cấp hợp lý cho công chứng do địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp thực hiện). Qua thực tiễn triển khai cho thấy việc phân cấp này chưa thực sự hợp lý, phần nào tạo ra sự thiếu gắn kết giữa việc phát triển đội ngũ công chứng viên và việc phát triển tổ chức hành nghề công chứng. Theo kinh nghiệm của một số nước theo trường phái công chứng Latinh tiêu biểu như Cộng hòa Pháp, Angeri, việc bổ nhiệm công chứng viên và cho phép thành lập tổ chức hành nghề công chứng đều tập trung vào một đầu mối là Bộ Tư pháp. Trên cơ sở một bản đồ quy hoạch các tổ chức hành nghề công chứng được hình thành dựa trên khảo sát và đánh giá nhu cầu công chứng, Bộ Tư pháp chỉ bổ nhiệm một người có đủ tiêu chuẩn làm công chứng viên khi người đó đã xác định được nơi sẽ hành nghề công chứng thông qua việc được giới thiệu vào vị trí (địa điểm) hành nghề hoặc được sự chấp thuận của một tổ chức hành nghề công chứng đang hoạt động. Cơ quan quản lý tư pháp ở địa phương chỉ thực hiện chức năng tương tự như đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng. Sự chặt chẽ, thống nhất trong quy trình bổ nhiệm công chứng viên và hành nghề công chứng này tạo ra sự ổn định, bền vững của hoạt động công chứng với tính chất là một hoạt động dịch vụ công, hạn chế tình trạng công chứng viên được bổ nhiệm nhưng không hành nghề hoặc số lượng tổ chức hành nghề công chứng phát triển không phù hợp với nhu cầu dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.
-
Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan quản lý nhà nước về công chứng (Chính phủ, Bộ Tư pháp, các Bộ, ngành có liên quan, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp) cho phù hợp theo hướng phân cấp hợp lý bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất trong công tác quản lý. Đồng thời với việc phát huy mạnh mẽ vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp công chứng viên trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên và quản lý hoạt động công chứng, giám sát việc tuân theo đạo đức nghề nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công chứng viên.
-
Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra về tình hình tổ chức, hoạt động công chứng, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, phát hiện, chấn chỉnh những hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Để làm được điều này, cần sớm kiện toàn đơn vị chuyên môn giúp việc đủ mạnh (đủ nhân lực, vật lực và các điều kiện bảo đảm khác) để có thể hoàn thành tốt công tác thanh tra, kiểm tra;
-
Sớm xây dựng và hòan thiện hệ thống cơ sở dữ liệu về công chứng thống nhất trong phạm vi toàn quốc (cơ sở dữ liệu thông tin ngăn chặn, thông tin về hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản đã công chứng, cơ sở dữ liệu thông tin chung về bất động sản) và đẩy mạnh công tác tin học hóa hoạt động công chứng đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành, giải quyết các công việc liên quan đến hoạt động công chứng.
-
Đổi mới công tác đào tạo nghề công chứng, bồi dưỡng nghề công chứng bảo đảm cập nhật được thường xuyên và hệ thống đối với những thay đổi của pháp luật, cũng như các phát sinh từ thực tiễn, nhất là tăng cường việc áp dụng các công cụ, phương tiện hiện đại trong tổ chức, hoạt động và quản lý. Từng bước giảm và tiến tới bỏ quy định về người được miễn đào tạo nghề công chứng. Bởi vì, do đặc thù của nghề công chứng đòi hỏi những kỹ năng mang tính chất nghề nghiệp chuyên sâu nên việc không tham gia đào tạo nghề công chứng, không tập sự hành nghề công chứng đủ với thời gian phù hợp với đặc thù nghề đã làm mất đi cơ hội làm quen với những kỹ năng nghề nghiệp mà khó có khoá đào tạo nào có thể thay thế được.
-
Phân công, phân cấp và xác định rõ trách nhiệm của Hiệp hội công chứng viên Việt Nam và Hội công chứng viên cấp tỉnh trong việc tham gia quản lý hoạt động công chứng.
-
Kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các công chứng viên qua đó bảo đảm nguyên tắc quản lý về mặt nhà nước, nâng cao tính độc lập và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các công chứng viên. Phát triển, hoàn thiện tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên chính là hoạt động quan trọng để hỗ trợ cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng.
Tạo điều kiện để công chứng nước ta hội nhập quốc tế trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chuẩn bị gia nhập Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế. Hiện nay nhu cầu công chứng các loại giấy tờ trong các lĩnh vực dân sự và thương mại của công dân Việt Nam để được công nhận ở nước ngoài cũng như công dân nước ngoài để được công nhận ở Việt Nam phát sinh rất lớn, đòi hỏi sự bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch này và sự phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong hoạt động công chứng.
-
Phương hướng, giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động giám định tư pháp
-
Đổi mới nhận thức, tư duy cách thức quản lý giám định tư pháp theo hướng đây là một nghề đặc thù.
Như trên đã phân tích, theo quan niệm của một số quốc gia về giám định tư pháp cho thấy, các nước sử dụng thuật ngữ “chuyên gia” để chỉ người thực hiện cô ng tác giám định ở các lĩnh vực và bất kỳ một chuyên gia nào (không phân biệt là công chức nhà nước hay người hành nghề tự do) đều có thể là người giám định nếu như người đó thực sự am hiểu, tinh thông trong lĩnh vực cần giám định và được các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định (nghề). Do vậy, cần có quan niệm rộng hơn về giám định tư pháp. Mặt khác, cần có cơ chế xác định “cộng đồng trách nhiệm” của các ngành, các cấp trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ giám định tư pháp trên thực tế. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giám định tư pháp; tạo lập cơ sở dữ liệu về tổ chức, hoạt động giám định tư pháp trên cơ sở kết nối số liệu, thông tin đa chiều và trực tiếp giữa các bộ, ngành chuyên môn chủ quản và các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp Trung ương, cấp tỉnh với ngành tư pháp (Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp) để bảo đảm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển công tác giám định tư pháp cũng như có những động tác quản lý chuẩn xác và hoa học trên cơ sở nhu cầu thực tiễn;
-
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giám định tư pháp, trong đó tập trung vào việc tăng cường công tác quản lý ở các Bộ, ngành
-
Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp thì cần giao nhiệm vụ quản lý cho trực tiếp cho các Bộ, ngành quản lý ở từng lĩnh vực giám định và các cơ quan này chịu trách nhiệm trước Chính phủ về bảo đảm (nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác phù hợp với đặc thù lĩnh vực chuyên môn của mình) đáp ứng tốt yêu cầu giám định của hoạt động tố tụng vì bản chất hoạt động giám định là hoạt động chuyên môn phục vụ cho tố tụng, không nên giao cho Bộ Tư pháp quản lý chung như hiện nay qua đó khắc phục tình trạng chồng chéo, cắt khúc, thiếu hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp.
-
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giám định tư pháp, trong đó tập trung vào việc ban hành các quy chuẩn chuyên môn, nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ để xem xét, đánh giá năng lực của các cơ quan, tổ chức chuyên môn trong việc trưng cầu giám định. Ban hành quy định tiêu chí đánh giá năng lực thực tế của người được bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp, quy trình lựa chọn, lập và công bố danh sách cơ quan, tổ chức chuyên m n trong các lĩnh vực giám định tư pháp... ;
-
Sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý nhà nước theo hướng phân định rõ hơn nữa trách nhiệm của các cấp, các ngành về giám định tư pháp, trong đó tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các Bộ, ngành chuyên quản và UBND cấp tỉnh trong việc bảo đảm nguồn nhân lực và điều kiện cho hoạt động giám định, bảo đảm đáp ứng kịp thời, có chất lượng giám định yêu cầu của hoạt động tố tụng, nhất là ở các lĩnh vực giám định có nhu cầu ngày càng lớn phục vụ giải quyết án tham nhũng, kinh tế như tài chính, ngân hàng, xây dựng, tài nguyên và môi trường...; đồng thời tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hoạt động giám định tư pháp; tăng cường các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ của cơ quan quản lý chung, giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp (nếu không thể bỏ được và phải duy trì cơ quan này); xác lập rõ hơn nữa cơ chế thông tin, phối hợp liên ngành giữa các cơ quan tố tụng và các cơ quan quản lý, nhất là cơ quan quản lý chung về giám định tư pháp để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp.
-
Quy định rõ về phân cấp quản lý cũng như trong tiếp nhận trưng cầu và thực hiện giám định ở cấp Trung ương và cấp tỉnh để khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trong tiếp nhận và thực hiện giám định ở nhiều địa phương và Bộ, ngành chủ quản.
-
Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát tình hình tổ chức, hoạt động và quản lý giám định tư pháp ở các Bộ, ngành và địa phương, kể cả cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó cần phân định nội dung, cách thức kiểm tra, thanh tra tương ứng với chức năng, nhiệm vụ đặc thù của từng ngành, từng cấp cho phù hợp và bảo đảm hiệu quả;
-
Từng bước kiện toàn đội ngũ giám định viên tư pháp chuyên nghiệp, phủ khắp trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
-
Xây dựng đội ngũ giám định viên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, xác định rõ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của giám định viên khi tham gia tố tụng.
-
Quy định rõ điều kiện và thủ tục bổ nhiệm giám định viên, tạo cơ chế khuyến khích thu hút các chuyên gia giỏi của nhiều lĩnh vực tham gia hoạt động giám định, nâng cao chất lượng giám định.
-
Sửa đổi, bổ sung về quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm và xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp theo hướng đổi mới quy định về quy trình bổ nhiệm giám định viên tư pháp, lập và công bố danh sách tổ chức, người giám định tư pháp theo vụ việc theo hướng bám sát, căn cứ vào số liệu thống kê, dự báo nhu cầu của hoạt động tố tụng và nâng cao hơn nữa tiêu chuẩn, điều kiện, chất lượng đội ngũ cá nhân, tổ chức làm giám định tư pháp; sửa đổi quy định bất cập hiện hành về miễn nhiệm giám định viên tư pháp.
-
Sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ, chính sách đối với tổ chức, người giám định tư pháp để khắc phục một số bất cập hiện nay và bảo đảm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
-
Đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp, theo hướng:
-
Nhà nước tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng; sắp xếp, đổi mới hệ thống tổ chức pháp y, pháp y tâm thần;
-
Đề xuất cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh chủ trương “chỉ xã hội hóa đối với lĩnh vực giám định không lớn, không thường xuyên” trong Nghị quyết 49-NQ/TW theo hướng xã hội hóa đối với các lĩnh vực giám định mà xã hội có thể đảm đương được thay Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn và tính khả thi của việc xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp;
-
Mở rộng phạm vi giám định tư pháp để tạo điều kiện cho các đương sự trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (trừ những lĩnh vực liên quan đến bí mật nhà nước), góp phần thực thi có hiệu quả chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị.
-
Xây dựng và ban hành chính sách ưu đãi cho việc thành lập các Văn phòng giám định tư pháp, nhất là chính sách về thuế, tài chính để tạo điều kiện cho việc ra đời và phát triển các Văn phòng giám định tư pháp, giảm tải gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, thu hút nguồn lực xã hội, góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” về thiếu người giám định, tổ chức giám định, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của hoạt động tố tụng.
-
Nghiên cứu và tính đến thành lập và phát huy vai trò hiệp hội nghề nghiệp, giám định tư pháp ở các lĩnh vực để hỗ trợ cho quản lý nhà nước trong việc giám sát, đánh giá, phản biện hiệu quả và chất lượng của hoạt động giám định tư pháp khi mà đẩy mạnh xã hội hóa cũng như tạo ra các chuẩn mực chung về đạo đức, phong cách, nghiệp vụ của giám định viên.
đ) Sớm sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể về giám định tư pháp để bảo đảm tính đồng bộ, tương thích với quy định của pháp luật tố tụng. Cụ thể:
-
Quy định mang tínhữnguyên tắc về thời hạn giám định, quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành chuyên quản lĩnh vực giám định trong việc ấn định thời hạn giám định cụ thể đối với từng loại việc giám định trong quy trình giám định để bảo đảm tính đồng bộ, tương thích với quy định của pháp luật tố tụng, đặc biệt là khắc phục tình trạng chậm trễ trong tiếp nhận, thực hiện giám định trong thời gian qua, gây ảnh hưởng đến tiến độ xử lý các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
-
Bổ sung một số quy định về căn cứ, cách thức trưng cầu giám định, đánh giá, sử dụng kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của các cơ quan trưng cầu giám định để khắc phục những tồn tại hiện nay về giám định tư pháp mà nguyên nhân xuất phát từ chính các cơ quan tố tụng, nhất là tình trạng lạm dụng giám định tư pháp để gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử.
-
Thiết lập và tăng cường cơ chế thông tin, phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về giám định tư pháp, nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng cần triển khai thực hiện nhiệm vụ thống kê, đánh giá, dự báo nhu cầu giám định tư pháp phục vụ hoạt động quản lý giám định tư pháp.
Theo quan điểm của Nhóm nghiên cứu, trong thời gian tới (đến năm 2030) vẫn cần nhấn mạnh đến vai trò của quản lý nhà nước đối tổ chức và hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Nhiều việc quan trọng vẫn phải do nhà nước thực hiện, trong đó có quản lý đào tạo nghề luật sư, quản lý nhà nước về tập sự hành nghề luật sư... Việc thực hiện chế độ tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần thực hiện từng bước phù hợp. Ở từng địa phương, vùng miền cũng nên tùy tình hình, điều kiện cụ thể mà thực hiện chế độ tự quản này cho phù hợp.
[1] Được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 258/QĐ-TTg ngày 11/02/2010
[2] Hiện đã có các tổ chức như: Liên đoàn Luật sư Việt Nam; Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam.
|
|
Nội dung toàn văn
|
|
|
File đính kèm
|
...
|
|
|