• Thuộc tính
Tên đề tài Nhận diện lý thuyết vật quyền và vấn đề áp dụng tại Việt Nam
Nội dung tóm tắt

Vật quyền (hay còn gọi là quyền đối với vật) là một khái niệm để chỉ một dạng quyền năng trong pháp luật dân sự theo đó chủ thể mang quyền có thể chi phối và thực hiện trực tiếp, ngay tức khắc trên một vật mà không lệ thuộc vào chủ thể khác và mọi chủ thể khác đều phải tôn trọng chủ thể mang quyền. Vật quyền thường được sử dụng song hành với thuật ngữ đối lập với nó là “trái quyền” (“quyền đối nhân”), tức là quyền đối với người khác, hay còn gọi là quyền yêu cầu. Trong khi vật quyền hàm chứa quan hệ giữa chủ thể mang quyền với tất cả các chủ thể khác trong xã hội thì trái quyền được thiết lập giữa hai chủ thể và chỉ có thể được thực hiện suôn sẻ trên cơ sở hợp tác tích cực của chủ thể mang nghĩa vụ. Khác với trái quyền, vật quyền luôn hàm chứa quyền loại trừ chủ thể khác được tham gia hưởng quyền đối với vật mà không có sự đồng ý của chủ thể mang quyền. Vật quyền, vì thế, hàm chứa sự ưu tiên dành cho chủ thể mang quyền đối với tất cả các chủ thể khác trong việc chi phối, khai thác lợi ích từ đối tượng của vật quyền. Thêm vào đó, vật quyền còn hàm chứa nội dung về quyền theo đuổi, theo đó khi vật là đối tượng của vật quyền rơi vào tay người khác mà không phải là chủ thể mang quyền, thì chủ thể mang quyền có quyền truy đòi, đeo đuổi và khởi kiện để lấy lại vật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Có thể nói, “vật quyền” (hay tiếng Việt còn gọi là quyền đối với tài sản) và “trái quyền” (hay tiếng Việt còn gọi là nghĩa vụ dân sự) là hai phạm trù cơ bản, hai loại quyền năng gốc, dựa trên đó, xây dựng nên toàn bộ hệ thống quy tắc pháp luật dân sự của La Mã cổ đại và về sau này được hầu hết các quốc gia như Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Canada áp dụng. Pháp luật dân sự hiện đại, nhất là pháp luật về sở hữu và các quyền tài sản khác, pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật về thừa kế chính là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự biến động của các quan hệ vật quyền và trái quyền.

Ở nước ta, quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự đã có sự nghiên cứu, xem xét, tiếp cận một cách nhất định các nguyên lý về vật quyền. Các quy định xác lập hệ thống quyền đối với tài sản đã được xây dựng và hoàn thiện qua các giai đoạn của nước ta phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội mỗi thời kỳ. Bộ luật Dân sự Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 2015 được đánh giá là đã có một bước tiến quan trọng trong việc tiếp cận thông lệ chung của pháp luật dân sự các nước trên thế giới về vật quyền.

Có thể nói rằng việc hình thành và phát triển chế định về quyền đối với tài sản ở nước ta xuất phát chủ yếu từ nhu cẩu của thực tiễn đời sống xã hội trong khi nền tảng lý luận khoa học còn có những điểm chưa hoàn toàn theo kịp, trong đó phải kể tới việc nắm vững lý thuyết vật quyền. Quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự của nước ta thời gian qua đã cho thấy, các chuyên gia pháp lý, các nhà lập pháp còn bỡ ngỡ, lạ lẫm và tranh cãi ngay từ thuật ngữ “vật quyền” và bởi vậy, lý thuyết vật quyền, nội dung vật quyền cũng là điều xa lạ. Thực tế này dẫn đến một số điểm hạn chế sau:

Thứ nhất, việc ghi nhận các vật quyền hạn chế trong hệ thống pháp luật dân sự hiện hành còn ít ỏi. Nhiều vật quyền hạn chế như quyền ngụ cư (inhabitation), quyền thuê dài hạn (emphyteusis), quyền ưu tiên, quyền sử dụng, nợ điền địa… chưa được đề cập.

Thứ hai, ở nước ta, xuất phát từ các đặc thù của chế độ chính trị, kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu toàn dân về một số tài sản đặc biệt (đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản... và các tài sản mà Nhà nước đầu tư, quản lý) nên đã xuất hiện các tiền đề kinh tế - xã hội cho việc hình thành các loại vật quyền khác mà nhiều nước trên thế giới không có. Tuy nhiên, chế định pháp lý liên quan đến quyền sử dụng (đất), quyền khai thác kinh tế và quyền quản lý nghiệp vụ (đối với tài sản mà nhà nước giao cho doanh nghiệp), quyền khai thác mỏ, quyền đánh cá, quyền khai thác rừng… chưa được nhìn nhận, đánh giá ở góc độ lý thuyết vật quyền. Điều này dẫn đến còn tồn tại những “khoảng trống” trong cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh; chưa đảm bảo để mọi tài sản đều có được một người chủ thực sự, tránh tình trạng vô chủ dẫn đến hệ quả không đáng có như tài sản không được khai thác, sử dụng một cách hiệu quả, làm thất thoát, lãng phí các nguồn tài sản của quốc gia.

Thứ ba, việc bóc tách các tầng lớp quyền đối với tài sản chưa được nghiên cứu làm rõ, chẳng hạn như mối quan hệ của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu trong bối cảnh các chủ thể này đều có vật quyền đối với một tài sản; tính chất pháp lý, phạm vi quyền  (về không gian, thời gian, giới hạn) của các chủ thể cùng có vật quyền trên cùng một tài sản.

Ở góc độ nghiên cứu, việc nhận diện nội dung lý thuyết vật quyền, đánh giá mức độ ứng dụng và  ứng dụng ở mức độ sâu sắc hơn trong hệ thống pháp luật nước ta là điều hết sức cần thiết để đưa pháp luật nước ta tiếp cận gần hơn với nguyên lý cơ bản của khoa học pháp lý, góp phần hoàn thiện quy định về quyền đối với tài sản minh bạch, rõ ràng, khai thác giá trị tài sản trong nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, Nhóm nghiên cứu cho rằng việc triển khai nghiên cứu Đề tài khoa học: “Nhận diện lý thuyết vật quyền và vấn đề áp dụng tại Việt Nam”  là hết sức cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung của lý thuyết vật quyền trong lý luận pháp luật dân sự được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, giá trị phổ quát, giá trị đặc thù của lý thuyết này; đánh mức độ tiếp thu, vận dụng ở Việt Nam và kiến nghị hướng tiếp tục vận dụng để hoàn thiện pháp luật dân sự của nước ta trong thời gian tới.

Để đạt được mục tiêu trên, Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ THUYẾT VẬT QUYỀN

1. Vấn đề chung về lý thuyết vật quyền

Chế định vật quyền không chỉ đặt trọng tâm vào quyền của chủ sở hữu, mà còn bao gồm nhiều quyền năng pháp luật công nhận cho chủ thể không phải là chủ sở hữu. Điều này có ý nghĩa hết sức thiết thực trong nền kinh tế thị trường với các quan hệ pháp luật phong phú, các loại tài sản được đưa vào lưu thông trên thị trường trong môi trường pháp lý minh bạch, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của từng loại chủ thể.

1.1. Khái niệm

Ngày nay, thuật ngữ vật quyền đang dần được thay thế bởi một thuật ngữ hiện đại hơn là quyền đối với tài sản được hiểu là "quyền mà một người có đối với tài sản và có tính đối kháng với người khác". Theo nhóm nghiên cứu, vật quyền có thể được hiểu là quyền của một chủ thể bằng hành vi của mình tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào người khác để nhằm thỏa mãn lợi ích của cá nhân mình.

1.2. Đặc điểm

Vật quyền được nhận ra nhờ các đặc điểm cơ bản mà trên nguyên tắc, quyền đối nhân (trái quyền) không có, đó là:

Thứ nhất, vật quyền thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa chủ thể và đối tượng của quyền mà không cần có vai trò của người thứ ba.

Thứ hai, được người thứ ba tôn trọng và sự tôn trọng ấy được pháp luật bảo đảm bằng những biện pháp bảo vệ đặc biệt.

Thứ ba, vật quyền cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản, bất kể vật đang nằm trong tay người nào.

Thứ tư, vật quyền cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với tài sản nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác

1.3. Phân loại

Thứ nhất, dựa vào mối quan hệ của chủ thể có quyền với tài sản, vật quyền được phân loại thành hai nhóm: (i) quyền sở hữu; (ii) Các vật quyền khác (còn gọi là quyền trên tài sản của người khác, hoặc dịch quyền, hoặc là một số quyền của người không phải là chủ sở hữu). Gồm có các quyền như quyền hưởng dụng, quyền sử dụng, quyền ngụ cư, quyền thuê dài hạn, quyền bề mặt, quyền khai thác kinh tế và quyền quản lý nghiệp vụ, quyền địa dịch, quyền ưu tiên, vật quyền bảo đảm, quyền theo đuổi,....

Thứ hai, dựa vào mức độ tác động vật chất mà chủ thể được phép thực hiện đối với vật trong khuôn khổ tìm kiếm lợi ích, có thể chia vật quyền thành vật quyền chính và vật quyền phụ.

Thứ ba, căn cứ vào nguồn gốc vật quyền có thể chia vật quyền thành: (i) vật quyền luật định (còn gọi là vật quyền pháp định); (ii) vật quyền ước định; (iii) vật quyền theo quyết định của tòa án.

Ngoài ra, pháp luật một số nước (chẳng hạn pháp luật Đức) chia vật quyền thành hai loại: vật quyền về nội dung và vật quyền về hình thức

1.4. Nguyên tắc vật quyền

Vật quyền được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản như sau:

(1) Nguyên tắc vật quyền phải được pháp luật quy định

(2) Nguyên tắc tuyệt đối: theo đó, vật quyền có hiệu lực đối với tất cả mọi người và mọi người phải tôn trọng. Nguyên tắc này của vật quyền nhằm chống lại tác động của người khác đối với vật.

(3) Nguyên tắc công khai: theo đó, (i) việc đăng ký và công khai là điều kiện để việc chuyển vật quyền (đối với một số loại tài sản bắt buộc phải đăng ký như nhà, đất, ô tô, tàu biển,...) có hiệu lực. (ii) Việc đăng ký và công khai sự chuyển dịch vật quyền có giá trị đối kháng với người thứ ba.

(4) Nguyên tắc tin cậy (hiệu lực công tín): nguyên tắc này được thiết lập trên cơ sở sự xác nhận của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người nào đã tin vào của sự xác nhận đó thì họ có quyền tin vào sự tồn tại hợp pháp của một vật quyền và được bảo vệ, kể cả trường hợp sự xác nhận của cơ quan nhà nước có sai sót, nhẫm lẫn.

(5) Nguyên tắc trừu tượng và tách biệt: một giao dịch được tách thành giao dịch trái quyền và giao dịch vật quyền. Tính trìu tượng ở đây là tách giao dịch vật quyền ra khỏi trái quyền. Trong một số trường hợp, trái quyền có vô hiệu nhưng vật quyền vẫn có hiệu lực.

1.5. Mối quan hệ giữa vật quyền và trái quyền

Vật quyền và trái quyền là hai chế định xương sống, cơ bản, quan trọng và song hành tồn tại trong mọi hệ thống pháp luật dân sự và sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Mối quan hệ gữa vật quyền và trái quyền trong pháp luật dân sự các nước thể hiện ở các điểm sau đây:

Thứ nhất, sự phân biệt rõ ràng giữa vật quyền và trái quyền đã giúp người làm luật xây dựng các chế độ pháp lý tương ứng cho các quyền tài sản có tính chất khác biệt mà vẫn đảm bảo cấu trúc pháp luật logic, hợp lý.

Thứ hai, việc vận dụng lý thuyết vật quyền – trái quyền giúp phát huy giá trị tài sản, phát triển nền kinh tế thị trường.

Thứ ba, trong một quan hệ pháp luật dân sự có sự lồng ghép của hai yếu tố vật quyền và trái quyền.

Thứ tư, các nội dung về trái quyền và vật quyền mối quan hệ hỗ trợ, bảo vệ lẫn nhau.

2. Nội dung chế định vật quyền

2.1. Quyền sở hữu

Quyền sở hữu được hiểu là tập hợp một số quyền năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định, được coi là vật quyền chính, quyền quan trọng nhất thiết lập trên tài sản, thể hiện chủ quyền đối với tài sản và là cơ sở cho tất cả các vật quyền khác. Khái niệm, đặc trưng của quyền sở hữu được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự của các nước là chủ sở hữu có toàn quyền theo ý chí đối với tài sản thuộc sở hữu của mình và quyền loại trừ sự xâm phạm, can thiệp của chủ thể khác. Để chủ sở hữu hiện được các quyền này, Nhà nước ban hành chế định quyền sở hữu trao cho chủ sở hữu những quyền nhất định đối với tài sản của mình; đồng thời, cấm những người khác thực hiện các hành vi làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quyền của người có vật.

Có thể nói, trong hệ thống vật quyền thì quyền sở hữu có vị trí trung tâm. Có được vị trí này là do quyền sở hữu có những đặc thù mà các vật quyền hạn chế không thể có được. Cụ thể là:

Thứ nhất, quyền sở hữu là cái có trước còn mọi vật quyền khác đều là cái có sau (tính phái sinh của các vật quyền hạn chế).

Thứ hai, nội dung của các vật quyền hạn chế luôn mang tính không đầy đủ, không trọn vẹn, chính vì vậy người ta gọi các quyền này là vật quyền hạn chế.

Thứ ba, chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình một cách độc lập, theo ý chí, nguyện vọng của mình. Nhìn tổng quan, quyền sở hữu được coi là vật quyền thứ nhất, tuyệt đối, trọn vẹn nhất. Chủ sở hữu có độc quyền đối với vật, từ nắm giữ, kiểm soát về phương diện vật chất cho đến khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ vật và quyết định số phận vật chất, pháp lý của vật đó. Còn chủ thể của vật quyền hạn chế thì trong một số trường hợp tuy có một hoặc một số quyền năng như chủ sở hữu (sử dụng, khai thác công dụng) nhưng chỉ có thể thực hiện các quyền trong phạm vi luật định. Những loại  quyền này là sự độc lập hoá theo mục đích của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu, theo chức năng của quyền sở hữu, là một phần được tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập và được những chủ thể không phải là chủ sở hữu thực hiện.

Hầu hết pháp luật các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law quan niệm quyền sở hữu gồm quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi và quyền định đoạt, còn quyền chiếm hữu được coi là quan hệ thực tế,

Trong khi đó, ở một góc độ tiếp cận khác, các nước chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật “Sovietique Law” có xu hướng tập trung vào chức năng xã hội của tài sản và ghi nhận chiếm hữu là một trong những quyền năng của quyền sở hữu.

- Quyền chiếm hữu với tính chất là một cấu thành của quyền sở hữu theo quan điểm một số nước được hiểu là khả năng được pháp luật bảo đảm, cho phép chủ sở hữu thống trị đối với vật, việc thống trị (nắm giữ) vật được hiểu theo nghĩa rộng, tức là chủ sở hữu không chỉ nắm giữ vật một cách trực tiếp mà còn cả gián tiếp..

- Quyền sử dụng là khả năng được pháp luật bảo đảm, cho phép chủ sở hữu khai thác các thuộc tính có ích của vật. Quyền sử dụng thông thường dựa vào quyền chiếm hữu (có chiếm hữu thì mới sử dụng được tài sản). Tuy nhiên, cũng có trường hợp sử dụng vật mà không cần chiếm hữu nó. Ví dụ, xưởng cho thuê nhạc cụ cho một người nào đó thuê một nhạc cụ nào đó và người thuê sử dụng nhạc cụ này ngay trong xưởng mà không mang về nhà.

- Quyền định đoạt là khả năng được pháp luật bảo đảm, cho phép chủ sở hữu quyết định số phận pháp lý và số phận thực tế của vật thông qua việc thực hiện các hành vi nhất định đối với vật (bán, tặng, cho thuê..., tiêu hủy, vứt bỏ tài sản). Một vấn đề đặt ra là, khi quyền sở hữu bị chấm dứt trong trường hợp vật được sử dụng một lần có được coi là hành vi định đoạt hay không.

Từ sự phân tích trên, nhóm nghiên cứu định nghĩa quyền sở hữu theo nghĩa chủ quan như sau: “Quyền sở hữu theo nghĩa chủ quan là khả năng (được pháp luật bảo đảm) của chủ sở hữu được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình theo ý chí, nguyện vọng và vì lợi ích của mình thông qua việc thực hiện trên vật đó mọi hành vi miễn là các hành vi đó không vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và khả năng loại bỏ mọi sự can thiệp của tất cả những người khác (người thứ ba) vào quá trình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu”.

Như vậy, quyền sở hữu bao gồm hai bộ phận: (1) đó là quyền của chủ sở hữu tác động trực tiếp lên vật để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình và (2) quyền ngăn cản các chủ thể khác can thiệp vào quá trình thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu.

Ở góc độ là đối tượng xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền sở hữu luôn dành sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và bằng nhiều công cụ, phương tiện để tác động vào các quan hệ sở hữu, làm cho các quan hệ xã hội này hình thành, phát triển theo ý chí của mình. Ở góc độ này, nhóm nghiên cứu đưa ra khái niệm về quyền sở hữu theo nghĩa khách quan. Theo đó, “quyền sở hữu theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình và các quan hệ liên quan đến việc ngăn cản sự can thiệp của tất cả những người thứ ba vào quá trình thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu.

2.2. Các quyền khác đối với tài sản

2.2.1. Quyền địa dịch

- Servitude hay easement (quyền địa dịch) là những thuật ngữ được hệ thống civil law và common law sử dụng để chỉ đến quan hệ giữa hai bất động sản trong đó một bất động sản (gọi là bất động sản chịu địa dịch) chấp nhận vai trò phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác (gọi là bất động sản hưởng địa dịch) thuộc về một chủ sở hữu khác (ví dụ điển hình là địa dịch về lối đi qua của một bất động sản bị vây bọc).

Địa dịch được xác định là một trong những yếu tố đặc trưng của chế độ pháp lý về bất động sản trong quan hệ láng giềng và được biết từ lâu như một chế định có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác bất động sản khi một bất động sản nằm giữa các bất động sản của những người khác.

- Chế định địa dịch có một số nội dung, đặc điểm quan trọng sau:

+ Địa dịch có thể được xác lập theo địa thế tự nhiên, thỏa thuận hoặc theo luật định

+ Quyền địa dịch được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản hưởng địa dịch, phù hợp với mục đích sử dụng bất động sản.

- Quy tắc của quyền địa dịch:

+ Phải có tình trạng hai mảnh đất phải liền kề nhau hoặc rất gần nhau.

+ Hai mảnh đất không thể thuộc quyền sở hữu của một chủ sở hữu.

+ Mảnh đất hưởng địa dịch được lợi từ sự tồn tại của tình trạng địa dịch;

+ Quyền địa dịch phải được thực hiện một cách hợp lý do đặc tính của quyền sở hữu là tính tuyệt đối, trong khi quyền địa dịch đã đặt gánh nặng lên quyền sở hữu của người có mảnh đất chịu địa dịch, hạn chế quyền tự do của chủ sở hữu.

2.2.2. Quyền hưởng dụng

- Quyền hưởng dụng được xem là một phân nhánh của quyền sở hữu, bao gồm quyền sử dụng và hưởng lợi của chủ sở hữu. Theo truyền thống civi law, quyền hưởng dụng bao gồm quyền sử dụng và quyền hưởng lợi, có nghĩa là quyền sở hữu khuyết thiếu quyền định đoạt - quyền vẫn thuộc về chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng.

Khác với quyền địa dịch (dịch quyền theo vật), quyền hưởng dụng là dịch quyền theo người - dịch quyền không gắn liền với đất mà gắn liền với người nắm giữ quyền không phải là chủ sở hữu của mảnh đất. Điều đó có nghĩa là quyền hưởng dụng có mối liên hệ chặt chẽ với người hưởng dụng, do đó, quyền hưởng dụng sẽ chấm dứt khi người có quyền hưởng dụng chết.

- Đối tượng của quyền hưởng dụng có thể là bất động sản và động sản, được thiết lập trên cả tài sản tiêu hao và tài sản không tiêu hao; hữu hình và vô hình.

- Căn cứ xác lập: quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật hoặc theo ước định (gồm thoả thuận và hành vi pháp lý đơn phương).

- Thời hạn của quyền hưởng dụng: do các bên thỏa thuận hoặc do luật định nhưng tối đa chỉ đến hết cuộc đời của người hưởng dụng.

- Chủ thể có liên quan đến quyền hưởng dụng: gồm có chủ sở hữu tài sản chịu quyền hưởng dụng, người cấp quyền hưởng dụng (có thể là một người khác có thẩm quyền do luật định mà không phải là chủ sở hữu như tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc ngươi khác) và người hưởng dụng. Khi quyền hưởng dụng được cấp cho một người trên một tài sản, thì chủ sở hữu của tài sản đó chỉ còn lại quyền định đoạt, bởi quyền sử dụng và quyền hưởng hoa lợi đã thuộc về khác.

- Nội dung của quyền hưởng dụng:

+ Các quyền của người hưởng dụng: (1) Tự mình hoặc cho phép người khác sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng; (2) Yêu cầu chủ sở hữu vật thực hiện nghĩa vụ sửa chữa lớn đối với vật để vật có thể được khai thác, sử dụng trong những điều kiện bình thường; (3) Cho thuê, chuyển nhượng có đền bù hoặc không có đền bù quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đối với vật; xác lập biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng quyền hưởng hoa lợi, lợi tức.

+ Nghĩa vụ của người hưởng dụng: (1) Tiếp nhận vật theo hiện trạng và chỉ được hưởng dụng sau khi đã làm thủ tục kê khai, đăng ký quyền hưởng dụng theo quy định của luật; (2) Sử dụng, khai thác vật phù hợp với công dụng của vật; (3) Giữ gìn, bảo quản vật như tài sản của mình; bảo đảm không làm giảm sút giá trị của vật trong quá trình hưởng dụng vật, trừ trường hợp giảm sút giá trị do hao mòn tự nhiên trong điều kiện sử dụng bình thường; (4) Sửa chữa nhỏ, bảo dưỡng vật theo định kỳ phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo quản vật; (5) Khôi phục tình trạng của vật và khắc phục các hậu quả xấu đối với vật do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình; (6) Hoàn trả vật cho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng. Trong trường hợp này, người hưởng dụng không có quyền yêu cầu bồi hoàn những chi phí đã bỏ ra để tu bổ vật trong thời gian hưởng dụng dù những sự tu bổ này làm tăng giá trị của vật.

- Quyền hưởng dụng chấm dứt trong các trường hợp sau đây: (1) Thời hạn của quyền hưởng dụng đã hết; (2) Người hưởng dụng trở thành chủ sở hữu vật là đối tượng của quyền hưởng dụng; (3) Vật là đối tượng của quyền hưởng dụng không được sử dụng trong thời hạn luật định; (4) Vật là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn.

2.2.3. Quyền bề mặt

- Quyền bề mặt là quyền của một chủ thể được sử dụng mặt đất, khoảng không trên mặt đất và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về người khác. Quyền bề mặt có thể được xác lập theo thỏa thuận, theo cam kết đơn phương hoặc theo luật định. Đối tượng của quyền bề mặt có thể là vật cụ thể gắn với đất hoặc là phần không gian, theo đó vật gắn với đất sẽ được tạo lập; vật cụ thể gắn với đất có thể là vật nằm trên bề mặt đất, nằm dưới mặt đất hoặc phần không gian trên mặt đất.

- Nội dung của quyền bề mặt:

(1) Chủ thể quyền bề mặt có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với đối tượng của quyền bề mặt;

(2) Trong trường hợp đối tượng của quyền là phần không gian mà trong đó các vật gắn với đất có thể được tạo lập, thì chủ sở hữu phần không gian có quyền xây dựng, trồng cây, canh tác và có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với vật mới được tạo ra. 

(3) Khi quyền bề mặt chấm dứt, thì vật thuộc quyền sở hữu của người sử dụng đất và chủ sở hữu vật trên đất thuộc quyền sử dụng của người khác không được bồi hoàn giá trị của vật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

(4) Khi chuyển quyền bề mặt cho người khác thì chủ sở hữu mới có quyền sử dụng phần đất bên dưới vật cùng với các điều kiện và phạm vi như người chủ sở hữu cũ của vật đã sử dụng.

Quan điểm về quyền bề mặt hiện nay theo nghĩa rộng của các quốc gia châu Âu phổ biến nhất, quyền bề mặt là quyền sử dụng toàn bộ phần phía trên và dưới bề mặt đất. Chủ thể có quyền bề mặt có quyền chuyển dịch, thừa kế, thế chấp trong một thời hạn nhất định. Khi kết thúc khoảng thời hạn này, những tài sản được tạo lập trên đất có thể thuộc sở hữu của chủ sở hữu mảnh đất.

2.2.4. Quyền thuê đất dài hạn

Quyền thuê đất dài hạn là quyền sử dụng đất của người khác để sản xuất nông nghiệp, canh tác, người có quyền này có thể thay đổi mục đích sử dụng đất, với điều kiện là không được để tình trạng đất xấu đi và phải trả cho người sở hữu đất một khoản tiền thuê.

Có thể thấy, quyền thuê đất dài hạn là vật quyền hạn chế. Người thuê đất chỉ được thực hiện các quyền của người sử dụng đất một cách hạn chế theo quy định pháp luật.

2.2.5. Quyền chiếm hữu được thừa kế suốt đời đối với đất đai và quyền chiếm hữu đất thường xuyên

Quyền chiếm hữu được thừa kế suốt đời đối với đất đai Quyền chiếm hữu đất thường xuyên (còn gọi là quyền sử dụng vô thời hạn đối với đất đai thuộc sở hữu công cộng hay là quyền sử dụng vĩnh viễn) cũng là một loại vật quyền hạn chế. Cơ sở để có được loại vật quyền đối với đất đai thuộc sở hữu của nhà nước hoặc thị chính mà công dân có được trên cơ sở và trình tự được pháp luật đất đai quy định. Công dân, người nắm quyền chiếm hữu được thừa kế suốt đời (người chiếm hữu thửa đất) có quyền chiếm hữu và sử dụng thửa đất và để lại thừa kế. Nếu pháp luật không có quy định khác về điều kiền sử dụng thửa đất thì người chiếm hữu thửa đất có quyền xây dựng trên thửa đất những tòa nhà, công trình và xây dựng những bất động sản khác và có được quyền sở hữu trên chúng. Người chiếm hữu không được phép định đoạt thửa đất năm trong quyền chiếm hữu được thừa kế suốt đời trừ trường hợp chuyển quyền thừa kế thửa đất.

Chủ thể được giao đất để sử dụng vĩnh viễn nếu pháp luật không có quy đinh khác, có quyền tự do sử dụng thửa đất theo đúng mục đích mà người đó được giao đất, bao gồm việc xây dựng trên thửa đất những tòa nhà, công trình và bất động sản khác phù hợp với mục đích. Những tòa nhà, công trình và bất động sản khác được chủ thể này xây dựng cho chính mình là tài sản của chủ thể đó. Chủ thể được giao đất để sử dụng vĩnh viễn không có quyền định đoạt thửa đất này trừ trường hợp giao kết thỏa thuận về việc hình thành quyền sử dụng hạn chế đất đai của chủ  thể khác và chuyển nhượng đất để sử dụng mà không thu tiền cho công dân dưới hình thức phần đất công vụ được chia phù hợp với quy định của pháp luật đất đai.

2.2.6. Quyền quản lý kinh doanh và quyền quản lý nghiệp vụ

Quyền quản lý kinh doanh và quyền quản lý nghiệp vụ đối với tài sản mà nhà nước giao cho doanh nghiệp là loại quyền đặc trưng cho tính biệt lập về tài sản của các doanh nghiệp và các tổ chức đơn nhất - các loại pháp nhân duy nhất không phải là chủ sở hữu tài sản của mình.

- Việc phân chia các doanh nghiệp và tổ chức đơn nhất thành quyền quản lý kinh doanh và (hoặc) quyền quản lý nghiệp vụ là cách thức thực hiện quyền sở hữu của các tổ chức pháp lý công khai, nhưng không phải là hình thức pháp lý của sự tham gia kinh tế cần thiết của một chủ thể vào quyền sở hữu tài sản của chủ thể khác trên bất động sản (đóng vai trò như các điều kiện tiên quyết chính cho sự tồn tại của chính phạm trù vật quyền).

- Đồng thời, quyền quản lý nghiệp vụ theo bản chất của nó được tính toán dựa trên quan hệ sở hữu nhà nước và không phù hợp với các pháp nhân tư nhân.

Nội dung của các quyền của quản lý kinh doanh và quyền quản lý nghiệp vụ được xác định không chỉ bằng pháp luật mà còn bởi quy chế của pháp nhân cụ thể.

2.2.7. Vật quyền bảo đảm

- Vật quyền bảo đảm là một khái niệm của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, được dùng để chỉ quyền trực tiếp của bên nhận bảo đảm trên một tài sản được chủ sở hữu của nó dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ.

- Ngày nay, vật quyền bảo đảm được chia thành hai nhóm bao gồm vật quyền bảo đảm pháp định (do luật quy định) gồm quyền cầm giữ, đặc quyền nhận trước (quyền ưu tiên) và vật quyền bảo đảm ước định (được thiết lập trên cơ sở hợp đồng) gồm cầm cố, thế chấp, bảo lưu quyền sở hữu. Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu đã phân tích nội dung cụ thể của các loại quyền bảo đảm sau: Cầm cố và thế chấp, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu, quyền ưu tiên, nợ điền địa, bảo đảm chuyển nhượng động sản.

- Từ các đặc điểm chung của vật quyền và đặc thù quan hệ bảo đảm nghĩa vụ, vật quyền bảo đảm có một số đặc điểm cụ thể sau: (i) Về khía cạnh kỹ thuật lập pháp thì vật quyền bảo đảm phải được luật định. (ii) Vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác (tạm gọi là quyền theo đuổi). (iii) Bên nhận bảo đảm có quyền kiểm soát lưu thông tài sản trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là quyền của bên nhận bảo đảm được phép thực hiện các hành vi nhất định để ngăn chặn việc định đoạt trái phép tài sản bảo đảm hoặc hành vi làm mất, làm giảm sút giá trị của tài sản bảo đảm. (iv) Vật quyền bảo đảm cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với tài sản bảo đảm trước những chủ thể khác đã xác lập vật quyền bảo đảm sau mình (tạm gọi là quyền ưu tiên). (v) Vật quyền bảo đảm cho phép bên có quyền “chống lại” các chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm (tạm gọi là quyền đối kháng).

- Thông qua bản chất, đặc điểm của vật quyền nói chung cũng như của các vật quyền và vật quyền bảo đảm nói riêng, có thể thấy giữa vật quyền sở hữu với vật quyền bảo đảm có các mối liên hệ sau đây:

+ Sự phái sinh sơ cấp mà vật quyền sở hữu là vật quyền gốc, vật quyền bảo đảm là vật quyền phái sinh.

+ Sự dịch chuyển quyền định đoạt đối với tài sản: các chủ sở hữu đem tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ đều phải chấp nhận rằng nếu nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện thì quyền định đoạt tài sản đó thuộc về bên nhận bảo đảm.

+ Vật quyền bảo đảm là một trong những nội dung của quan hệ luôn được hình thành theo thỏa thuận (quan hệ bảo đảm) giữa chủ sở hữu tài sản với người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm.

2.3. Xác định phạm vi, giới hạn và mối quan hệ của các loại vật quyền trên cùng một tài sản

Nghiên cứu cho thấy, các loại vật quyền có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa vật quyền gốc với các vật quyền phái sinh và ngược lại. Và bản thân các vật quyền phái sinh cũng có mối liên hệ với nhau. Mối liên hệ này được biểu hiện trong trường hợp các quyền phái sinh tác động lên cùng một tài sản.

3. Vị trí của chế định vật quyền trong Bộ luật Dân sự một số nước

Tại mục này, nhóm nghiên cứu phân tích vị trí của chế định vật quyền theo Bộ luật Dân sự của một số nước như CHLB Đức, Nga, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Campuchia…

Qua nghiên cứu một số Bộ luật Dân sự của các nước nói trên, chúng ta có thể nhận thấy, cấu trúc cơ bản và nội dung các vật quyền được quy định trong Bộ luật Dân sự các nước có những điểm tương đồng và khác biệt. Trong khi Bộ luật Dân sự Pháp và Nga có xu hướng quy định các vật quyền hạn chế và vật quyền bảo đảm tại hai phần của Bộ luật, thì Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Nhật Bản dựa trên tính chất vật quyền của chúng lại tập trung về phần quy định quyền đối với tài sản. Các nước khá quan tâm đến quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản và ghi nhận khá nhiều vật quyền hạn chế. Bộ luật Dân sự các nước cũng có những điểm giống và khác nhau khi ghi nhận về các loại vật quyền hạn chế. Một số vật quyền hạn chế được nhiều nước ghi nhận là quyền hưởng dụng, địa dịch, quyền cầm cố, thế chấp, cầm giữ tài sản; bên cạnh đó, một số vật quyền hạn chế ít được pháp luật các nước ghi nhận như quyền quản lý kinh tế và quản lý hoạt động của tài sản (Nga), nợ điền địa (Đức)...; việc lựa chọn ghi nhận vật quyền hạn chế nào phụ thuộc vào chính sách lập pháp và điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi một quốc gia.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích, nghiên cứu các vấn đề chung về lý thuyết vật quyền, nhận diện, hệ thống hóa và sắp xếp một cách khoa học nhất có thể các loại vật quyền. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, triết lý vật quyền đã được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài của lịch sử phát triển xã hội. Tinh thần của lý thuyết vật quyền cũng ảnh hưởng rõ nét trong pháp luật dân sự các nước bằng sự ghi nhận quyền sở hữu và nhiều loại vật quyền hạn chế, những nội dung cơ bản của nguyên lý vật quyền được hóa thân vào hệ thống pháp luật. Bên cạnh những giá trị được thừa nhận chung của lý thuyết vật quyền cũng cho thấy những dấu ấn, nét riêng của mỗi nước, tùy thuộc chính sách, quan điểm lập pháp, nền tảng kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.

 

Lợi ích của việc vận dụng, phát triển lý thuyết vật quyền trong hệ thống pháp luật

Về phương diện cấu trúc luật pháp, trên cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền, người làm luật có điều kiện xây dựng các chế độ pháp lý tương ứng cho các quyền tài sản có tính chất khác biệt, để các chủ thể lựa chọn tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện của mình trong quá trình giao tiếp xã hội nhằm tìm kiếm lợi ích vật chất.

 Chỉ khi xây dựng lý thuyết vật quyền, người làm luật mới có điều kiện khám phá các đặc tính chung của loại quyền: khái niệm quyền sở hữu, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (địa dịch)…

Hiện nay, việc vận dụng, phát triển lý thuyết vật quyền trong quá trình xây dựng pháp luật đã mang lại nhiều ưu điểm, khắc phục các bất cập do sự thiếu vắng lý thuyết vật quyền ảnh hưởng xấu đến chất lượng kỹ thuật của pháp luật nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng trong thời gian qua.

Việc vận dụng lý thuyết vật quyền mang lại những lợi ích to lớn cho hệ thống pháp luật dân sự ở nhiều nước, từ phương diện bảo đảm tính trong sáng, logic trong cấu trúc lập pháp, đến việc thiết kế nội dung các quy phạm và bảo đảm hiệu quả thực thi.

II. ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ TIẾP THU LÝ THUYẾT VẬT QUYỀN

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam

Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu đã đánh giá sơ lược sự phát triển hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam trong quá trình tiếp cận lý thuyết vật quyền từ thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc (1858–1945), pháp luật Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 và từ năm 1975 đến nay. Nhóm nghiên cứu đã phân tích sâu về quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền đối với tài sản, đặc biệt là các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam năm 2015

Mặc dù không sử dụng thuật ngữ “vật quyền” nhưng BLDS năm 2015 đã đưa ra thuật ngữ chung để chỉ đến các vật quyền khác với quyền sở hữu. Điều này nhằm nhận dạng quyền sở hữu với tính cách là vật quyền chính - vật quyền đầy đủ, trọng tâm và được biết đến nhiều nhất hiện nay với các vật quyền còn lại là các phân nhánh của quyền sở hữu – hay còn gọi là vật quyền hạn chế tương tự như quy định của BLDS Pháp và BLDS Đức - những bộ luật chịu ảnh hưởng lớn của học thuyết vật quyền và trái quyền

Thứ nhất, ảnh hưởng của học thuyết phân biệt vật quyền và trái quyền được thể hiện qua kết cấu của BLDS năm 2015 đã logic và có tính khái quát lý luận cao. Đây cũng chính là cơ sở để lý giải cho sự hợp lý và tương đồng hơn về kết cấu của Phần thứ hai của BLDS năm 2015 với một số BLDS hiện đại trên thế giới.

Thứ hai, BLDS năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc luật định, bên cạnh việc ghi nhận một danh sách các vật quyền bao gồm quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản còn khẳng định “Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được xác lập, thực hiện trong trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định”.

Thứ ba, ghi nhận tính tuyệt đối của vật quyền.

Thứ tư, ghi nhận nguyên tắc công khai.

Thứ năm, ghi nhận các vật quyền khác (gồm quyền địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt).

Thứ sáu, ghi nhận vật quyền bảo đảm bao gồm bảo đảm đối vật và bảo đảm đối nhân

Cụ thể, nội dung của quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản được ghi  nhận tại hệ thống pháp luật hiện hành như sau:

1.1. Quyền sở hữu

Điều 158 BLDS năm 2015 không quy định cụ thể về khái niệm quyền sở hữu mà chỉ quy định “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”. Quyền sở hữu là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự nhằm thể chế hóa quy định của Hiến pháp về sở hữu, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự xã hội trong giao lưu dân sự.

1.1.1. Về hình thức sở hữu

BLDS năm 2015 đã có những cải cách trong quy định về việc phân loại các hình thức sở hữu bảo đảm phù hợp với bản chất pháp lý của quan hệ sở hữu và thông lệ quốc tế về vấn đề này. Bộ luật quy định 3 hình thức sở hữu bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung.

Sự khác biệt lớn nhất về hình thức sở hữu trong dân sự là cách thức thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình, trong đó cách thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc một chủ và đối với tài sản thuộc nhiều chủ sở hữu là khác biệt cơ bản nhất. Việc xác định các hình thức sở hữu căn cứ vào các đặc thù trong việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu, chứ không phải căn cứ vào tính chất, chức năng của các chủ sở hữu.

1.1.2. Thực hiện quyền sở hữu

Việc thực hiện quyền sở hữu dựa trên các nguyên tắc sau: Thứ nhất, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản. Thứ hai, việc thực hiện quyền sở hữu không được trái quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Ngoài những quy định chung về thực hiện quyền sở hữu, đối với mỗi hình thức sở hữu cụ thể lại có những đặc trưng khác nhau. Đối với sở hữu toàn dân, Nhà nước là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản. Tuy nhiên, Nhà nước chỉ gián tiếp thực hiện quyền của chủ sở hữu tài sản thông qua các cá nhân, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình. Đối với sở hữu riêng, cá nhân, pháp nhân có thể tự mình hoặc thông qua cá nhân, pháp nhân khác để thực hiện một hoặc toàn bộ các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với các tài sản thuộc sở hữu của mình. Việc thực hiện quyền sở hữu riêng phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan khác. Đối với sở hữu chung, phương thức thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung phụ thuộc vào từng loại sở hữu chung khác nhau.

1.1.3. Chấm dứt quyền sở hữu

Quyền sở hữu có thể chấm dứt theo ý chí của chủ sở hữu, theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật

1.1.4. Các nội dung cơ bản của quyền sở hữu

- Quyền chiếm hữu: ngoài việc ghi nhận chiếm hữu với tính chất là một tình trạng thực tế giữa người với tài sản, ở một góc độ khác, BLDS năm 2015 có 03 điều (Điều 186 đến Điều 188) còn tiếp cận quyền chiếm hữu của chủ sở hữu là một nội dung nằm bên trong quyền sở hữu, bên cạnh quyền sử dụng và quyền định đoạt.

- Quyền sử dụng: từ nội hàm quy định của BLDS năm 2015 có thể thấy quyền sử dụng gồm 02 quyền năng chính là khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Đây là quy định khá khác biệt của pháp luật dân sự Việt Nam so với nhiều pháp luật khác trên thế giới.

- Quyền định đoạt:

Điều 192 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản”, khái niệm này không khác với quy định tại BLDS năm 2005.

+ Về chủ thể có quyền định đoạt, BLDS năm 2015 có quy định chủ thể có quyền định đoạt là chủ sở hữu và người không phải chủ sở hữu. Để có quyền định đoạt thì các chủ thể phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định (Điều 193)

+ Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận thực tế hay số phận pháp lý đối với tài sản của mình, nhưng trong một số trường hợp, nhằm bảo đảm cân bằng lợi ích của chủ sở hữu với lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng và lợi ích của người khác, quyền định đoạt tài sản có thể bị hạn chế theo những điều kiện nhất định

1.2. Quyền khác đối với tài sản

1.2.1. BLDS năm 2015 đã đưa ra định nghĩa quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác; ghi nhận nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền khác đối với tài sản là ngoài căn cứ luật định tại BLDS, còn có thể được quy định tại luật khác có liên quan. BLDS năm 2015 ghi nhận 3 quyền khác đối với tài sản gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền địa dịch.

1.2.2. Ngoài quy định của BLDS năm 2015, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn ghi nhận một số quyền khác đối với tài sản như quyền thuê đất dài hạn (được quy định trong Luật Đất đai năm 2013). Quyền sử dụng đất (quy định tại BLDS năm 2015 và Luật Đất đai năm 2013), quyền khai thác kinh tế và quyền quản lý nghiệp vụ đối với tài sản mà nhà nước giao cho doanh nghiệp (quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017

1.2.3. Vật quyền bảo đảm

BLDS năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành, văn bản có liên quan đã có những quy định ghi nhận một số nội dung của vật quyền bảo đảm. Đó là:

Thứ nhất, ghi nhận quyền truy đòi tài sản bảo đảm để xử lý của bên nhận bảo đảm; quyền tự bán tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm theo thỏa thuận của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; quyền thu giữ tài sản bảo đảm trường hợp thí điểm xử lý nợ xấu.

Thứ hai, ghi nhận thêm 2 biện pháp bảo đảm luật định là cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu

Thứ ba, ghi nhận việc các bên có thể thoả thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Thứ tư, ghi nhận đăng ký biện pháp bảo đảm là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ của bên nhận thế chấp.

Thứ năm, quy định tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm trừ trường hợp cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu.

Thứ sáu, ghi nhận giá trị pháp lý của việc chiếm hữu tài sản.

Nhóm nghiên cứu cũng phân tích đánh tài sản, thế chấp tài sản, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu, quyền ưu tiên thanh toán, giá các quy định nội dung vật quyền trong các biện pháp bảo đảm cụ thể: cầm cố

1.3. Bảo vệ quyền đối với tài sản

BLDS năm 2015 và pháp luật có liên quan đã thiết lập cơ chế bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản với các nội dung sau:

 (1) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác không bị hạn chế, tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

(2) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ trước các hành vi xâm phạm quyền.

(3) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ bẳng phương thức khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính

(4) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền kiện đòi tài sản.

(5) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu chú thể khác chấm dứt hành vi xâm phạm quyền

(6) Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu chủ thể gây thiệt hại cho tài sản phải bồi thường

2. Bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản nhìn từ góc độ lý thuyết vật quyền

Lý thuyết vật quyền dù đã được vận dụng trong pháp luật Việt Nam nhưng còn chưa triệt để, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc ghi nhận các vật quyền hạn chế trong hệ thống pháp luật dân sự hiện hành còn ít. Nhiều loại quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản  chưa thể mịnh định một cách rõ nét có phải là vật quyền hay không và thuộc loại vật quyền nào.

Thứ hai, việc bóc tách các tầng lớp quyền đối với tài sản chưa được làm rõ, chẳng hạn như mối quan hệ của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu trong bối cảnh các chủ thể này đều có vật quyền đối với một tài sản; tính chất pháp lý, phạm vi quyền của các chủ thể cùng có vật quyền trên cùng một tài sản.

Thứ ba, nội dung một số vật quyền hạn chế chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng.

Thứ tư, hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể còn bị chồng chéo, mẫu thuẫn và trùng lắp trong quy định của pháp luật.

Qua nghiên cứu đề tài, nhóm tác giá đã đánh giá một số bấp cập cụ thể như sau:

2.1. Về khái niệm tài sản với tính chất là đối tượng của quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, pháp luật Việt Nam còn có những bất cập sau:

- Pháp luật định nghĩa tài sản theo phương thức liệt kê, do vậy sẽ không thể bao quát hết các tài sản có thể phát sinh trong tương lai.

- Việc phân loại tài sản giữa bất động sản theo hướng loại trừ nếu không phải là bất động sản thì là động sản không hợp lý.

- Khái niệm tài sản hình thành trong tương lai được trong BLDS năm 2015, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Nhà ở năm 2014 chưa thống nhất, mới chỉ dựa trên yếu tố vật chất, vật lí của tài sản mà bỏ qua yếu tố về mặt pháp lí của tài sản.

2.2. Về hình thức sở hữu

- Chế định pháp lý liên quan đến quyền sử dụng (đất), quyền khai thác kinh tế và quyền quản lý nghiệp vụ (đối với tài sản mà nhà nước giao cho doanh nghiệp), quyền khai thác mỏ, quyền đánh cá, quyền khai thác rừng… chưa được nhìn nhận, đánh giá ở góc độ lý thuyết vật quyền. Điều này dẫn đến còn tồn tại những “khoảng trống” trong cơ chế pháp lý điều chỉnh quan hệ phát sinh; chưa đảm bảo để mọi tài sản đều có được một người chủ thực sự.

- Hình thức sở hữu toàn dân với đại diện chủ sở hữu là Nhà nước (một hình thức sở hữu không có trong thông lệ quốc tế) với nội hàm của quyền sở hữu cũng như về thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu và chủ thể liên quan còn nhiều điểm chưa rõ, gây vướng mắc trong thực tiễn.

2.3. Về nội dung quyền sở hữu

2.3.1. Quyền chiếm hữu

- BLDS năm 2015 đã tiếp cận quyền chiếm hữu với tính chất là một tình trạng thực tế giữa người với tài sản, tuy nhiên cách tiếp cận còn thiếu dứt điểm khi tại Bộ luật này, đề cập đến cấu thành quyền sở hữu vẫn gồm 3 quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và duy trì 03 điều (Điều 186 đến Điều 188) về quyền chiếm hữu của chủ sở hữu

- Định nghĩa về quyền chiếm hữu còn chưa rõ ràng, dễ gây ra cách hiểu khác nhau trong việc sử dụng cụm từ “như chủ thể có quyền đối với tài sản”.

- Quy định nội dung của quyền chiếm hữu trong BLDS năm 2015 chưa thực sự phù hợp.

- Chưa có quy định rõ hướng giải quyết khi tài sản được chủ sở hữu chuyển giao cho chủ thể khác nhưng bị chủ thể thứ ba chiếm hữu bất hợp pháp.

2.3.2. Quyền sử dụng

Việc nhà làm luật Việt Nam đã gộp trong quyền sử dụng cả quyền thu hoa lợiđã tạo nên sự khác biệt với các hệ thống pháp luật khác. Trên thực tế, có nhiều người tuy được quyền sử dụng tài sản nhưng lại không được hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác công dụng đó hoặc ngược lại.

2.3.3. Quyền định đoạt

Khái niệm quyền định đoạt tại BLDS năm 2015 chưa đầy đủ, mơi chỉ nhằm liệt kê các dạng định đoạt tài sản.

2.4. Các quyền khác đối với tài sản

- Việc ghi nhận các vật quyền hạn chế trong hệ thống pháp luật dân sự hiện hành còn ít ỏi. Nhiều vật quyền hạn chế như quyền ngụ cư, quyền thuê dài hạn, quyền ưu tiên, quyền sử dụng, nợ điền địa… chưa được nghiên cứu và đề cập đến.

- Việc bóc tách các tầng lớp quyền đối với tài sản chưa được làm rõ.

Ngoài những điểm hạn chế chung về các quyền khác đối với tài sản, nhóm nghiên cứu cũng đánh giá những bất cập khi áp dụng các quy định pháp luật về quyền địa dịch, quyền hưởng dụng,, quyền bề mặt trong thực tiễn.

2.5. Vật quyền bảo đảm

- Quy định về quyền truy đòi tài sản bảo đảm của tổ chức tín dụng mới chỉ xác định về nguyên tắc, bên nhận bảo đảm có quyền truy đòi tài sản bảo đảm mà chưa có quy định cụ thể, rõ ràng cách thức và cơ chế thực hiện.

- Việc xử lý trong trường hợp tài sản vừa được thế chấp, vừa được cầm cố vẫn chưa được quy định rõ ràng.

- Các quy định về cầm cố bất động sản, thế chấp quyền tài sản, bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai, thế chấp phần vốn góp, thế chấp bất động sản khu công nghiệp còn nhiều bấp cập; chưa xác định đ\ực nhà ở chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu Quyền sử dụng đất đối với chủ thể sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận được coi là loại tài sản nào

- Về thời điểm có hiệu lực của giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất, các quy định về hiệu lực của cầm cố tài sản chưa thống nhất; quyền của bên cầm giữ tài sản còn hạn chế; quy định pháp luật về việc đăng ký biện pháp bảo đảm không thống nhất; thẩm quyền đăng ký biện pháp bảo đảm chồng chéo…

- Các quy định về xử lý tài sản bảo đảm phải cân nhắc mọi yếu tố mà chưa giao quyền tuyệt đối như quyền thu giữ tài sản cho bên nhận bảo đảm.

- Pháp luật của Việt Nam chưa ghi nhận quyền ưu tiên với tính chất là vật quyền bảo đảm mà mới có quy định đề cập đến một số trường hợp chủ thể này có thứ tự được ưu tiên thanh toán trước chủ thể khác trong một số lĩnh vực khác nhau.

2.6. Về một số khía cạnh của một số loại vật quyền khác trong hệ thống pháp luật

- Về quyền thuê đất dài hạn: quy định cách tính thời hạn giao đất, cho thuê đất theo Luật Đất đai 2013 còn bất cập. Trong quá trình thực hiện các quyền của mình, người thuê đất vẫn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Hiện tượng tự thoả thuận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất đang diễn ra phức tạp, khó kiểm soát dẫn tới khiếu kiện hoặc trục lợi tham nhũng từ đất đai.

- Về quyền sử dụng đất: bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất cho đến nay vẫn chưa được ghi nhận rõ ràng, quyền sử dụng đất chưa được khẳng định phải là một loại vật quyền khác mặc dù đã có đủ cấu thành của vật quyền.

III. TIẾP TỤC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VẬT QUYỀN TẠI VIỆT NAM - KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

1. Bối cảnh, yêu cầu xã hội đối với việc tiếp tục vận dụng lý thuyết vật quyền tại Việt Vam

Đối với Việt Nam, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng lý thuyết vật quyền thể hiện thông qua việc xây dựng các chế định quyền đối với tài sản có nhiều thuận lợi, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, các nội dung của lý thuyết vật quyền đã được coi là kinh điển và được thừa nhận chung.

- Thứ hai, sau gần ba thập kỷ chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã hình thành những điều kiện cần thiết để tiến tới một nền kinh tế thị trường đầy đủ hơn.

Thứ ba, hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện với nhiều luật điều chỉnh chuyên ngành, góp phần giảm thiểu gánh nặng cho Bộ luật Dân sự trong giải quyết những quan hệ dân sự cụ thể.

Thứ tư, việc áp dụng vật quyền trong BLDS năm 2015 góp phần giúp hệ thống pháp luật dân sự của Việt Nam hội nhập hơn với pháp luật dân sự quốc tế, đồng thời cũng vẫn bảo đảm được định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường. Vì vậy, việc nghiên cứu, áp dụng lý thuyết vật quyền không phải là vấn đề mới ở Việt Nam và việc tiếp tục nghiên cứu, áp dụng lý thuyết vật quyền ở Việt Nam hiện nay là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2. Chủ trương, định hướng của đảng và nhà nước đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản được quan tâm ghi nhận trong nhiều văn kiện của Đảng, cụ thể:

- Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục ghi nhận vấn đề thể chế hóa quyền tài sản.

- Mục III.2 Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

- Mục III.2 Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đảng khóa XII về hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Mục I Chương trình trọng tâm công tác cải cách tư pháp nhiệm kỳ 2016-2020 của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp tư pháp trung ương số 03-CTr/BCĐCCTPTW ngày 06/10/2016.

- Kết luận số 103-KL/TW, ngày 29-9-2014, của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những quan điểm nói trên thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng đối với vấn đề thể chế hóa quyền tài sản, khẳng định việc huy động và khai thác giá trị tài sản sẽ là nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; đặt ra yêu cầu tiếp tục thể chế hóa quyền tài sản, bao gồm quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Việc quán triệt và thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng là nhiệm vụ hết sức quan trọng nhằm cụ thể hóa những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh; tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền dân sự của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.

3. Kiến nghị

3.1. Kiến nghị chung

- Tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để phù hợp với cách tiếp cận mới của BLDS năm 2015 về vật quyền hạn chế cũng như ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định về vật quyền hạn chế trong BLDS năm 2015 chưa rõ ràng hoặc có thể hiểu khác nhau. Về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu, xác định định hướng hoàn thiện BLDS để tiếp tục tiếp thu những giá trị cốt lõi của lý thuyết vật quyền.

- Cần sớm ban hành ban hành Luật Đăng ký tài sản. Trong đó, để công khai vật quyền là bất động sản mọi hệ thống pháp luật đều buộc vật quyền đó phải được đăng ký.

- Toà án nhân dân tối cao cần đảm bảo vai trò của một cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ công lý trong trường hợp không có quy định của pháp luật, kịp thời bảo vệ quyền con người, quyền công dân

3.2. Các kiến nghị cụ thể:

Nhóm nghiên cứu đề tài đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

3.2.1. Quyền sở hữu

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về hình thức sở hữu toàn dân

- Xác định rõ nội hàm cũng như làm rõ cơ chế đại diện, cơ chế thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân, phân bổ lợi ích và giám sát việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân;

- Phân biệt và xác định một cách hợp lý, đúng bản chất về quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân và tài sản thuộc sở hữu riêng của doanh nghiệp trong các doanh nghiệp Nhà nước;

Xác định rõ nội hàm cũng như làm rõ cơ chế đại diện, cơ chế thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân, phân bổ lợi ích và giám sát việc sử dụng tài sản thuộc sở hữutoàn dân;

- Phân biệt và xác định một cách hợp lý, đúng bản chất về quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân và tài sản thuộc sở hữu riêng của doanh nghiệp trong các doanh nghiệp Nhà nước;

- Có định hướng thống nhất về phát triển doanh nghiệp nhà nước

- Nghiên cứu xây dựng Luật về cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt

Thứ hai, xem xét bỏ nội dung về “quyền chiếm hữu” trong các quy định về quyền sở hữu của BLDS năm 2015

Thứ ba, nên tách quyền sử dụng thành hai quyền năng riêng biệt thuộc nội dung của quyền sở hữu, cụ thể tách riêng nội dung “khai thác công dụng” của tài sản thành quyền sử dụng tài sản, nội dung “hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” thành quyền hưởng lợi từ tài sản

Thứ tư, thay vì liệt kê các quyền năng của quyền sở hữu như hiện nay, Bộ luật nên đưa ra những hành vi mà chủ sở hữu không được thực hiện đối với tài sản của mình.

Thứ năm, Điều 187 và 188 tại phần quyền chiếm hữu nằm trong mục nội dung quyền sở hữu là không cần thiết, cần loại bỏ hai điều luật này để đảm bảo tính phù hợp và thống nhất của luật.

2.2.2. Các quyền khác đối với tài sản

Cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng:

- Quy định cụ thể hóa các quyền khác đối với tài sản (vật quyền khác) đối với các loại tài sản thuộc sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung khi đưa tài sản vào khai thác và phát huy giá trị trong nền kinh tế thị trường;

- Quy định cụ thể  phạm vi quyền của người không phải chủ sở;

- Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung về một số loại vật quyền khác đối với tài sản để thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường, tối đa hóa giá trị tài sản, đảm bảo quyền, lợi ích của chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản. Cụ thể như sau:

a) Quyền hưởng dụng: (i) Cần mở rộng hơn quyền năng, nghĩa vụ của người hưởng dụng; (ii) Quy định rõ về đối tượng của quyền hưởng dụng; (iii) Bổ sung quy định của pháp luật đất đai về thủ tục đăng ký đối với quyền hưởng dụng. hồ sơ đăng ký đối với các quyền hưởng dụng; (iii) Pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán cần được bổ sung các quy định về quyền hưởng dụng đối với cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán...

b) Quyền địa dịch: cần tìm một thuật ngữ mang tính chính xác hơn khi quy định về địa dịch thay cho “quyền đối với bất động sản liền kề”; rà soát lại Luật Đất đai năm 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành để có quy định hướng dẫn cụ thể hơn về quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.

c) Quyền bề mặt:

Thứ nhất, BLDS cần bổ sung quy định về căn cứ làm chấm dứt vật quyền để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như ý nghĩa của quyền bề mặt là vật quyền tuyệt đối và quyền mang tính pháp định.

Thứ hai, pháp luật xây dựng cần hoàn thiện theo hướng: cụ thể hóa quyền bề mặt khi triển khai các công trình xây dựng dưới lòng đất hoặc trên không.

Thứ ba, văn bản pháp luật đất đai: (i) Cần bổ sung vào pháp luật đất đai các căn cứ phát sinh quyền bề mặt, để từ đó xác định mối quan hệ giữa ba bên: Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đất đai, người có quyền sử dụng đất được nhà nước giao đất, và người có quyền bề mặt. (ii) Quy định rõ “một phần hoặc toàn bộ” quyền bề mặt là gì? (iii) Cụ thể hóa các quy định pháp luật để làm rõ hơn việc xác lập quyền bề mặt và quyền sở hữu tài sản hình thành trên đất thuê của nhà nước, đảm bảo ghi nhận quyền, lợi ích của chủ thể có quyền bề mặt. (iv) Bổ sung quy định bảo đảm việc chủ thể có quyền sử dụng đất và chủ thể quyền bề mặt có thể khai thác được tối đa giá trị của quyền sử dụng đất cũng như tạo thuận lợi cho việc khai thác quyền bề mặt. (v) Bổ sung các quy định làm rõ trách nhiệm của các chủ thể có quyền bề mặt trong việc bảo vệ quyền sử dụng đất

d) Vật quyền bảo đảm

Cần nghiên cứu xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Về lâu dài cần nghiên cứu tính khả thi xây dựng Luật giao dịch bảo đảm, theo đó: (i) Cần tiếp cận sâu hơn nguyên lý vật quyền của các các biện pháp bảo đảm; (ii) Cho phép bên nhận bảo đảm chủ động thực hiện các quyền của mình trong việc xử lý tài sản bảo đảm; (iii) Cần có quy định rõ về thứ tự ưu tiên và quyền xử lý tài sản bảo đảm trong biện pháp cầm giữ và bảo lưu quyền sở hữu; (iv) Tiếp tục nghiên cứu chế định quyền ưu tiên với tính chất là một loại vật quyền bảo đảm. Cần làm rõ chủ thể có quyền ưu tiên sẽ được thành toán trước hay các chủ thể khác trong các mối quan hệ pháp luật nói trên sẽ được thanh toán trước.

e) Một số quyền liên quan khác

Chế định pháp lý liên quan đến quyền ưu tiên, quyền sử dụng (đất), quyền khai thác kinh tế và quyền quản lý nghiệp vụ (đối với tài sản mà nhà nước giao cho doanh nghiệp), quyền khai thác mỏ, quyền đánh cá, quyền khai thác rừng… cần được nhìn nhận, đánh giá ở góc độ lý thuyết vật quyền để việc quản lý và khai thác các tài sản này một cách hiệu quả.

Bên cạnh đó, cần có sự thống nhất về nhận thức trong việc coi quyền sử dụng đất là một loại vật quyền, có tính đặc thù, phân định rõ ràng hơn quyền, trách nhiệm của các chủ thể có quyền, khai thác giá trị đất đai và mối quan hệ với các vật quyền hạn chế.

Nội dung toàn văn
File đính kèm ...