• Thuộc tính
Tên đề tài Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Nội dung tóm tắt

Trong những năm qua, việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật (TDTHPL) ở Việt Nam đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế như: thể chế về tổ chức TDTHPL chưa đủ mạnh và hiệu quả để thúc đẩy công tác tổ chức TDTHPL thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người trong một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; việc thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức TDTHPL ở hầu hết các Bộ, ngành và địa phương còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật còn chung chung, chưa tạo được sự lan tỏa trong xã hội, chưa có những kết quả mang tính đột phá; phản ứng chính sách thông qua hoạt động TDTHPL vẫn còn chậm; việc xử lý kết quả TDTHPL chưa kịp thời, thiếu triệt để, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong cơ chế tổ chức TDTHPL, một đòi hỏi cấp bách là cần có công trình nghiên cứu, đánh giá toàn diện, khách quan và khoa học về cơ chế tổ chức TDTHPL, qua đó, xác định nguyên nhân và tìm ra các giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL nhằm bảo đảm và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam và hội nhập quốc tế. Đây là lý do để Bộ Tư pháp triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam”.

Với mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về cơ chế tổ chức TDTHPL ở nước ta hiện nay, đánh giá chính xác, khách quan thực trạng cơ chế tổ chức TDTHPL để từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ chế TDTHPL ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của Đề tài đã góp phần:

  • Đóng góp cơ sở lý luận, thực tiễn cho hoạt động quản lý nhà nước về TDTHPL của Bộ Tư pháp, cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện pháp luật về TDTHPL;
  • Góp phần tạo lập cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu về TDTHPL;
  • Tạo tiền đề để các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thực tiễn có cách tiếp cận có hệ thống về cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam;
  • Bổ sung kiến thức mới cho chương trình giáo dục, đào tạo tại các Trường Đại học có chuyên ngành luật.

Có thể nói, kết quả nghiên cứu Đề tài đã góp phần hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL nhằm đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu quả thi hành, hoàn thiện hệ thống pháp luật và bảo đảm trật tự kỷ cương luật pháp, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội.

Dưới đây là những tóm tắt kết quả nghiên cứu chính của Đề tài:

I.  CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỔ CHỨC TDTHPL Ở VIỆT NAM

Ở phần này, Đề tài tập trung làm rõ về mặt lý luận đối với việc hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL như: (i) nhận thức về thi hành pháp luật, TDTHPL và tổ chức TDTHPL; (ii) khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế tổ chức TDTHPL; (iii) các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL; (iv) tiêu chí hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL. Đồng thời, Đề tài đi sâu phân tích, làm rõ cơ chế tổ chức TDTHPL ở một số nước trên thế giới (CHLB Nga, Cộng hòa Đan Mạch, CHND Trung Hoa và một số nước ASEAN...) và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam, cụ thể:

  1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỔ CHỨC TDTHPL
    1. Nhận thức về thi hành pháp luật, TDTHPL
      1. Thi hành pháp luật

Thi hành pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân để hiện thực hóa các nội dung quy định của pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống.

  1. Theo dõi thi hành pháp luật (TDTHPL)

TDTHPL là hoạt động xem xét, đánh giá của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền đối với quá trình tổ chức thi hành, đưa pháp luật vào thực hiện trong đời sống xã hội và thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân. Qua đó, phát hiện những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn tổ chức thi hành pháp luật và kiến nghị các giải pháp khắc phục, tháo gỡ để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo trật tự kỷ cương luật pháp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội.

  1. Khái niệm cơ chế tổ chức TDTHPL
    1. Khái niệm tổ chức TDTHPL

Tổ chức TDTHPL là tất cả những việc làm cần thiết để việc TDTHPL được diễn ra một cách có hiệu quả nhất. Như vậy, tổ chức TDTHPL là việc triển khai thực hiện trên thực tế các hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền đối với quá trình tổ chức thi hành, đưa pháp luật vào thực hiện trong đời sống xã hội và thực hiện pháp luật của các các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Trên thực tế, cơ quan được pháp luật trao nhiệm vụ tổ chức TDTHPL thường tiến hành các hoạt động chủ yếu sau:

  • Xây dựng thể chế: xây dựng các quy định pháp luật làm cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc cho hoạt động tổ chức TDTHPL ;
  • Xây dựng bộ máy: xây dựng các thiết chế để thực hiện chức năng tổ chức TDTHPL ;
  • Chuẩn bị nguồn lực: (1) nguồn nhân lực làm công tác tổ chức theo TDTHPL; (2) các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện, kinh phí;
  • Chỉ đạo, đôn đốc thực hiện: chỉ đạo, đôn đốc trực tiếp những người làm công tác tổ chức TDTHPL ;
  • Hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ tổ chức TDTHPL ;
  • Tiến hành các hoạt động TDTHPL trên thực tế;
  • Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức TDTHPL ;
  • Xây dựng và nhân rộng điển hình mẫu: tập trung xây dựng ở một cơ quan nào đó, địa phương nào đó một điển hình về tổ chức TDTHPL để các cơ quan khác, địa phương khác học tâp;
  • Tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệ m kịp thời;
  • Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức TDTHPL ;
  • Xử lý vi phạm pháp luật: xử lý cán bộ, công chức làm công tác tổ chức TDTHPL có hành vi vi phạm pháp luật (ví dụ không thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật công vụ, có những vi phạm về chuyên môn, nghiệp vụ...).
    1. Khái niệm, đặc điểm của cơ chế tổ chức TDTHPL

Cơ chế tổ chức TDTHPL là một chỉnh thể gồm tất cả các thể chế pháp lý, các thiết chế và các điều kiện bảo đảm có liên quan đến việc tổ chức TDTHPL , gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng vận hành và bảo đảm cho hoạt động tổ chức TDTHPL được thực hiện đúng mục đích và hiệu quả, là công cụ hữu hiệu để các cơ quan, tổ chức và cá nhân xem xét, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền, kiến nghị thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo trật tự kỷ cương luật pháp và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước và xã hội.

Cơ chế tổ chức TDTHPL có những đặc điểm cơ bản sau:

  • Cơ chế tổ chức TDTHPL là một chỉnh thể gồm các thể chế pháp lý, thiết chế và các điều kiện bảo đảm cho tổ chức TDTHPL;
  • Cơ chế tổ chức TDTHPL là do các cơ quan, tổ chức và cá nhân tiến hành trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật;
  • Cơ chế tổ chức TDTHPL luôn đổi mới, linh hoạt đáp ứng yêu cầu của đời sống chính trị, kinh tế xã hội.

1.3. Các yếu tố cấu thành và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL

  1. Các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL

Từ khái niệm đã phân tích ở trên, cơ chế tổ chức TDTHPL được cấu thành bởi các yếu tố sau:

  1. Thể chế TDTHPL

Thể chế là yếu tố đầu tiên cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức TDTHPL như: xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể; nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình tổ chức TDTHPL .

  1. Thiết chế tổ chức TDTHPL

Thiết chế tổ chức TDTHPL là hệ thống các tổ chức được hình thành và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức TDTHPL . Hệ thống thiết chế tham gia vào quá trình tổ chức TDTHPL hoặc có liên quan đến việc tổ chức TDTHPL bao gồm chủ thể tổ chức TDTHPL, chủ thể thực hiện việc TDTHPL (nhiều trường hợp hai chủ thể này là một), chủ thể thi hành pháp luật (chủ thể bị theo dõi), chủ thể có trách nhiệm phối hợp, giúp đỡ, cung cấp thông tin, báo cáo, giải trình... trong quá trình tổ chức TDTHPL .

  1. Các điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức TDTHPL

Điều kiện bảo đảm cho công tác tổ chức TDTHPL là tất cả những yếu tố mà nhờ đó, hoạt động TDTHPL có thể chắc chắn thực hiện được và đạt kết quả tích cực trên thực tế. Đó là những bảo đả m về chính trị, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của đảng cầm quyền trong tổ chức TDTHPL; môi trường dân chủ pháp quyền để huy động sự tham gia đông đảo của Nhân dân vào việc TDTHPL ; bảo đảm về tổ chức bộ máy, biên chế và kinh phí dành cho công tác tổ chức TDTHPL và bảo đảm sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện công tác này.

  1. Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL

Hoạt động tổ chức TDTHPL là một hoạt động mang tính pháp lý, nó được tiến hành trên cơ sở và trong khuôn khổ các quy định của pháp luật. Quá trình tổ chức TDTHPL cũng là quá trình các chủ thể có thẩm quyền huy động và sử dụng các điều kiện, phương tiện cần thiết để phục vụ TDTHPL . Chính vì vậy, quá trình tổ chức TDTHPL có thể diễn ra không thuận lợi nếu gặp phải trở ngại từ phía các chủ thể khác. Nếu không có sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng cầm quyền cũng như môi trường dân chủ pháp quyền để thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động TDTHPL; nếu không có đường lối chính sách rõ ràng, hệ thống thể chế, thiết chế tổ chức TDTHPL hoàn thiện; cơ chế phối hợp đầy đủ giữa các ngành, các cấp thì chắc chắn việc tổ chức TDTHPL sẽ khó có thể thu được kết quả tích cực.

1.4. Vai trò của cơ chế tổ chức TDTHPL

  • Là công cụ, phương tiện giúp nâng cao hiệu quả thi hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN;
  • Là cơ chế hiệu quả để góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội;
  • Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

1.5. Tiêu chí hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL

Thứ nhất, về nhóm tiêu chí về hoàn thiện nội dung của cơ chế tổ chức TDTHPL:

  • Tiêu chí về tính toàn diện của tất cả các yếu tố cấu thành cơ chế tổ chức TDTHPL ;
  • Tiêu chí về tính đồng bộ về nội dung của cơ chế tổ chức TDTHPL ;
  • Tiêu chí về tính phù hợp về nội dung của cơ chế tổ chức TDTHPL;
  • Tiêu chí về tính thống nhất về nội dung của cơ chế tổ chức TDTHPL;
  • Tiêu chí về tính khả thi về nội dung của cơ chế tổ chức TDTHPL ;
  • Tiêu chí về tính ổn định và ít thay đổi của thể chế, thiết chế tổ chức TDTHPL .

Thứ hai, về nhóm tiêu chí hoàn thiện về hình thức của cơ chế tổ chức TDTHPL

  • Tiêu chí công khai, minh bạch, kịp thời và dân chủ.
  • Tiêu chí về kỹ thuật xây dựng, hoàn thiện thể chế, thiết chế của cơ chế tổ chức TDTHPL.

2. Cơ chế tổ chức TDTHPL ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm tổ chức theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật ở CHLB Nga, CHND Trung Hoa và Cộng hòa Đan Mạch và một số nước ASEAN, nhóm nghiên cứu rút ra một số kinh nghiệm vận dụng trong thực tiễn tổ chức TDTHPL ở Việt Nam như sau:

  • Bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong việc tổ chức thi hành và TDTHPL;
  • Hoàn thiện cơ chế tự theo dõi, kiểm soát giữa các chủ thể thi hành pháp luật;
  • Phát huy vai trò của các thiết chế ngoài nhà nước trong hoạt động TDTHPL ;
  • Kiểm soát, TDTHPL thông qua hoạt động của cơ quan nhân quyền quốc gia;
  • Nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thi hành hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật;
  • Đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức theo dõi, đánh giá việc thi hành pháp luật.

2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỔ CHỨC TDTHPL Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ở nội dung này, Đề tài tập trung đánh giá về (i) thực trạng thể chế TDTHPL ở Việt Nam hiện nay (ii) thực trạng thiết chế TDTHPL; và (iii) các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tổ chức TDTHPL.

  1. Thực trạng thể chế tổ chức TDTHPL
    1. Khái quát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật về TDTHPL ở Việt Nam hiện nay bao gồm tổng thể các quy phạ m pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình TDTHPL giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật có cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau như: Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính phủ 2015, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ quy định về theo dõi tình hình thi hành pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác ở tầm Nghị định do Chính phủ ban hành và một số văn bản quy định chi tiết thi hành.

  1. Những tồn tại, hạn chế trong các quy định của pháp luật về tổ chức TDTHPL
  1. Về địa vị pháp lý của các chủ thể tổ chức TDTHPL

Nghị định 59/2012/NĐ-CP chỉ mới quy định chung về trách nhiệm TDTHPL của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp và quy định mang tính nguyên tắc về quyền của các tổ chức cá nhân trong hoạt động TDTHPL . Bên cạnh đó, việc quy định trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về TDTHPL của Cơ quan thuộc Chính phủ cũng không phù hợp với chức năng, nhiệ m vụ của các cơ quan này.

  1. Về phạm vi tổ chức TDTHPL

Quy định về phạm vi nội dung TDTHPL hiện nay quá rộng, không rõ ràng nên dẫn đến khó khăn, lúng túng cho các chủ thể thực hiện việc tổ chức TDTHPL cũng như thực hiện việc xem xét, đánh giá, nhất là việc đánh giá về tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật và tình hình tuân thủ pháp luật.

  1. Về quy trình tổ chức TDTHPL

Pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế do chưa rõ ràng về biện pháp cách thức thực hiện. Các quy định liên quan đến hoạt động theo dõi như thu thập, xử lý thông tin, kiểm tra, điều tra, khảo sát, xử lý kết quả TDTHPL vẫn chung chung, không rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể cũng như các bước phải thực hiện nên dẫn đến tình trạng mỗi nơi làm một kiểu khác nhau. Ngoài ra, cơ chế để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào hoạt động TDTHPL cũng chưa được quy định.

  1. Về trách nhiệm pháp lý trong hoạt động tổ chức TDTHPL

Nghị định số 59/2012/NĐ-CP và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành không có quy phạm xác định trách nhiệm pháp lý trong việc cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền không thực hiện hoặc chậm thực hiện kiến nghị, đề nghị của chủ thể tổ chức TDTHPL. Ngoài ra, việc thiếu vắng các quy định về thẩm quyền xử lý của chủ thể tổ chức theo dõi trong trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật thông qua hoạt động theo dõi cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả của công tác này.

  1. Về phối hợp tổ chức TDTHPL

Mặc dù cơ chế phối hợp đã được quy định nhưng còn chung chung mang tính nguyên tắc mà chưa có quy định về cách thức tổ chức công tác phối hợp cũng như các điều kiện bảo đảm cho công tác phối hợp cũng như là các quy định về phương pháp, hình thức tiếp nhậ xử lý thông tin, phản ánh, kiến nghị của cơ quan, tổ chức về tình hình thi hành pháp luật.

  1. Về kinh phí bố trí cho hoạt động tổ chức TDTHPL

Hiện nay, Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định kinh phí thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chỉ xác định về mặt nguyên tắc mà không có quy định cụ thể về nội dung chi, định mức chi đặc thù và cũng không giao cho cơ quan có liên quan ban hành văn bản hướng dẫn. Trong khi đó, Thông tư về kinh phí của Bộ Tài chính thì mới chỉ quy định cụ thể về định mức chi cho công tác xây dựng báo cáo TDTHPL [1] nên khó khăn trong việc bố trí kinh phí triển khai hoạt động TDTHPL.

  1. Thực trạng các thiết chế tổ chức TDTHPL
    1. Đảng cộng sản Việt Nam

Thiết chế Đảng lãnh đạo, chỉ đạo công tác theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật vẫn chưa được pháp luật cũng như Điều lệ Đảng quy định cụ thể. Thực tế hiện nay cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về công tác TDTHPL mới chỉ đề cập trách nhiệm của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

.2. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Thực tiễn tổ chức thi hành và TDTHPL ở Việt Nam hiện nay, vấn đề nhân dân theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật của Quốc hội chưa được đề cập cụ thể tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến TDTHPL .

  1. Chính phủ, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp

Đây là chủ thể chủ yếu, quan trọng nhất trong tổ chức thi hành pháp luật trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013. Quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP còn tồn tại vướng mắc về việc kiện toàn tổ chức pháp chế do đó ảnh hưởng đến công tác tổ chức TDTHPL của các Bộ, ngành và địa phương. Theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP thì các Sở, ngành thành lập Phòng Pháp chế trực thuộc, đây là đơn vị trực tiếp thực hiện nhiệm vụ TDTHPL tại cấp Sở. Thời gian qua, tổ chức này không ổn định, do chưa thống nhất trong việc áp dụng Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nên hiện nay Bộ Nội vụ và các Bộ ngành có liên quan đã ban hành nhiều Thông tư liên tịch trong đó không quy định Phòng Pháp chế theo Nghị định số 55/2011/NĐ-CP. Hiện nay, một số Bộ, ngành ở Trung ương ban hành các thông tư, thông tư liên tịch quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh lại không quy định Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức (không phù hợp với Nghị định số 55/2011/NĐ-CP).

  1. Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Hiện nay vẫn chưa có cơ chế pháp lý về tổ chức TDTHPL đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Trên thực tế, các cơ quan này tham gia vào hoạt động TDTHPL chủ yếu với vai trò phối hợp cung cấp thông tin về tình hình thi hành pháp luật.

  1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Với vai trò giám sát thi hành pháp luật đối với hoạt động của Nhà nước, đến nay vẫn chưa có đạo luật nào cụ thể hóa nhiệm vụ TDTHPL của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên với tư cách là chủ thể tham gia hoạt động TDTHPL , là một hình thức giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động thi hành pháp luật của Nhà nước. Nghị định số 59/2012/NĐ-CP cũng mới chỉ quy định mang tính nguyên tắc về việc phối hợp theo dõi tình hình thi hành pháp luật mà chưa có cơ chế cụ thể, thực chất để huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong hoạt động TDTHPL [2].

  1. Thực trạng các điều kiện bảo đảm cho công tác tổ chức TDTHPL
    1. Thực trạng điều kiện bảo đảm về chính trị

Thực tiễn triển khai thi hành công tác tổ chức TDTHPL những năm qua cho thấy, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa thực sự coi trọng công tác này, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương còn cho rằng hoạt động này là không cần thiết vì trùng lắp, chồng chéo với các hoạt động giám sát, kiểm tra hành chính nên thường làm qua loa, chiếu lệ, đối phó với cơ quan cấp trên.

  1. Thực trạng môi trường dân chủ pháp quyền bảo đảm cho nhân dân tham gia hoạt động TDTHPL

Nghị định số 59/2012/NĐ-CP đã xác định sự tham gia của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và nhân dân là một nguyên tắc theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức TDTHPL ở nước ta trong thời gian qua cho thấy nhận thức về dân chủ pháp quyền chưa cao nên chưa huy động được sự tham gia của các tổ chức, cá nhân, nhất là sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội vào hoạt động TDTHPL.

  1. Thực trạng tổ chức bộ máy, biên chế, kinh phí bảo đảm cho công tác tổ chức TDTHPL

Qua theo dõi cho thấy, việc kiện toàn tổ chức, bộ máy và biên chế làm công tác theo dõi thi hành pháp luật tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế tại các sở, ngành của địa phương đang có xu hướng thu hẹp lại, nhiều sở, ngành không bố trí được biên chế làm công tác pháp chế nên khó khăn cho việc tổ chức thực hiện công tác pháp chế nói chung và theo dõi thi hành pháp luật nói riêng. Tại các Bộ, ngành và địa phương kinh phí đảm bảo cho công tác theo dõi, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật gặp nhiều khó khăn do chưa có mục chi riêng.

  1. Thực trạng công tác phối hợp trong tổ chức TDTHPL

Do thể chế chưa có quy định về cách thức tổ chức công tác phối hợp cho nên quá trình thực hiện công tác TDTHPL còn thiếu sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cơ quan thực hiện chức năng quản lý theo ngành, lĩnh vực với các cơ quan có thẩm quyền chung; giữa các cơ quan trong hệ thống cơ quan hành chính với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng...

  1. Những nguyên nhân hạn chế của cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam
    1. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, một số vấn đề lý luận liên quan đến phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước còn chưa được cụ thể, rõ ràng nên chưa xây dựng được hệ thống thể chế pháp luật điều chỉnh hoạt động của Đảng cầm quyền trong tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật; một số vấn đề lý luận về thi hành pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật chưa được làm rõ.

Thứ hai, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân và công dân là chủ thể, là đối tượng theo dõi thi hành pháp luật còn chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tác dụng của cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật.

Thứ ba, các thiết chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được thiết lập trên cơ sở thể chế, những thể chế không bảo đảm được các điều kiện để các thiết chế đó phát huy được hết chức năng, nhiệm vụ được giao[3].

Thứ tư, các quy định về theo dõi thi hành pháp luật hiện nay vừa thiếu, vừa thừa, vừa chưa đồng bộ, thống nhất và cụ thể như: Quy định về tiêu chí theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật còn chung chung, khó thực hiện; thiếu quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa các ngành các cấp, cơ chế huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động theo dõi thi hành pháp luật.

Thứ năm, các điều kiện bảo đảm về tổ chức, bộ máy, biên chế và kinh phí để cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật vận hành hoạt động chưa được kiện toàn và bố trí tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; thiếu cơ chế phối hợp giữa các bộ phận của thiết chế theo dõi thi hành pháp luật và giữa thiết chế bên trong và thiết chế bên ngoài bộ máy nhà nước để việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật được thực hiện đồng bộ, chặt chẽ và hiệu quả.

  1. Nguyên nhân khách quan

Những nguyên nhân khách quan tác động, ảnh hưởng đến cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật gồm có:

Thứ nhất, theo dõi thi hành pháp luật là nhiệm vụ mới được Hiến pháp 2013 ghi nhận, trong khi đó sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn nhiều điểm chưa được quy định rõ nên việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật thời gian qua chưa nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng.

Thứ hai, hệ thống pháp luật của Việt Nam thiếu đồng bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, còn chồng chéo ; tính công khai, minh bạch, khả thi, ổn định còn hạn chế. Cơ chế, quy chế, tổ chức và các điều kiện để thực thi dân chủ, phát huy quyền của Nhân dân trong việc theo dõi, giám sát thi hành pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ.

Thứ ba, xã hội Việt Nam vẫn tồn tại tâm lý và văn hóa hành chính cũ, mà theo đó, các cơ quan, công chức coi việc xây dựng và thực thi chính sách pháp luật như là đặc quyền riêng của mình và vì thế các công việc của Nhà nước luôn khép kín, còn nhân dân ỷ lại, coi đó là công việc của Nhà nước, ít có quan tâm chung tới hoạt động của Nhà nước và các chính sách, nếu không có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích cá nhân.

III. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỔ CHỨC THEO DÕI THI HÀNH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đề tài nêu, phân tích quan điểm hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam và đề xuất, kiến nghị những giải pháp hoàn thiện cơ chế tổ chức thi TDTHPL trong thời gian tới

  1. Quan điểm hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam
    1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL
    2. Hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL phải đi đôi với việc phát huy dân chủ, xây dựng môi trường xã hội công khai, minh bạch
    3. Hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
  2. Giải pháp hoàn thiện cơ chế tổ chức TDTHPL ở Việt Nam
    1. Giải pháp hoàn thiện thể chế của cơ chế tổ chức TDTHPL
  1. Giải pháp lâu dài

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu xây dựng, ban hành Luật Tổ chức thi hành pháp luật (có nội dung điều chỉnh về tổ chức TDTHPL , coi đó là một trong những nội dung hoạt động của công tác tổ chức thi hành pháp luật) để xác định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các phương thức, nội dung, trình tự, thủ tục TDTHPL; quy định toàn diện địa vị pháp lý của từng chủ thể là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong việc tổ chức thi hành và TDTHPL .

  1. Giải pháp trước mắt

Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2012/NĐ-CP để khắc phục một số vướng mắc, bất cập của pháp luật về TDTHPL như đã phân tích ở trên. Việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2012/NĐ-CP cần được thực hiện trên tinh thần thể chế hóa quy định tại Điều 99 của Hiến pháp 2013 và sự phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay của đất nước.

  1. Giải pháp hoàn thiện thiết chế tổ chức TDTHPL
  • Hoàn thiện thiết chế Đảng lãnh đạo công tác tổ chức TDTHPL

Sắp xếp thu gọn lại đầu mối các cơ quan chuyên môn của Đảng và Nhà nước, thực hiện nhất thể hóa các cơ quan Đảng, Nhà nước có cùng tính chất, chức năng, nhiệm vụ cũng như nhất thể hóa một số chức danh lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở Trung ương và cơ sở, chẳng hạn như nhất thể hóa chức danh Bí thư với Chủ tịch để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với công tác tổ chức TDTHPL; tiếp tục tăng cường quyền lực, thẩm quyền của Ủy ban kiểm tra Đảng các cấp ở Việt Nam

  • Hoàn thiện thiết chế Quốc hội, Hội đồng nhân dân trong tổ chức TDTHPL

Để thực hiện tốt vai trò là cơ quan quyền lực, Quốc hội/Hội đồng nhân dân, Việt Nam có thể nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức và thẩm quyền Ủy ban giám sát nhà nước các cấp của CHND Trung Hoa trong việc theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, để có thể thực hiện việc tự theo dõi, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật trong nội bộ hệ thống các cơ quan trong bộ máy của mình, Quốc hội/HĐND, có thể nghiên cứu thành lập cơ quan Thanh tra của Quốc hội/HĐND hoặc giao cho cơ quan, đơn vị có chức năng pháp chế của Quốc hội/HĐND thực hiện chức năng TDTHPL đối với hệ thống các cơ quan thuộc Quốc hội/HĐND.

  • Hoàn thiện thiết chế Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong tổ chức TDTHPL

Nghiên cứu giao chức năng tổ chức TDTHPL đối với các cơ quan trong hệ thống tòa án, kiểm sát cho đơn vị có chức năng thanh tra, pháp chế của ngành tòa án, kiểm sát thực hiện.

  • Hoàn thiện thiết chế Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong tổ chức TDTHPL

Có nhiều phương án để hoàn thiện các thiết chế về TDTHPL. Tuy nhiên, trong điều kiện trước mắt, nên tiếp tục giữ nguyên mô hình tổ chức của thiết chế TDTHPL hiện có theo hướng tiếp tục kiện toàn bộ phận chuyên trách về TDTHPL trong các cơ quan, tổ chức bộ, ngành và địa phương.

Về lâu dài, cần chú ý tới vai trò của cơ quan Thanh tra, là thiết chế rất quan trọng trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và có điều kiện để thực hiện hiệu quả việc tổ chức TDTHPL .

+ Tại Bộ Tư pháp: Tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức, bộ máy của Cục QLXLVPHC&TDTHPL theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại để thực hiện tốt chức năng đầu mối, tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác tổ chức TDTHPL trên phạm vi cả nước, đồng thời nghiên cứu bổ sung thêm chức năng về thanh tra chuyên ngành và thẩm quyền XPVPHC trong lĩnh vực TDTHPL

+ Tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Thực hiện sáp nhật cơ quan pháp chế và cơ quan thanh tra làm một, gọi là Cơ quan Thanh tra - Pháp chế (Ví dụ: Cơ quan Thanh tra - Pháp chế, Bộ Nội vụ) thực hiện chức năng nhiệm vụ thanh tra, pháp chế trước đây theo quy định của pháp luật.

Tương tự như vậy, ở các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ có thể sáp nhập bộ phận thanh tra và bộ phận pháp chế để bảo đảm tinh gọn bộ máy, có thể gọi là Ban Thanh tra - Pháp chế thuộc Cục, Tổng cục;

+ Tại Ủy ban nhân dân các địa phương:

Thực hiện sáp nhập các đơn vị có chức năng pháp chế và thanh tra trong các sở ngành chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là Phòng Thanh tra- Pháp chế; đối với các đơn vị chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thì bố trí ít nhất một cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác tổ chức TDTHPL .

  • Hoàn thiện thiết chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp trong tổ chức TDTHPL

Đây là những chủ thể theo dõi, giám sát thi hành pháp luật từ bên ngoài đối với hoạt động thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền. Việc hoàn thiện các thiết chế này chủ yếu là tạo cơ chế để Nhân dân, trong vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, thông qua các tổ chức đại diện cho mình thực hiện quyền giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

  1. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế tổ chức TDTHPL

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác TDTHPL.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức TDTHPL.

Thứ ba, bố trí kinh phí cho công tác tổ chức TDTHPL .

Thứ tư, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác tổ chức TDTHPL.

Thứ năm, đổi mới về cơ chế phối hợp trong hoạt động tổ chức TDTHPL .

Thứ sáu, xây dựng Bộ công cụ hỗ trợ hoạt động tổ chức TDTHP.

Thứ bảy, tăng cường huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động TDTHPL.

Thứ tám, xây dựng và duy trì chuyên mục “Kiến nghị, phản ánh về việc thi hành pháp luật” trên Cổng thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương

Thứ chín, tăng cường tuyên truyền phổ biến, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân trong việc tham gia vào theo dõi, giám sát việc thực hiện quyền lực của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.



[1]  Điểm d khoản 1 Điều 4 Thông tư số 338/TT-BTC ngày 28/12/2016 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

[2] Nghị định số 59/2012/NĐ-CP quy định “Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật” (Điều 1s).

[3] Nghị định số 59/2012/NĐ-CP giao Bộ Tư pháp chức năng theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, các bộ, ngành, địa phương theo dõi thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương mình. Tuy nhiên thể chế quy định về thẩm quyền, nội dung, phương thức theo dõi chưa rõ ràng, cụ thể; kinh phí còn hạn hẹp và tổ chức bộ máy thực hiện nhiệm vụ theo dõi còn nhỏ về quy mô, thiếu về số lượng cán bộ, công chức nên chưa tương xứng với với yêu cầu nhiệm vụ.

 

Nội dung toàn văn
File đính kèm ...