• Thuộc tính
Tên đề tài Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Nội dung tóm tắt

Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Điều này được khẳng định rất rõ tại Điều 38 BLDS năm 2015. So với các Bộ luật trước đó, BLDS năm 2015 đã tạo ra một bước đột phá mới khi bổ sung thêm quyền về đời sống riêng tư - một quyền năng quan trọng và cần thiết đối với mỗi một cá nhân.

Tầm quan trọng của BLDS năm 2015 trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi và áp dụng các quy định này còn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc như: Bộ luật chưa xây dựng và xác định như thế nào là quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Điều này khiến cho việc giải thích, áp dụng luật trên thực tế gặp lúng túng, không thống nhất với nhau. Hơn thế nữa, ệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có bất kỳ văn bản nào quy định cụ thể khái niệm về bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, xác định nội dung và phạm vi của quyền bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chưa quy định về thu thập, xử lý thông tin cá nhân, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Đồng thời, pháp luật Việt Nam cũng chưa có một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền này.

Trong thời đại bùng nổ thông tin và công nghệ như hiện nay, các loại hình chia sẻ thông tin như internet, mạng xã hội và ứng dụng toàn cầu có sự phát triển mạnh mẽ. Trong quá trình sử dụng các thiết bị kỹ thuật và ứng dụng khoa học công nghê, các cá nhân vô tình để lộ các thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Việc quản lý, bảo mật thông tin về thời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa chặt chẽ, nên đã tạo ra những cơ hội cho một số kẻ xấu lợi dung để trục lợi. Nguy cơ về mất an toàn thông tin, nguy cơ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bị sử dụng vào các mục đích thương mại và những mục đích khác ngày càng lớn. Từ đó, yêu cầu bảo vệ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đòi hỏi Nhà nước phải có những biện pháp cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và yêu cầu quản lý xã hội, trong đó, pháp luật là công cụ tối ưu nhất.

Vấn đề bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học pháp lý. Tuy vậy, cơ chế pháp lý này vẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, nhất là việc làm rõ vấn đề lý luận về cơ chế pháp lý cũng như đánh giá thực trạng cơ chế này ở Việt Nam hiện nay; từ đó, đề xuất các giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền nhân thân về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở Việt Nam. Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là hết sức cấp bách và cần thiết.

Mục tiêu của Đề tài là nghiên cứu các vấn đề lý luận về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tìm hiểu toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở Việt Nam. Nhằm học hỏi các kinh nghiệm lập pháp và tri thức của thế giới đối với quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, đề tài cũng nghiên cứu, tìm hiểu quyền này trong pháp luật quốc tế và trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai.

Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài nghiên cứu các nội dung sau:

I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH

1. Khái quát chung

1.1. Khái quát quyền về đời sổng riêng tư

1.1.1. Khái niệm

Khái niệm “đời sống riêng tư” hiện nay vẫn còn chưa thống nhất, nhưng nếu xét từ các đặc trưng mang tính bản chất thì được hiểu là những hoạt động diễn ra trong đời sống, sinh hoạt của riêng từng cá nhân đảm bảo cho sự tồn tại, sinh sống của mỗi cá nhân đó.

Quyền về đời sống riêng tư có thể được nhận diện thông qua các đặc điểm sau:

Thứ nhất, quyền này phải được luật ghi nhận và bảo hộ thực hiện. Quyền về đời sống riêng tư có thể được ghi nhận thành một chế định độc lập nhưng cũng có thể được ghi nhận từng nhóm quyền nhỏ nằm trong nội hàm của quyền về đời sống riêng tư này.

Thứ hai, các yếu tố nằm trong quyền về đời sống riêng tư thường gắn với chính các hoạt động, giao dịch hàng ngày của mỗi chủ thể.

Thứ ba, quyền về đời sống riêng tư là một quyền khó nhận diện, mang tính tương đối nhưng lại được bảo vệ tuyệt đối, không cho phép bị xâm phạm dù bất kỳ mức độ nào.

Vì vậy, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân được hiểu là một phạm trù pháp lý nhằm đảm bảo cho cá nhân thực hiện được các lựa chọn một cách sống, thể hiện chức năng để đạt một ước vọng, một điều kiện sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống, tư duy, hành động phù hợp với quy định của pháp luật về đời sống riêng tư của cá nhân.

Quyền về đời sống riêng tư là quyền nhân thân tuyệt đối của cá nhân, là quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ các yếu tố thuộc đời sống riêng tư.

1.1.2. Đặc điểm

Thứ nhất, quyền về đời sống riêng tư là quyền gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác và không thể định giá trị vật chất đối với quyền nhân thân này. Quyền về đời sống riêng tư phát sinh đối với mỗi cá nhân kể từ thời điểm cá nhân được sinh ra, gắn bó suốt cuộc đời và chỉ chấm dứt khi cá nhân chết.

Thứ hai, quyền về đời sống riêng tư phản ánh đời sống riêng tư của mỗi cá nhân mang tính chất đa dạng, phức tạp, nhiều yếu tố, nhiều sắc thái khác nhau và mang bản sắc riêng của từng cá nhân, mang đặc điểm riêng của từng tình huống, trong không gian và thời gian nhất định.

Thứ ba, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân được ghi nhận và bảo vệ khi xác định các yếu tố thuộc về đời sống riêng của cá nhân, không yêu cầu việc bảo mật hay áp dụng các biện pháp giữ kín, phong toả các yếu tố này. Đặc điểm này của quyền về đời sống riêng tư chính là sự đặc trưng, phân biệt với quyền về bí mật cá nhân.

Thứ tư, quyền về đời sống riêng tư của cá nhân tuy là quyền nhân thân tuyệt đối của cá nhân, nhưng cũng như quyền về bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các quyền nhân thân khác, đều có những giới hạn nhất định khi thực hiện và bảo vệ quyền trên thực tế.

1.2. Khái quát quyền về bí mật cá nhân

1.2.1. Khái niệm

“Bí mật cá nhân” được quan niệm là “những thông tin, tư liệu mà cá nhân không muốn công khai, bộc bạch, được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật khác nhau”[1]. Như vậy, bí mật cá nhân thường được hiểu là các thông tin được chứa đựng dưới nhiều cách thức khác nhau, cá nhân đó không muốn công khai và áp dụng các cách thức, các biện pháp cần thiết để thực hiện mục đích đó.

Bí mật cá nhân là tổng thể các yếu tố liên quan đến cá nhân, mang tính chất chi phối và gây ảnh hưởng đến các quan hệ cụ thể của cá nhân, khi bộc lộ, các yếu tố này sẽ gây cho cá nhân những bất lợi hoặc dễ gây ra sự hiểu lầm ở các chủ thể khác. Về bản chất, các yếu tố bí mật cá nhân không xung đột với bất kỳ quyền, lợi ích hoặc gây ra bất kỳ một thiệt hại nào cho các chủ thể khác.

Đời sống riêng tư và bí mật cá nhân là hai thành tố hợp thành bí mật đời tư của cá nhân, là quyền nhân thân gắn với cá nhân được pháp luật bảo hộ.

Vậy bí mật của cá nhân được hiểu là những thông tin về một hoặc nhiều sự kiện gắn liền với những quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại của cá nhân trong các lĩnh vực quan hệ xã hội, pháp luật mà cá nhân không muốn bộc lộ. Bí mật cá nhân hàm chứa các yếu tố mang tính phi vật chất và thuộc về quyền con người.

1.1.2. Đặc điểm

Một là, thông tin bí mật của cá nhân là những thông tin từ những sự kiện phát sinh trong các quan hệ xã hội quá khứ và hiện tại của cá nhân. Cá nhân không muốn bộc lộ công khai mà muốn giữ cho riêng mình.

Hai là, thông tin bí mật của cá nhân mang tính phi vật chất, không mang giá trị kinh tế, không biểu hiện bằng tiền, gắn liền với cá nhân suốt đời người và được bảo mật kể cả khi cá nhân chết, nếu cá nhân đó khi còn sống không bày tỏ ý chí cho người khác biết hoặc pháp luật không quy định khác.

Ba là, thông tin bí mật cá nhân không phải là vật chất, không mang giá trị kinh tế và vô hình, dễ bị xâm phạm ngoài ý chí của cá nhân.

1.3. Khái quát quyền về bí mật gia đình

1.3.1. Khái niệm quyền về bí mật gia đình

Gia đình là mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa các thành viên có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng.

Bí mật gia đình là những thông tin về vụ việc, tài liệu liên quan đến các quan hệ giữa các thành viên của gia đình với nhau có mối quan hệ hữu cơ đến truyền thống nhiều đời hay một đời về huyết thống, về bệnh lý, về năng lực trí tuệ của các thành viên có tính hệ thống, nếu bị bộc lộ sẽ gây ra sự bất lợi cho các thành viên gia đình trong các quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật khác thuộc nhiều lĩnh vực. Bí mật gia đình được giữ kín, nếu tất cả các thành viên trong gia đình có ý thức không muốn bộc lộ, thì không chủ thể nào có quyền xâm phạm.

Quyền về bí mật gia đình được hiểu là quyền nhân thân của các thành viên trong gia đình về các yếu tố thuộc về bí mật gia đình.

1.3.2. Đặc điểm

Thứ nhất, quyền về bí mật gia đình là quyền nhân thân của từng cá nhân nhưng được đặt trong mối liên hệ, liên kết, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình.

Thứ hai, việc xác lập quyền về bí mật gia đình được hình thành có thể từ yếu tố riêng tư không phải của chính cá nhân có quyền và có thể áp dụng các biện pháp bảo mật từ những người không phải có các yếu tố riêng tư đó.

2. Khái quát về cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

2.1. Khái niệm

Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một hệ thống các biện pháp pháp luật điều chỉnh các quan hệ về quyền nhân thân liên quan đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các phương thức bảo vệ các quyền này.

Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được vận hành đồng bộ từ hình thức, trình tự, thủ tục và cách thức thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Như vậy, theo nhóm nghiên cứu khái niệm về cơ chế pháp lý được thể hiện như sau: Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được hiểu là tổng hợp các biện pháp, cách thức bao gồm việc cá nhân tự bảo vệ, hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ quan tư pháp thuộc thẩm quyền của mình trong việc áp dụng các quy phạm thuộc hệ thống pháp luật hiện hành để bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

2.2. Đặc điểm

Thứ nhất, các phương thức, biện pháp thuộc cơ chế bảo vệ quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đa dạng, nhiều cách thức.

Thứ hai, đặc trưng của cơ chế bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình làkết hợp áp dụng giữa các biện pháp, phương thức mang tính vật chất và các biện pháp, phương thức không mang tính vật chất.

Thứ ba, cơ chế pháp lý phổ biến nhất để bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là sự phối kết hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc các lĩnh vực hành chính, tư pháp trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau để bảo vệ quyền của người có đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bị xâm phạm.

Thứ tư, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thể hiện trách nhiệm của nhà nước, của các chủ thể khác trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

3. Các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

3.1. Tự bảo vệ

Cơ chế đầu tiên và rất cần thiết đối với bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng cũng như đối với bảo vệ các quyền nhân thân nói chung là sự tự bảo vệ của cá nhân mang quyền. Việc tự bảo vệ chính là việc áp dụng các biện pháp bảo mật, giữ kín cần thiết đối với các yếu tố thuộc đời sống riêng tư. Các yêu cầu này do chính chủ thể có quyền thực hiện và chưa cần sự tác động, tham gia của cơ quan quản lý nhà nước.

3.2. Bảo vệ thông qua các tổ chức xã hội

Thứ nhất, vai trò của tổ chức xã hội không bị ràng buộc về thủ tục, hình thức mà có thể đi vào cốt lõi, bản chất vấn đề cần giải quyết và đem lại hiệu quả thiết thực.

Thứ hai, tổ chức xã hội có thể có mạng lưới kết nối rộng với nhiều chủ thể ở các ngành nghề khác nhau, tại nhiều địa phương khác nhau. Do đó, khi cần triển khai một hoạt động hoặc tìm kiếm những đối tượng có hành vi xâm phạm quyền để xử lý, khả năng đi đến thành công và chỉ cần triển khai trong thời gian ngắn của các tổ chức xã hội là rất hợp lý.

Thứ ba, tổ chức xã hội có khả năng huy động các giá trị của cộng đồng, của xã hội, của số đông và tạo nên được sức mạnh, sự đoàn kết để tập trung thực hiện những công việc cần thiết. Do đó, cơ chế bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của các tổ chức xã hội là rất mạnh và hiệu quả.

3.3. Bảo vệ thông qua hoạt động các cơ quan lập pháp

Hoạt động của các các cơ quan lập pháp tập trung vào hai nhiệm vụ cơ bản: Thứ nhất, các cơ quan này quyết định các vấn đề quan trọng, then chốt của từng địa phương (đối với Hội đồng nhân dân) và của cả nước (đối với Quốc hội). Trên cơ sở quyết định của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp (đứng đầu là Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) sẽ triển khai, thực hiện trong thực tiễn; các cơ quan lập pháp ban hành các đạo luật quan trọng và các văn bản khác làm cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động, quan hệ xã hội quan trọng phát sinh trong đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội.

Các hoạt động cụ thể của cơ quan lập pháp trong việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

  • Quốc hội ban hành Hiến pháp là nền tảng cho mọi ngành luật trong quá trình xây dựng các quy phạm cụ thể
  • Xây dựng hệ thống pháp luật hình sự để xử lý các hành vi tội phạm xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong đó, tại Điều 159 BLHS năm 2015 quy định về tội phạm xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.
  • Xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật hành chính hướng đến bảo vệ các quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

3.4. Bảo vệ quyền thông qua hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

Với chức năng thực thi pháp luật nói chung, các cơ quan hành pháp thực hiện việc bảo vệ quyền của các cá nhân thông qua hoạt động quản lý, thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế đời sống. Hoạt động của hệ thống cơ quan hành pháp thể hiện thứ bậc và phân cấp rõ rệt.

3.5. Bảo vệ thông qua cơ quan tư pháp

Trong hệ thống toà án, việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là việc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của toà án theo quy định của pháp luật để xử lý các hành vi xâm phạm quyền hoặc giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm bảo vệ quyền.

Hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát cũng góp phần thực hiện cơ chế pháp luật bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong tổng hợp các thiết chế.

4. Lược sử quy định pháp luật Việt Nam hiện đại về bảo vệ quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Tại mục này, nhóm nghiên cứu phân tích quy định háp luật Việt Nam về bảo vệ quyền và đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình qua các giai đoạn: giai đoạn từ 1945 đến 1995; giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2005; giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2015. giai đoạn từ năm 2015 đến nay

II. CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO VỆ BẢO VỆ QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

1. Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước về bảo vệ quyền về đời sng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.1. Pháp luật quốc tế

Quyền về sự riêng tư, hay quyền về đời sống riêng tư, gọi tắt là quyền riêng tư được các cơ quan nhân quyền và các học giả trên thế giới xác định là một quyền cơ bản và thiết yếu đối với sự tự chủ, tự tôn của cá nhân, cũng như đối với việc bảo vệ nhân phẩm của con người.

Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR) 1948 quy định về vấn đề bảo vệ sự riêng tư tại Điều 12, theo đó, quyền riêng tư có thể được xem là một thuật ngữ bao trùm tất cả các quyền khác nhau được đề cập trong Điều 12 UDHR, trong đó có danh dự và uy tín cá nhân; gia đình, nơi ở, nơi cư trú, thư tín, điện thoại, thư điện tử và các phương tiện giao tiếp điện tử khác, cũng như sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần.

Theo UDHR, quyền về sự riêng tư rất quan trọng nhưng không phải là quyền tuyệt đối. Quyền về sự riêng tư cần được bảo vệ khỏi sự can thiệp tùy tiện hoặc trái pháp luật của mọi thể nhân và pháp nhân, trong đó bao gồm các cơ quan và nhân viên nhà nước, cũng như những người sử dụng lao động. Quyền về sự riêng tư có sự gắn bó mật thiết với các quyền khác như: quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền tự do hiệp hội và hội họp. Ủy ban Nhân quyền thừa nhận với tất cả mọi người sống trong xã hội, việc bảo vệ sự riêng tư chỉ mang tính tương đối.

Về quyền bảo vệ bí mật thư tín, UDHR yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo tính trong sáng và bảo mật thư tín của công dân, cả trên hai phương diện pháp lý và thực tế. Việc theo dõi, dù bằng phương tiện điện tử hay những cách thức khác như chặn sóng để nghe trộm điện thoại, điện tín... đều bị nghiêm cấm.

Về quyền được bảo vệ dữ liệu cá nhân: Quyền này được quy định cụ thể trong một số tài liệu và văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực như: Hướng dẫn của OECD về việc bảo vệ sự riêng tư và nguồn dữ liệu cá nhân xuyên quốc gia; Công ước số 108 của Hội đồng châu Âu về bảo vệ các cá nhân trong việc xử lý tự động dữ liệu cá nhân; Khuôn khổ chung về sự riêng tư của tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC; Luật bổ sung về bảo vệ dữ liệu của Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi 2010, v.v.

Về quyền về gia đình, gia đình có thể được xem là một loại quan hệ đặc biệt quan trọng giữa con người, xứng đáng được coi là một loại quyền cần được bảo vệ. Các mối quan hệ kiểu như cuộc sống gia đình thông thường sẽ rơi vào phạm vi đời sống riêng tư.

1.2. Pháp luật một sổ quổc gia trên thế giới về bảo vệ quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.2.1. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức

Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức[2] quy định những quyền cơ bản của con người, trong đó có những quyền liên quan tới quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình. Trong đó, khoản 1 Điều 6 quy định: “Hôn nhân và gia đình được sự bảo vệ đặc biệt của nhà nước". Điều 10 quy định về bảo mật thư tín, bưu chính. Điều 13 quy định về Quyền bất khả xâm phạm nhà riêng. Theo Đạo luật Liên bang về Bảo mật thông tin của nước này thì cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm bảo mật thông tin là Ủy ban Liên bang về Bảo vệ dữ liệu và Tự do thông tin.

1.2.2. Pháp luật Cộng hòa Pháp

Hiến pháp Cộng hoà Pháp không có quy định về quyền nhân thân nói chung và quyền được bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nói riêng như Hiến pháp của CHLB Đức hay Hiến pháp Việt Nam. Nhưng Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, Quyển 1 về thực thi quyền dân sự, tại Điều 9 đã có quy định về bảo vệ đời sống riêng tư của cá nhân.

Để thi hành Chỉ thị về Bảo mật thông tin của Liên minh châu Âu, Pháp đã ban hành Đạo luật bảo mật thông tin dữ liệu năm 1978 và hiện tại là Luật bảo mật thông tin năm 2018. Trong luật này có quy định về dữ liệu cá nhân về tên, mã căn cước công dân, địa chỉ cư trú, những thông tin online (mail, tài khoản mạng xã hội...) hoặc những thông tin cụ thể khác liên quan tới tình trạng sức khỏe, tâm lý, sinh lý, sinh học, văn hóa và xã hội của một người. Quy định các hành vi khai thác, xử lý thông tin cá nhân. Những thông tin cá nhân nhạy cảm: là những thông tin cá nhân tiết lộ về chủng tộc, dân tộc, quan điểm chính trị, tôn giáo và tín ngưỡng, thanh viên công đoàn, những thông tin liên quan tới sức khỏe, đời sống tình dục, xu hướng tính dục và những thông tin sinh học, di truyền học khác đều là hành vi xâm phạm quyền của cá nhân. Những hành vi xâm phạm quyền bảo mật thông tin là hành vi vi phạm bảo mật về thông tin cá nhân bao gồm phá hủy, gây thiệt hại, thay đổi, tiết lộ hay truy cập bất hợp pháp và những hành vi xâm phạm khác gây ảnh hưởng tới người chủ sở hữu thông tin. Những phương thức bảo vệ và chế tài tương ứng đối với các hành vi xâm phạm những thông tin liên quan đến cá nhân.

1.2.3. Pháp luật Hàn Quốc.

Đạo luật Bảo vệ thông tin cá nhân (PIPA) quy định: thông tin cá nhân là thông tin liên quan đến bất kì người nào có thể nhận dạng cá nhân đó bằng tên, số đăng kí cư trú, hình ảnh.

Mỗi cá nhân có quyền: quyền được thông báo về việc xử lý thông tin cá nhân; quyền đồng ý hoặc không đồng ý, và chọn phạm vi đồng ý để xử lý thông tin cá nhân; quyền xác nhận việc xử lý thông tin cá nhân và yêu cầu quyền truy cập cho thông tin cá nhân; quyền đình chỉ xử lý và sửa chữa, xóa và hủy thông tin cá nhân; quyền khắc phục thích hợp đối với mọi thiệt hại phát sinh từ quá trình xử lý thông tin cá nhân trong một thủ tục nhanh chóng và công bằng. Các chế tài được áp dụng với bất kỳ ai đã gây ra đình chỉ, tê liệt hoặc khó khăn nghiêm trọng khác về công việc của các tổ chức công cộng bằng cách thay đổi hoặc xóa thông tin cá nhân được xử lý bởi các tổ chức với mục đích làm xáo trộn việc xử lý thông tin cá nhân của các tổ chức, sẽ bị phạt tù với lao động tù không quá 10 năm hoặc phạt tiền không quá 100 triệu won.

1.2.4. Pháp luật Hoa Kỳ

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 không có quy định nào về quyền riêng tư, tuy nhiên các tu chính án của Hiến pháp đã khắc phục hạn chế này. Cụ thể: Tu chính án thứ nhất đã bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân về tự do tôn giáo. Tu chính án thứ hai bảo vệ quyền riêng tư và bất khả xâm phạm về nhà ở của cá nhân chống lại sự tùy tiện của quân đội. Tu chính án thứ tư bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản. Tu chính án thứ năm bảo vệ các quyền con người liên quan đến tư pháp hình sự. Tu chính án thứ chín là quy định mà dựa vào đó nhiều luật sư đã thắng kiện trong việc bảo vệ quyền riêng tư.

Theo quy định của Luật Riêng tư truyền thông điện tử (ECPA, 1986), từ việc chỉ áp dụng đối với các hành vi nghe lén điện thoại, nay mở rộng sang áp dụng bảo vệ chống lại việc theo dõi trực tuyến như: cấm sử dụng thông tin liên lạc thu được bất hợp pháp làm bằng chứng. Việc bảo vệ quyền riêng tư của các tệp được lưu trữ bởi các nhà cung cấp dịch vụ và các hồ sơ bảo vệ được lưu giữ bởi các nhà cung cấp dịch vụ, như tên thuê bao, hồ sơ thanh toán, hoặc các địa chỉ IP. Các Luật Bảo vệ riêng tư trực tuyến của trẻ em (2000); Luật Bảo vệ riêng tư và dữ liệu điện thoại (2006) được ban hành nhằm bảo vệ các quyền riêng tư của cá nhân.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ bảo quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

2.1. Tổng quan chung hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định trong nhiều ngành luật với các góc độ khác nhau.

- Luật Hiến pháp ghi nhận quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình dưới góc độ quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền đối với bí mật. Do đó, với quy định bảo vệ quyền về đời sống riêng tư của cá nhân, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng quyền công dân, quyền con người.

- Luật hành chính điều chỉnh và ghi nhận quyền về đời sống riêng tư, bí mật đời tư dưới góc độ bảo vệ các quyền này, xác định những hành vi xâm phạm nào đến đời sống riêng tư, bí mật đời tư bị xử phạt.

- Luật hình sự bảo vệ quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình dưới góc độ quy định các hành vi xâm phạm nào đến quyền này là tội phạm và quy định chế tài đối với các chủ thể có hành vi xâm phạm.

- Ngành luật dân sự là ngành luật chính, quan trọng trong việc ghi nhận về quyền riêng tư, bí mật đời tư, bí mật gia đình và cơ chế bảo vệ đối với những quyền này. Văn bản pháp lý quan trọng nhất ghi nhận về quyền riêng tư, bí mật đời tư, bí mật gia đình phải kể đến là BLDS năm 2015

2.2. Pháp luật dân sự Việt Nam về bảo vệ quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

"Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là các khái niệm được ghi nhận lần đầu tiên trong BLDS năm 2015. BLDS năm 2015 đã quy định mở rộng và hợp lý hơn đối với quyền “Quyền đối với bí mật đời tư” hoặc “Quyền bí mật đời tư” được quy định tại các BLDS trước đây. Điều 38 BLDS năm 2015 đã mở rộng cách tiếp cận, xác định quyền nhân thân được ghi nhận và bảo vệ không chỉ là bí mật đời tư, mà còn là đời sống riêng tư. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng các thông tin thuộc phạm vi này, đều phải đảm bảo tôn trọng tuyệt đối ý chí của chủ thể có thông tin, trừ trường hợp luật quy định.

Theo quy định của BLDS, các phương thức bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình không có đặc trưng hoặc khác biệt so với việc bảo vệ các quyền nhân thân khác; thậm chí là không có sự khác biệt so với việc bảo vệ các quyền dân sự nói chung (Điều 11 BLDS năm 2015). Điều này thể hiện sự bất hợp lý, đặc biệt trong thực trạng bản thân việc xác định thế nào là hành vi xâm phạm và phạm vi các yếu tố thuộc đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình còn chưa thực sự rõ ràng và còn thiếu các cơ sở pháp lý cần thiết.

2.3. Quy định của một sổ ngành luật công về bảo vệ quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phải được xem xét trong mối quan hệ với quyền, lợi ích chung xã hội, cá nhân khác và quyền được tiếp cận thông tin của một số chủ thể nhất định. Hệ thống pháp luật công về bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được thể hiện trên những phương diện cơ bản sau:

  • Hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân trong một số ngành luật công
  • Xử lý vi phạm đối với các hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân
  • Vai trò của pháp luật công đối với việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân.

III. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TẠI TÒA ÁN VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH

1. Thực tiễn giải quyết t ại Tòa án về bảo vệ quyền về đời s ố ng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

1.1. Tranh chấp về việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân không được sự đồng ý của người đó hoặc của nhân thân trong trường hợp cá nhân chết, mất năng lực hành vi dân sự

Đây là tranh chấp phổ biến nhất hiện nay, diễn ra hàng ngày, nhưng do thiếu hiểu biết pháp luật nên đại đa số những người thực hiện hành vi không biết là mình vi phạm và đôi khi không lường trước được hậu quả. Hiện nay, pháp luật chưa quy định một cách đầy đủ việc xác định thông tin nào khi thu thập, công bố phải được sự đồng ý của người đó. Qua thực tiễn tại tòa án, tranh chấp loại này gồm:

a) Thu thập, công bố thông tin cá nhân, chuyện riêng tư, bí mật cá nhân của người khác, bí mật gia đình khác mà không xin phép

Những quy định về quyền bí mật đời tư của cá nhân còn chung chung là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về thu thập, công bố thông tin cá nhân, chuyện riêng tư, bí mật đời tư còn cao ở nước ta hiện nay. Người vi phạm tuy thực hiện hành vi nhưng cho rằng mình không vi phạm hoặc không biết mình là mình đang vi phạm pháp luật. Tranh chấp loại này thể hiện qua các vụ án sau: Vụ án 1: Vụ án Nghệ sĩ Duy Phương khởi kiện HTV và Công ty Đông tây Promotion; Vụ án 2: Vụ kiện xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân tại Tòa án huyện Tiên Lãn, thành phố Hải Phòng; Vụ án 3: Ông Trần Tiến Đức khởi kiện nhà xuất bản trẻ, báo tuổi trẻ và nhà báo Thủy Cúc về xâm phạm quyền riêng tư.

b) Thu thập, công bố ảnh riêng tư của người khác mà không xin phép.

Hành vi này vi phạm quy định tại khoản 1, 3 Điều 32 BLDS năm 2015, Nghị định 158/2013/NĐ- ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo. Những chủ thể vi phạm thường sử dụng hình ảnh “người của công chúng” như nghệ sĩ, ca sĩ, MC cho mục đích thương mại để kiếm lợi cho mình, nhưng lại không xin phép chủ thể có quyền đối với hình ảnh. Để làm rõ nội dung này, nhóm nghiên cứu đã phân tích vụ án nguyên đơn Huỳnh Thị Thu Trang khởi kiện nhiếp ảnh gia Nguyên Vinh Hiển cùng một số tờ báo có liên quan sử dụng hình ảnh không xin phép.

c) Xâm phạm bất hợp pháp chỗ ở của cá nhân

Thực trạng xâm phạm chỗ ở của cá nhân hiện nay diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu cũng là do hậu quả của quá trình giải quyết tranh chấp dân sự về đất đai. Qua thực tiễn xét xử, vấn đề xác định người xâm phạm đã phạm tội gì còn nhiều ý kiến khác nhau, đặc biệt là giữa tội "xâm phạm chỗ ở của người khác” (Điều 158 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)) và tội "chiếm giữ trái phép tài sản” (Điều 176 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)). Để làm rõ nội dung này, nhóm nghiên cứu đã phân tích vụ án Nguyên Thị Thu và Nguyên Hữu Phú xâm phạm chỗ ở của công dân.

2. Lý do khuyến nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời số ng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình tạ i Việt Nam

Thứ nhất, hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa có tính đồng nhất, còn tản mạn, hiệu quả điều chỉnh chưa cao, các biện pháp chế tài chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh để răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Những hành vi xâm phạm đến các quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời và dứt điểm. Pháp luật quy định việc bảo vệ các quyền này mới chỉ dừng lại ở tính nguyên tắc chung, chưa có hướng dẫn cụ thể, chưa xác định được phương thức bảo vệ quyền cho các chủ thể. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng như trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa được quy định cụ thể. Do vậy, trên thực tế có nhiều hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nhưng người bị xâm phạm không biết phải yêu cầu chủ thể nào, làm cách nào để bảo vệ quyền lợi của mình. Ngoài ra, công tác quản lý mạng xã hội ở Việt Nam còn non kém, còn tồn tại nhiều trang thông tin có nội dung xấu, bịa đặt, xuyên tạc xúc phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác, trong khi đó người có hành vi xâm phạm không bị phát hiện, không xác định được danh tính, cho nên việc áp dụng chế tài đối với họ gặp khó khăn.

Thứ hai, các hành vi xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đang có xu hướng ra tăng và được thực hiện dưới nhiều hình thức, phương tiện khác nhau, đặc biệt là trên các mạng xã hội thông qua việc lan truyền những nội dung xâm phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác, xâm phạm uy tín của các tổ chức.

3. Một số đề xuất, giải pháp cụ thể

3.1. Đề xuất chung

Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình phù hợp với Công ước quổc tế về cá quyền dân sự và chính trị (ICCPS, 1966) của Đại Hội đồng Liên hợp quổc

Nhóm nghiên cứu cho rằng pháp luật quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cần hoàn thiện theo hướng như sau:

Thứ nhất, cần hoàn thiện pháp luật pháp luật về đời sống riêng tư. Luật cần quy định rõ các yếu tố cấu thành có đặc điểm quyền tuyệt đối, là quyền riêng tư của cá nhân gồm các yếu tố: nơi ở, thư tín, hoàn cảnh gia đình, quan hệ riêng tư, nhu cầu sinh lý, các yếu tố này cấu thành đời sống riêng tư không làm ảnh hưởng đến người khác, tạo nên cuộc đời của cá nhân theo khát vọng và mong muốn của cá nhân, được pháp luật bảo hộ đó là quyền về đời sống riêng tư.

Thứ hai, cần hoàn thiện pháp luật quy định về bí mật cá nhân.

Trước tiên, các văn bản pháp luật cần đưa ra một định nghĩa về bí mật cá nhân. Theo đó, bí mật cá nhân là những quan hệ của cá nhân trong quá khứ và hiện tại, cá nhân muốn giữ cho riêng mình mà không muốn bộc lộ. Bí mật cá nhân về quan hệ huyết thống, tình trạng hôn nhân, tình trạng con cái, năng khiếu, niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, sở thích cá nhân hoặc mã số tài khoản tiền gửi, mã số sử dụng máy tính cá nhân, nơi cất giữ kỷ niệm...

Hệ thống pháp luật cũng cần quy định rõ các phương thức để cá nhân bảo vệ bí mật cá nhân khi bị xâm phạm, cụ thể như: : Tự bảo vệ; Yêu cầu đăng lời cải chính; gỡ bỏ thông tin xâm phạm bó mật cá nhân; xin lỗi, tự hoà giải; Yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; hoặc Yêu cầu cơ quan hành chính giải quyết và khởi kiện đến toà án yêu cầu bảo vệ.

Để bảo đảm cơ chế pháp lý có tính đồng bộ trong việc bảo vệ quyền bí mật cá nhân, pháp luật cần quy định bổ sung các quy định trong các đạo luật đã ban hành như Luật Viễn thông, Luật Bưu chính, Luật Công nghệ thông tin, Luật An ninh mạng, Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng. Bổ sung các quy định về trách nhiệm đối với các cơ quan hành chính nhà nước, toà án, thi hành án, cơ sở chữa bệnh, cơ quan lưu trữ và xử lý thông tin các nhân.

Bên cạnh những quy định về quyền bí mật cá nhân, trách nhiệm pháp lý khi có hành vi xâm phạm bí mật cá nhân cũng cần phải quy định rõ ràng và đủ sức răn đe, đồng thời cần phải quy định những trường hợp sử dụng các thông tin bí mật cá nhân trong hoạt động tư pháp, lưu trữ hồ sơ và anh ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội theo mức độ hạn chế nhất định và trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự của cơ quan, tổ chức trong hoạt động nghiệp vụ mà cố ý hoặc vô ý làm lộ bí mật cá nhân.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật quy định về bí mật gia đình

Bí mật gia đình gồm các yếu tố cấu thành như tình trạng hôn nhân, quan hệ huyết thống, bệnh di truyền, các dị tật của sinh sản thường gặp, quan hệ phức tạp giữa các thành viên trong gia đình về hôn nhân, huyết thống, về quy ước chung sống giữa các thành viên trong gia đình, về nguồn gốc tài sản gia đình, về tín ngưỡng, tôn giáo, về tình trạng kinh doanh, về tình trạng kinh tế, về truyền thống học tập, về khiếm khuyết của thành viên trong gia đình. Nếu bí mật gia đình bị làm bộc lộ, sẽ để lại những hậu quả nặng nề và gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tin, danh dự, uy tín của gia đình, gây ra sự bất lợi trong các quan hệ xã hội và pháp luật cho thành viên gia đình.

Từ việc xác định các yếu tố của bí mật gia đình, cần quy định bổ sung về hành vi xâm phạm bí mật gia đình và trách nhiệm pháp lý khi xâm phạm bí mật gia đình. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm bí mật gia đình và trách nhiệm bồi thường tổn thất về tinh thần cho các thành viên gia đình có bí mật gia đình bị xâm phạm trong đời sống thường nhật, trong quan hệ dân sự, thương mại, lao động, trong quan hệ hành chính và quan hệ giao dịch khác. Đồng thời, cần quy định các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi làm lộ bí mật gia đình trong quan hệ xã hội thông thường, trong không gian mạng.

Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đề xuất bổ sung các điều luật liên quan đến bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật gia đình, bí mật cá nhân như sau:

3.2. Hoàn thiện một s quy định pháp luật cụ thể

Một là, cần bổ sung khoản 3, khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 về các trường hợp ngoại lệ được tiếp cận, khai thác thông tin của cá nhân.

Những trường hợp cá nhân không được bảo vệ quyền riêng tư đối với thông tin của mình bao gồm: khi cá nhân cho phép người khác tiếp cận, khai thác thông tin hoặc theo quy định của pháp luật về việc tiếp cận, khai thác thông tin mà không cần phải có sự đồng ý của cá nhân.

Xét về kết cấu, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 đều đưa ra nguyên tắc chung trong việc bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân và ngoại lệ được ghi nhận cuối cùng của mỗi khoản nhưng không thống nhất là không hợp lý. Vì vậy, nhóm nghiên cứu kiến nghị bổ sung khoản 3 và khoản 4 Điều 38 BLDS năm 2015 như sau:

Khoản 3: "Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp có sự đồng ý của đó hoặc trong trường hợp luật quy định”.

Khoản 4: "Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

Hai là, cần quy định thống nhất về vấn đề tiếp cận thông cá nhân giữa khoản 2 Điều 38 BLDS năm 2015 và khoản 2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

Theo đó, cần bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin cá nhân năm 2016 như sau: "Thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý hoặc pháp luật có quy đinh”.

Ba là, các văn bản pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau cần thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ: “đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” như trong Hiến pháp năm 2013 và BLDS năm 2015 sử dụng.

Bốn là, đối với xử phạt vi phạm hành chính cần sửa đổi nội dung sau:

- Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 17/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình cần bổ sung các quy định bảo vệ đời sống riêng tư của cá nhân, gia đình để tương thích với quy định trong BLDS năm 2015.

- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP cần bỏ quy định về động cơ của hành vi xâm phạm, mà chỉ cần một chủ thể có hành vi xâm phạm đời tư của người khác là họ đã bị xử phạt.

- Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính để hạn chế và phòng ngừa các hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trên thực tế.

Năm là, BLHS năm 2015 cần bổ sung các hành vi được xác định là tội phạm do xâm phạm đến quyền riêng tư của cá nhân, gia đình.

Sáu là, hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong đó cần:

- Quy định cụ thể những trường hợp nào cơ quan, tổ chức, cá nhân được thu thập thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, cung cấp thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

- Xác định rõ các trường hợp cơ quan, tổ chức lưu giữ, xử lý thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nhưng thực hiện không đúng nguyên tắc bảo mật mà để lộ thông tin, gây thiệt hại cho cá nhân, thì trách nhiệm đó là trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước hay trách nhiệm hình sự?

- Cần phải được quy định rõ trong luật trình tự thực hiện các biện pháp để cá nhân có thể tự mình thực hiện được quyền tự bảo vệ theo quy định của pháp luật khi quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình bị xâm phạm.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nên thực hiện theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nhưng nên xem xét để nâng mức bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần do hành vi xâm phạm đến quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình cao hơn mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, uy tín theo quy định của BLDS năm 2015, để có tính răn đe mạnh mẽ hơn, có hiệu quả hơn.

- Ngoài ra, nên có quy định xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý mạng trong việc để lọt những thông tin xâm phạm quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, đồng thời quy định cho cơ quan quản lý này có những quyền hạn cụ thể trong việc ngăn chặn, dỡ bỏ và có nghĩa vụ thông báo cho cơ quan điều tra xác định danh tính của người có hành vi xâm phạm để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự.

3.3. Kiến nghị khác

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần tập hợp các bản án về xâm phạm quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình để nghiên cứu, lựa chon ra các án lệ. Trường hợp không đưa ra được các án lệ có thể giao Vụ Pháp chế và quản lý khoa học tập hợp và để ban hành văn bản hướng dẫn trong toàn ngành về các khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết loại án này.

Thứ hai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các đơn vị báo chí, truyền thông cần tăng cường phổ biến các quy định của pháp luật, các bản án đã xét xử (đã được mã hóa thông tin cá nhân theo quy định) về xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình đến người dân để nâng cao nhận thức của người dân, nhằm giảm thiểu vi phạm pháp luật, đặc biệt là trong thời đại công nghệ số như hiện nay.

Thứ ba, Tòa án nhân dân tối cao cần giao Học viện Tòa án tăng cường bồi dưỡng nội dung về các tranh chấp liên quan đến bí mật đời tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình nhằm áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn ngành.

Thứ tư, các xâm phạm hiện nay trong lĩnh vực báo chí, truyền thông rất nhiều. Vì vậy, cần có một cơ quan chuyên tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại về xâm phạm bí mật đời, bí mật cá nhân, bí mật gia đình để góp phần ngăn chặn các hành vi vi phạm trong thời gian sớm nhất



[1] PGS.TS.Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS. Trần Thị Huệ (chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, trang 104.

 

Nội dung toàn văn
File đính kèm ...