Một quốc gia không thể phát triển nếu thiếu các doanh nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là nền tảng phát triển của bất cứ quốc gia nào xét ở các khía cạnh tăng trưởng, xã hội, an ninh, văn hóa. Tuy nhiên, sự phát triển của doanh nghiệp cần được nhìn nhận từ một góc độ khác. Đó là việc đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững theo đó tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường được coi là ba trụ cột. Thực tiễn ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong vài thập kỷ gần đây cho thấy nguy cơ ô nhiễm môi trường phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng trở nên đáng báo động. Thực tiễn tư pháp Việt Nam ít biết đến những vụ án hình sự về tội gây ô nhiễm môi trường. Các vụ kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại môi trường cũng chỉ vô cùng nhỏ bé. Thực trạng này được giải thích bởi các lý do sau:
Thứ nhất, thể chế về bảo vệ môi trường chưa tạo được nền tảng vững chắc cho việc xác định trách nhiệm của doanh nghiệp trong bồi thường thiệt hại môi trường mà hoạt động sản xuất kinh doanh của mình gây ra.
Thứ hai, các cơ quan thực thi pháp luật vẫn chưa có cách tiếp cận phù hợp với các yêu cầu bồi thường thiệt hại mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được hoàn thiện đáng kể ở khía cạnh này.
Thứ ba, doanh nghiệp chưa ý thức đầy đủ trách nhiệm của mình đối với những thiệt hại môi trường. Điều này đã góp phần làm giảm hiệu lực của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Qua phân tích những lý do trên cho thấy sự cần thiết phải giải toả những rào cản pháp lý trong việc xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm trong sản xuất kinh doanh gây ra. Hoàn thiện được các quy định pháp luật về xác định trách nhiệm này của doanh nghiệp và thưc thi chúng trong thực tiễn sẽ góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy bảo vệ môi trường, thực hiện được triết lý phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước ta đang tìm cách triển khai trên thực tế. Trước mắt, việc hoàn thiện và thực thi các quy định pháp lý về xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ góp phần nâng cao ý thức của doanh nghiệp trong kiểm soát các rủi ro môi trường, từ đó hạn chế được tình trạng gây ô nhiễm. Đồng thời, với các rào cản pháp lý được tháo gỡ, những người bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường có cơ hội thuận lợi, có khả năng bảo vệ hiệu quả hơn những quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước những hành vi gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Những vấn đề pháp lý trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm các giải pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ra, góp phần thực hiện chiến lược phát triển của đất nước. Trong đó, đề tài tập trung chủ yếu vào các yếu tố thể chế của Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường[1]. Do quan hệ nhân quả giữa thiệt hại môi trường và hành vi gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là rất rộng và phức tạp, nên đề tài hướng tới lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nguy cơ gây ô nhiễm từ đó.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG
1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường nhìn từ góc độ phát triển bền vững
1.1. Triết lý môi trường của trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Theo báo cáo đánh giá các rủi ro toàn cầu 2019, các thảm họa thiên nhiên và sự khắc nghiệt của thời tiết hiện đang nằm trong tốp 5 những vấn đề rủi ro nhất trên toàn cầu. Hơn 95% dân số thế giới đang hít thở không khí ô nhiễm. Các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là ở châu Phi và châu Á. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, mức độ ô nhiễm đất, không khí, nguồn nước cũng ngày càng nghiêm trọng. Điều này đồng nghĩa với việc môi trường sống của con người đang đứng trước thảm họa. Con người vừa là nạn nhân nhưng cũng chính là nguyên nhân gây ra những thảm họa môi trường. Phát triển kinh tế giúp cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên, nếu không chú ý đến bảo vệ môi trường thì sẽ xuất hiện ngày càng nhiều yếu tố phản phát triển. Do vậy, phát triển bền vững phải trở thành thành tố không thể tách rời của chiến lược phát triển của bất cứ quốc gia nào.
Trước những thách thức của môi trường trong phạm vi quốc gia và toàn cầu, câu hỏi đặt ra là liệu nhân loại có thể phát triển mà môi trường được bảo tồn, gìn giữ cho sự tồn tại của trái đất, cho sự sinh tồn của các thế hệ mại sau. Câu trả lời nằm trong triết lý phát triển bền vững được phân tích trong nội dung đề tài.
Phát triển bền vững được định nghĩa là phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững với tư cách là chiến lược, đồng thời là mục đích của phát triển kinh tế xã hội được quán triệt và thể hiện trong các chính sách phát triển cũng như trong biện pháp tổ chức thực hiện.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của doanh nghiệp trong tăng trưởng kinh tế và nguy cơ doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, ở tầm quốc tế và ở cả tầm quốc gia, việc khắc phục xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững đang trở thành chiến lược, mục tiêu của bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã áp dụng một số biện pháp bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các công cụ kinh tế như thuế, phí bảo vệ môi trường, thực hiện đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường, tổ chức quan trắc giám sát chất lượng môi trường, đẩy mạnh tuyên truyền đi đôi với thanh tra, kiểm tra, xử phạt các doanh nghiệp và các cá nhân gây thiệt hại môi trường.
1.2. Phát triển bền vững và những vấn đề đặt ra đối với bảo vệ môi trường ở cấp vi mô
. Đối với một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như Việt Nam hiện nay, việc hoàn thiện và tăng cường hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và thể chế xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Chủ thể giữ vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường chính là các doanh nghiệp. Hầu như ít có doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không chứa đựng các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Mỗi loại doanh nghiệp khác nhau tác động đến các yếu tố môi trường theo cách khác nhau tùy tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tác động lên toàn bộ các yếu tố môi trường.
Trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các thiệt hại môi trường bao gồm trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự mà trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chủ yếu tập trung vào trách nhiệm dân sự. Theo đó,trách nhiệm của doanh nghiệp bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và vì thế được xác định căn cứ vào những yếu tố được quy định trong pháp luật gồm: hành vi vi phạm; thiệt hại xảy ra; quan hệ nhân quả và lỗi.
Ngày này, sự quan tâm đến trách nhiệm xã hội (Corporate social responsibility - CSR) được giải thích bởi vai trò của nó trong bảo vệ môi trường. Nếu doanh nghiệp thiếu trách nhiệm xã hội, chúng có thể gây ô nhiễm hay suy thoái môi trường và từ đó là những hệ lụy nghiêm trọng, dài lâu cho nền kinh tế, xã hội, môi trường cũng như sự phát triển bền vững của một quốc gia. Ở Việt Nam, vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được đặt ra và ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có những cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội mặc dù những cam kết này là bắt buộc và phổ biến tại các nước phát triển. Thực trạng này thể hiện chủ yếu ở hai khía cạnh: Khía cạnh thứ nhất, những quy định về CSR ở Việt Nam là rất hạn chế về cả số lượng lẫn cơ chế thực thi. Khía cạnh thứ hai, doanh nghiệp không tuân thủ các quy định của pháp luật về CSR, hoặc doanh nghiệp tuân thủ CRS một cách hình thức.
1.3. Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường - Thách thức đối với thể chế
Hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường chịu tác động bởi nhiều yếu tố: quy định của pháp luật, năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về quản lý môi trường, năng lực của cơ quan chức năng trong việc hỗ trợ người dân giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại, ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, hiểu biết pháp luật của cộng đồng dân cư, cơ chế giám sát của cộng đồng dân cư đối với hoạt động của doanh nghiệp. Trong nội dung đề tài các yếu tố thể chế của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhiễm môi trường đã được nhóm nghiên cứu phân tích kỹ.
1.3.1. Vai trò và rào cản của thể chế trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Thể chế và hiệu lực của thể chế có vai trò quan trọng và quyết định đối với phát triển quốc gia. Vai trò của thể chế phụ thuộc lớn vào chất lượng của pháp luật, sự can thiệp của chính phủ và hiệu quả hoạt động của xã hội dân sự. Một thể chế tốt có thể hỗ trợ cho sự phát triển của quốc gia là thể chế có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, luôn ghi nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân; một chính phủ minh bạch, đảm bảo sự quản lý và điều hành xã hội hiệu quả. Điều đó cho thấy, thể chế tác động đến tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Tuy nhiên, việc áp dụng hiệu quả trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra đang đứng trước khá nhiều thách thức về mặt thể chế.
1.3.2. Thách thức đối với yếu tố pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Thực tiễn xả thải của các chủ thể kinh doanh và việc giải quyết các vụ việc tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường cho thấy pháp luật về bồi thường thiệt hại môi trường tồn tại khá nhiều bất cập khiến cho việc thực thi trong thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn, chưa thực sự trở thành biện pháp pháp lý hữu hiệu để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường đã được đặt ra. Những bất cập đó bao gồm:
Thứ nhất, thiếu văn bản hướng dẫn việc thực hiện các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phù hợp Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ hai, thiếu tính thống nhất trong các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Quy định về quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường là một minh chứng rõ nét về sự thiếu thống nhất giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thứ ba, tính khả thi và tính hiệu quả thấp khi áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.
1.3.3. Thách thức đối với thủ tục giải quyết tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường
Các quy định về giải quyết tranh chấp về môi trường nói chung và bồi thường thiệt hại môi trường nói riêng chưa phù hợp với bản chất của các tranh chấp này nên tính khả thi thấp. Điều này thể hiện ở các nội dung sau:
(i) Quy định thẩm quyền hòa giải tại điểm d khoản 3 Điều 143 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thiếu khả thi
(ii) Các quy định về giải quyết tranh chấp môi trường bằng tòa án chưa có tính hệ thống và chưa phù hợp với bản chất của tranh chấp môi trường
(iii) Chưa quy định rõ thẩm quyền của trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường.
1.3.4. Thách thức đối với quản lý và bảo vệ môi trường
Các chủ thể tham gia vào quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gồm nhà nước, chủ thể kinh doanh, cộng đồng dân cư, cá nhân và tổ chức bị xâm hại lợi ích do ô nhiễm môi trường gây ra. Năng lực và trách nhiệm của các chủ thể này khi thực hiện và quản lý sự vận hành xã hội trong lĩnh vực bảo vệ môi trường có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực và hiệu quả của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra.
a) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Trong thời gian qua, hoạt động quản lý bảo vệ môi trường tại Việt Nam đã bộc lộ nhiều hạn chế dẫn đến tình trạng xả thải gây ô nhiễm ngày càng gia tăng, làm suy giảm nghiêm trọng chức năng và tính hữu ích của môi trường. Nguyên nhân của tình trạng này là: Thứ nhất, năng lực hạn chế của cơ quan chức năng trong việc giám sát, kiểm tra, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Thứ hai, năng lực hạn chế và thiếu trách nhiệm của cơ quan chức năng trong quản lý xả thải. Thứ ba, sự thờ ơ trong hoạt động bảo vệ môi trường do cuộc đua tăng trưởng kinh tế
b) Trách nhiệm của cơ quan chức năng trong việc hỗ trợ giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã bộc lộ những điểm hạn chế sau đây:
Thứ nhất, thiếu sự hỗ trợ, hướng dẫn từ phía cơ quan chức năng.
Thứ hai, năng lực hạn chế của các cơ quan quản lý môi trường địa phương và các cơ quan chức năng trong việc xác lập hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá mức độ vi phạm gây ô nhiễm của các doanh nghiệp.
1.3.5. Thách thức từ ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp
Thực tế tại Việt Nam trong thời gian qua cho thấy đa số doanh nghiệp chưa có ý thức bảo vệ môi trường, chưa đầu tư nhiều cho bảo vệ môi trường. Nguyên nhân của tình trạng này là: (i) Doanh nghiệp Việt Nam chưa phải chịu áp lực buộc phải đầu tư cho bảo vệ môi trường. (ii) Các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Cuộc đua lợi nhuận khiến phần lớn doanh nghiệp không đầu tư cho bảo vệ môi trường. (iii) Sự buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng trong việc giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường.
1.3.6. Thách thức từ ý thức của cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội đối với việc bảo vệ môi trường bồi thường thiệt hại môi trường
- Trên thực tế cộng đồng dân cư, thậm chí là doanh nghiệp có thể trở thành chủ thể gây ô nhiễm và đồng thời có thể trở thành người chịu thiệt hại môi trường.
- Hoạt động giám sát của cộng đồng dân cư đối với việc doanh nghiệp gây ô nhiễm tạo ra những căn cứ tiên quyết để buộc doanh nghiệp gây ô nhiễm thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.
- Sự thiếu hiểu biết của người dân đối với pháp luật môi trường cũng là rào cản làm ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của pháp luật.
1.3.6. Rào cản từ các cơ chế, phương pháp quản lý và điều hành xã hội
Quản lý xã hội vẫn chỉ được xoay quanh trục chính là xiết chặt quản lý, chưa hướng tới việc kết hợp hài hòa tam giác Nhà nước, thị trường và cộng đồng.
2. Những vấn đề pháp lý cơ bản của việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhiễm môi trường
2.1. Chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại
Tính phức tạp của trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường thể hiện ở cơ cấu chủ thể tham gia quan hệ này. Cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức đều có thể là người bồi thường và nạn nhận phải được bồi thường trong các thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Tuy nhiên, trong số các chủ thể gây thiệt hại môi trường thì doanh nghiệp vẫn chiếm vị trí đầu tiên. Chính vì vậy, các doanh nghiệp là chủ thể phổ biến trong quan hệ bồi thường thiệt hại môi trường.
2.2. Hành vi vi phạm
Hành vi gây ô nhiễm được coi là một trong những thách thức nghiêm trọng đối với nhân loại và đối với tất cả các thực thể sống khác trên trái đất rất khó xác định trong thực tiễn. Hành vi gây ô nhiễm của con người có thể do vô thức và cũng thể do cố ý. Các hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường được phân loại theo lĩnh vực và theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.
Theo lĩnh vực vi phạm, hành vi vi phạm môi trường bao gồm: hành vi vi phạm gây ô nhiễm nguồn nước, hành vi vi phạm gây ô nhiễm đất, hành vi vi phạm gây ô nhiễm không khí, hành vi gây ô nhiễm môi trường rừng.
Xét theo hậu quả, hành vi hành vi vi phạm gây ô nhiễm môi trường bao gồm: vi phạm hành chính; vi phạm hình sự.
2.3. Thiệt hại môi trường
Xác định thiệt hại và mức độ thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra vẫn là vấn đề nan giải ngay cả khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được ban hành. Trong hàng loạt các vụ gây ô nhiễm môi trường trên cả nước, việc xử lý chỉ mới dừng chủ yếu ở phạt hành chính. Hầu như chưa có án dung trách nhiệm hình sự đối với với các vụ gây thiệt hại, mặc dù hậu quả của việc gây ô nhiễm là nghiêm trọng.
2.4. Nguyên nhân gây thiệt hại và quan hệ nhân quả
Xác định hành vi ô nhiễm gây thiệt hại là bước đầu tiên, là điều kiện tiên quyết của việc xác định bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường gắn với hành vi gây ô nhiễm bằng mối quan hệ nhận quả, tức là hành vi gây ô nhiễm phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Hạt nhân cơ bản của quan hệ nhân quả trong bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường là: hành vi gây ô nhiễm phải diễn ra trước khi xảy ra thiệt hại và thiệt hại chính là hệ quả tất yếu của hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, việc xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm và thiệt hại xảy ra rất khó.
2.4. Lỗi
Trong lĩnh vực môi trường, lỗi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt môi trường. Về mặt lý luận, lỗi được định nghĩa là trạng thái tâm lý của người vi phạm đối với hậu quả mà hành vi vi phạm đó gây ra. Theo tiêu chí này, lỗi trong hệ thống pháp luật của các nước trong đó có Việt Nam được chia thành lỗi cố ý, lỗi vô ý.
Qua nghiên cứu pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, nhóm nghiên cứu nhận thấy cách định nghĩa về lỗi trong hệ thống pháp luật của các nước này về cơ bản cũng giống nhau. Pháp luật quốc tế cũng áp dụng lỗi hỗn hợp để phân chia trách nhiệm giữa bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại trong lĩnh vực hợp đồng.
2.6. Hệ thống pháp lý
Trong thể chế của bất cứ quốc gia nào, hệ thống pháp lý đóng vai trò trung tâm. Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại, một hệ thống pháp lý có thể mang lại hiệu quả nếu trong đó có những yếu tố cho phép hướng tới việc bảo vệ môi trường tối đa.
- Trước hết, pháp luật có những quy định cụ thể cho phép người bị thiệt hại yêu cầu hoặc khởi kiện để buộc người gây ô nhiễm bồi thường thiệt hại. Các quy định như vậy phải cụ thể và đặc biệt là phải có những dự liệu cho việc khó khăn trong việc chứng minh quan hệ nhân quả. Nếu hệ thống pháp lý của bất cứ quốc gia nào bị ràng buộc quá chặt vào yêu cầu chứng minh quan hệ nhân quả trong lĩnh vực này thì khó đảm bảo được quyền của người bị thiệt hại đòi bồi thường thiệt hại.
- Hệ thống toà án phải luôn coi quyền của người dân được sống trong môi trường trong lành, quyền tài sản của họ là đối tượng cần được bảo vệ ở mức độ cao. Nếu toà án không sẵn sàng thì chỉ cần một sự thiếu chắc chắn trong việc người chịu thiệt hại chứng minh quan hệ nhân quả thì toà án sẽ bác yêu cầu mặc dù thiệt hại đã xảy ra. Bên cạnh đó, các thẩm phán cần được đào tạo hoặc cập nhật kiến thức cần thiết về môi trường để dễ dàng và chính xác hơn khi được trao các vụ việc liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.
- Các cơ quan hỗ trợ thực thi pháp luật thuộc hệ thống cơ quan hành pháp cần phải có sự hỗ trợ cần thiết cho người bị thiệt hại trong việc chứng minh thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Các cơ quan này cần coi việc giúp người dân chứng minh thiệt hại là một trách nhiệm, một nghĩa vụ gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường quốc gia.
- Luật sư và hiệp hội luật sư cũng cần có cách tiếp cận khác trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật cho người bị thiệt hại do gây ô nhiễm gây ra. Thực tế chỉ ra rằng đa số những người chịu thiệt hại là người dân nghèo. Họ khó có những nguồn tiền lớn để thuê luật sư như những doanh nghiệp bị thiệt hại. Một cách tiếp cận nhân đạo cần được luật sư hướng tới khi bảo vệ những người bị thiệt hại trong các vụ kiện hoặc các yêu cầu liên quan đến bồi thường thiệt hại.
- Trong hệ thống pháp lý thì toà án có vai trò quan trọng nhất đối với việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Việc toà án thụ lý hay không thụ lý yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại môi trường và nếu thụ lý rồi thì đáp ứng mức độ nào yêu cầu này tùy thuộc rất nhiều vào cách quy định thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Ở mức độ lớn, các thiết chế phi chính thống như trọng tài, hoà giải cùng với các quy tắc tố tụng của chúng cũng ảnh hưởng rất lớn đến quyền của cá nhân, tổ chức yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường nói chung và thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
3. Doanh nghiệp và vấn đề bồi thường thiệt hại môi trường
3.1. Khái niệm doanh nghiệp và vấn đề bồi thường thiệt hại
Pháp luật các quốc gia phát triển rất chú trọng đến việc ràng buộc doanh nghiệp bằng những trách nhiệm khác nhau đối với bảo vệ môi trường trong đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Bất cứ doanh nghiệp nào gây ô nhiễm đều phải bồi thường thiệt hại môi trường do mình gây ra. Ở Việt Nam hiện tại khái niệm doanh nghiệp thiếu thống nhất giữa các lĩnh vực khác nhau. Vì thế không dễ dàng xác định được trách nhiệm của doanh nghiệp trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại môi trường. Việc quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường dĩ nhiên là rất khó bởi các bất cập trong pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật bảo vệ môi trường, pháp luật dân sự, pháp luật hình sự và tố tụng dân sự. Pháp luật hình sự quy định chỉ có các pháp nhân thương mại mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện các tội phạm về môi trường. Theo pháp luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân thương mại, do vậy doanh nghiệp tư nhân không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại môi trường.
Phân tích vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường của doanh nghiệp trong các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, nhóm nghiên cứu nhận thấy nổi lên các bất cập sau đây về mặt lý luận:
Thứ nhất, mâu thuẫn trong việc xác định tư cách chủ thể tham gia quan hệ bồi thường thiệt hại môi trường theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017 có thể là pháp nhân thương mại (nếu hoạt động dưới hình thức công ty), có thể không phải là pháp nhân thương mại (nếu chúng hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hay các tổ hợp tác, hộ kinh doanh). Vấn đề đặt ra là pháp luật về bồi thường thiệt hại môi trường sẽ áp dụng như thế nào đối với các loại hình doanh nghiệp không phải là pháp nhân thương mại, nhất là khi chúng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, chưa quy định rõ khái niệm tổ chức trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Vì vậy, rất khó để xác định chủ thể “tổ chức” được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường và tổ chức phải bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm của mình gây ra đối với tính mạng, tài sản của con người, đối với môi trường tự nhiên.
3.2. Trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động trực tiếp đến môi trường. Nguy cơ ô nhiễm môi trường gắn chặt với hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, doanh nghiệp là chủ thể cần được áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường. Điều này được lý giải bởi những yếu tố sau.
Thứ nhất, ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh gần như là một yếu tố khó tách rời hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích của những vi phạm đó là tiết kiệm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp nhưng lại buộc môi trường trả giá.
Thứ hai, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân thương mại, bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường là yếu tố đảm cho việc bảo vệ môi trường hiệu quả. Trách nhiệm này áp đặt hậu quả bất lợi đối với các pháp nhân thương mại, buộc chúng phải gánh cái giá môi trường đã phải gánh. Bản chất kinh tế của trách nhiệm này là chuyển các chi phí xã hội bỏ ra để khắc phục ô nhiễm môi trường, chi phí những người chịu thiệt hại bỏ ra để khắc phục tổn thất về sức khỏe, tài sản vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Về mặt lý luận, trách nhiệm pháp lý đối với ô nhiễm môi trường là quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và chủ thể vi phạm pháp luật và giữa chủ thể vi phạm và người bị vi phạm trong đó Nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài của quy phạm pháp luật đối với pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường, buộc pháp nhân đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra cho môi trường và cộng đồng dân cư mà hành vi gây ô nhiễm môi trường của các pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau. Đó là trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hành chính.
3.3. Xu thế phát triển của trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thiệt hại môi trường
Sau khi phân tích tổng thể những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thiệt hại môi trường, nhóm nghiên cứu nhận thấy nổi bật một số xu hướng sau.
Thứ nhất, xu thế tăng nặng trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thiệt hại môi trường cả ở hình phạt, chế tài áp dụng lẫn mức độ bồi thường thiệt hại.
Thứ hai, việc tăng hình phạt đối với pháp nhân là xu thế của pháp luật môi trường của các quốc gia và Việt Nam cũng đang theo xu hướng đó.
Thứ ba, mở rộng phạm vi trách nhiệm hành chính của doanh nghiệp đối với hành vi gây ra ô nhiễm môi trường dẫn đến thiệt hại. Ngoài các hình thức xử phạt chính và bổ sung được quy định trong pháp luật Việt Nam trước đây, pháp nhân thương mại vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả.
Thứ tư, áp dụng nhiều tiêu chuẩn và nguyên tắc quốc tế trong việc xác định thiệt hại môi trường và bồi thường thiệt hại môi trường. Ví dụ nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP) được Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định là việc nội luật hóa một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật môi trường quốc tế được quy định trong các công ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về bảo vệ môi trường.
Thứ năm, xu hướng tăng cường sự bảo vệ cho người bị thiệt hại môi trường. Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định người gây thiệt hại môi trường phải bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra dù không có lỗi; nghĩa vụ chứng minh lỗi được giao cho người gây thiệt hại; thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được tăng lên 3 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm...
4. Thiệt hại môi trường và phân loại thiệt hại môi trường trong pháp luật của một số quốc gia
4.1. Thiệt hại môi trường và phân loại môi trường trong pháp luật nước ngoài
Thiệt hại môi trường và việc phân loại thiệt hại môi trường có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm bồi thường ở khía cạnh nhận diện vi phạm và xác định trách nhiệm. Trong giới hạn về phạm vi nghiên cứu, pháp luật của Australia, Hoa Kỳ, Nhật Bản và CHLB Đức, các thiệt hại môi trường và phân loại thiệt hại môi trường được nhận diện và phân tích. Bốn quốc gia được chọn đại diện cho hai truyền thống pháp luật chủ yếu là Common Law và Civil Law, đồng thời đại diện cho 3 châu lục là châu Âu, châu Mỹ và châu Á.
Pháp luật môi trường của bốn quốc gia nêu trên có những định nghĩa tương đồng về thiệt hại môi trường. Các luật về bảo vệ môi trường, dù là luật chung hay luật cụ thể về từng lĩnh vực môi trường đều định nghĩa thiệt hại môi trường dựa trên những tác động của hành vi dẫn đến những thay đổi môi trường bất lợi cho hệ sinh thái, cho cuộc sống của con người.
Pháp luật môi trường ở Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản và CHLB Đức đều phân loại thiệt hại môi trường theo cách tương tự bao gồm hai thành tố chính:
Một là, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tài sản. Các thiệt hại này xuất hiện do những tác động tới môi trường bởi các chất, chấn động, tiếng ồn, áp suất, bức xạ, khí, hơi, nhiệt hoặc các hiện tượng khác đã lan vào đất, không khí hoặc nước.
Hai là, thiệt hại môi trường là 1) Thiệt hại cho các loài hoặc môi trường sống cho các loài theo Luật bảo tồn thiên nhiên; 2) Thiệt hại cho nguồn nước theo Luật tài nguyên nước; và 3) Thiệt hại đối với đất đai theo cách hiểu của Luật bảo vệ đất.
4.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường theo pháp luật CHLB Đức, Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản
4.2.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường trong pháp luật Hoa Kỳ
Luật về trách nhiệm bồi thường và phản ứng toàn diện của Hoa Kỳ (CERCLA) không định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường mà xác định rõ chủ thể nào và trong hoàn cảnh nào phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. CERCLA áp dụng nguyên tắc “chịu trách nhiệm hồi tố” đối với những người gây thiệt hại và dĩ nhiên là bao gồm cả doanh nghiệp. Tuy nhiên, một bên bị phán quyết chịu trách nhiệm đối với toàn bộ thiệt hại có thể yêu cầu đóng góp từ các bên khác có khả năng đã cùng gây thiệt hại.
CERCLA quy định cơ chế “chịu trách nhiệm nghiêm ngặt” trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Theo đó, xu hướng xác định trách nhiệm chuyển từ đánh giá định hướng vào lợi ích sang đánh giá lỗi. Đây cũng là xu hướng chung trong hệ thống Common Law.
Một người chịu trách nhiệm dân sự không thực thi trách nhiệm xóa bỏ hoặc khắc phục ô nhiễm mà không có lý do chính đáng có thể phải chịu thêm khoản bồi thường mang tính trừng phạt có giá trị ít nhất ngang bằng, nhưng không quá ba lần, chi phí Quỹ đặc biệt phải bỏ ra để khắc phục hậu quả của việc không thực hiện trách nhiệm.
4.2.2. Pháp luật CHLB Đức về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Các nhà lập pháp CHLB Đức thiết kế trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường theo nhóm thuộc luật công và luật tư. Nhóm quy phạm thuộc luật tư quy định về bồi thường thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của những người bị thiệt hại bởi những tác động xấu tới môi trường do hành vi của người khác gây ra. Cách tiếp cận này tương tự cách tiếp cận của Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam khi quy định các tổn hại về sức khỏe và tính mạng con người được điều chỉnh bằng pháp luật dân sự và tổn hại môi trường tự nhiên thì điều chỉnh bởi pháp luật môi trường.
Trách nhiệm này được quy định tại Luật Trách nhiệm pháp lý về môi trường (hay còn gọi là Luật Trách nhiệm môi trường. Luật Trách nhiệm môi trường cho phép cơ quan nhà nước, trong trường hợp cần thiết, sử dụng các biện pháp cưỡng chế buộc người gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra cho môi trường. Nội dung này được quy định tại Luật Phòng chống và khắc phục thiệt hại môi trường (Luật Thiệt hại môi trường). Hai văn bản luật này cùng dẫn chiếu tới các quy định khác của pháp luật liên bang, nhất là Bộ luật Dân sự, Luật Bảo tồn thiên nhiên, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ đất và một số luật khác.
Pháp luật của CHLB Đức chú trọng đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người. Theo đó:
- Chủ sở hữu thiết bị được liệt kê tại Phụ lục I của Luật Trách nhiệm môi trường có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại và tài sản phát sinh từ việc vận hành thiết bị dẫn tới gây ô nhiễm môi trường và từ đó phát sinh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu cũng được đặt ra khi các thiết bị này mới ở giai đoạn chưa hoàn thành việc xây dựng, lắp đặt hoặc những thiệt bị này đã ngừng hoạt động nhưng gây ảnh hưởng tới môi trường và từ đó gây thiệt hại.
- Trách nhiệm bồi thường không đặt ra trong trường hợp bất khả kháng; chủ sở hữu không phải chịu trách nhiệm bồi thường khi vận hành thiết bị đúng quy định và mức độ thiệt hại là không đáng kể cũng như quy định về trách nhiệm liên đới của người bị thiệt hại.
- Các loại thiệt hại phải bồi thường trong trường hợp gây chết người bao gồm: các chi phí khám, chữa bệnh, những thiệt hại về tài chính của người chết (bao gồm thu nhập bị mất hoặc giảm sút hoặc chi phí cho sinh hoạt tăng lên) và tiền mai táng. Thiệt hại còn bao gồm cả những trách nhiệm tài chính theo luật định hoặc tự nguyện của người chết đối với người thứ ba, kể cả trong trường hợp người thứ ba chưa được sinh ra. Các loại thiệt hại phải bồi thường trong trường hợp tổn hại sức khỏe được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Mức bồi thường tối đa cho một hành vi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường là 85 triệu euro đối với các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người và tối đa cũng là 85 triệu euro đối với các thiệt hại về tài sản. Nếu nhiều khoản bồi thường phải trả vượt quá mức tối đa nêu trên thì các khoản bồi thường riêng lẻ được giảm theo tỉ lệ tương ứng với tổng số tiền tối đa.
Đối với thiệt hại môi trường, về nguyên tắc, người gây ra thiệt hại môi trường từ hoạt động có tính chất nghề nghiệp phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Danh mục này toàn diện đến nỗi hầu hết mọi hoạt động có tính chất nghề nghiệp có tiềm năng gây hại cho môi trường đều đã được liệt kê.
Những người gây ô nhiễm khác không được liệt kê trong danh mục do pháp luật quy định chỉ chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đa dạng sinh học và nếu họ có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong hoạt động nghề nghiệp dẫn tới thiệt hại đó.
Một điểm đáng lưu ý trong pháp luật về bồi thường thiệt hại môi trường là việc áp dụng khá dễ dàng cơ chế kiện tập thể. Quyền khởi kiện tập thể được đảm bảo đối với các hiệp hội. Ví dụ như các Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên có thể buộc các cơ quan có thẩm quyền phải hành động trong trường hợp thiệt hại môi trường đã xảy ra hoặc có thể chắc chắn xảy ra .
4.2.3. Pháp luật Nhật Bản về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Pháp luật của Nhật Bản về bồi thường thiệt hại môi trường có một số đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, Nhật Bản ban hành Luật riêng biệt để thực hiên việc bồi thường cho người chịu thiệt hại. Viêc ban hành luật khắc phục sẽ được tiến hành khi các nạn nhân đã từng nộp đơn kiên đòi bồi thường thiệt hại và tòa án sơ thẩm đã ban hành phán quyết về trách nhiêm bồi thường.
Thứ hai, chính phủ đóng một vai trò thiết yếu trong quá trình đàm phán để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, chính phủ là bị đơn trong các vụ kiên này. Nếu tòa án đưa ra các quyết định thì chính phủ phải thực hiên các quyết định và phải bồi thường thiệt hại theo đúng nội dung của các quyết định đó.
Thứ ba, ngân sách dành cho biên pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại theo thủ tục lập pháp, tức là ban hành luật cụ thể, không phải là vô hạn mà phụ thuộc vào quyết định chính trị theo tình hình tài chính. Vì vậy, không có gì đảm bảo cho các nạn nhân nhận đủ khoản thiệt hại nên họ cần sẵn sàng thỏa hiệp.
Thứ ba, thương lượng để giải quyết tranh chấp thường được thực hiên thông qua sự trung gian của các các chính trị gia có ảnh hưởng như nghị sỹ, thống đốc.
4.2.4. Pháp luật Australia về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Trách nhiêm môi trường được quy định trong pháp luật Australia dưới các hình thức sau: làm sạch, truy tố hình sự, trách nhiêm của doanh nghiệp và bồi thường dân sự.
- Trách nhiệm làm sạch. Các bang của Australia đều quy định trách nhiêm môi trường dưới hình thức người gây ô nhiễm phải trả các chi phí làm sạch môi trường. Pháp luật cho phép các cơ quan nhà nước kiên buộc những người gây ô nhiễm phải thanh toán các khoản tài chính mà Nhà nước bỏ ra để làm sạch môi trường.
- Truy tố hình sự. Khác với Việt Nam, việc truy tố hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường được quy định cụ thể trong Luật Bảo vê môi trường (EPA). Công tố viên ở Australia được trao quyền hạn rất rộng trong việc thâm nhập các cơ sở của doanh nghiệp, tổ chức để kiểm tra thiết bị, đo đạc chỉ số môi trường, lấy mẫu xét nghiêm nhằm mục đích truy tố hình sự hành vi gây ô nhiễm môi trường. Một trong những đặc trưng của việc truy tố hình sự hành vi gây ô nhiễm là “trị ngoại quyền tài phán”. Điều này có nghĩa là việc truy tố hành vi gây ô nhiễm môi trường không phụ thuộc vào yếu tố là người gây ô nhiễm thuộc quyền tài phán của bang nào.
- Trách nhiệm dân sự. Pháp luật Australia về bảo vê môi trường ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước đã áp dụng trách nhiêm bồi thường thiệt hại môi trường với sự phân biệt rất rõ giữa trách nhiêm doanh nghiệp so với cá nhân. Việc xác định trách nhiêm của doanh nghiệp, của cá nhân thường gắn với những người điều hành doanh nghiệp, của những nhà thầu độc lập của doanh nghiệp, sự cẩn trọng đúng mức, tính trung thực và việc sai lầm có thể biện minh đối với các tình tiết, các căn cứ bảo vệ hoặc nguyên tắc không bị xử lý hai lần đối với cùng một hành vi vi phạm và nhất là về bồi thường dân sự.
5. Pháp luật môi trường quốc tế về bồi thường thiệt hại môi trường
Pháp luật môi trường quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế phát sinh từ các lĩnh vực khác nhau bao gồm chất lượng không khí, biến đổi khí hậu, ô nhiễm đất, giới hạn khai thác môi trường, quản lý chất thải, ô nhiễm nước, bảo tồn thiên nhiên, đánh giá tác động môi trường. Pháp luật môi trường quốc tế có 5 đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các vấn đề môi trường quốc tế được gây ra chủ yếu bởi hoạt động tư, tức là các hoạt động của doanh nghiệp, của cá nhân. Thách thức đối với pháp luật môi trường quốc tế là phát triển những công cụ hiệu quả để điều chỉnh các hoạt động tư này. Theo truyền thống, luật pháp quốc tế đã chi phối hành vi của các quốc gia, không phải cá nhân. Điều đó thể hiện ở cơ cấu chủ thể của pháp luật quốc tế, đặc biệt là các lĩnh vực công pháp quốc tế. Để kiểm soát các hoạt động tư cần hoặc phải loại bỏ các hành vi đó hoặc phải thu hút các chủ thể tư vào quá trình kiểm soát. Loại bỏ các chủ thể tư đương nhiên là vô cùng khó trong lĩnh vực môi trường.
Thứ hai, các vấn đề môi trường quốc tế có nền tảng vật chất và công nghệ. Hầu hết các vấn đề của pháp luật quốc tế chủ yếu là vấn đề chính trị như chiến tranh, nhân quyền, bảo hộ mậu dịch, xung đột sắc tộc, tranh chấp lãnh thổ. Đây là những vấn đề mà pháp luật quốc tế tìm cách giải quyết thông qua thể chế quốc tế. Dĩ nhiên, các vấn đề môi trường quốc tế cũng có những yếu tố chính trị nhưng cũng có những yếu tố khác mà các vấn đề chính trị quốc tế không có, ví dụ như chúng tác động trực tiếp lên con người, chịu sự thúc đẩy của công nghệ, dựa trên các quy trình vật lý cực kỳ phức tạp, chỉ có thể hiểu được với sự trợ giúp của khoa học và chỉ có thể được xác định bởi trợ giúp của công nghệ.
Thứ ba, các vấn đề môi trường quốc tế thường kèm theo sự không chắc chắn về khoa học. Các tranh chấp môi trường quốc tế thường được gắn với sự xung đột hay mâu thuẫn lợi ích, giá trị giữa các quốc gia, nhưng những lợi ích, giá trị đó rất khó xác định bởi liên quan đến các tình tiết vô cùng khó xác định.
Thứ tư, các vấn đề môi trường quốc tế vô cùng năng động. Hoạt động của con người và ngay cả những biến đổi tự nhiên đều dẫn tới sự thay đổi liên tục các mục tiêu cần đạt được, các giải pháp kiểm soát cần có.
Thứ năm, các vấn đề môi trường quốc tế gắn bó mật thiết với nhau và rất khó xử lý một cách tách rời. Chính vì vậy, cách tiếp cận toàn diện rất cần trong các quy định pháp luật môi trường quốc tế.
5.1. Các chủ thể của pháp luật môi trường quốc tế
Chủ thể của pháp luật quốc tế bao gồm: Nhà nước, tổ chức quốc tế, cá nhân, tổ chức phi chính phủ.
5.2. Các nguyên tắc của pháp luật môi trường quốc tế
Qua nội dung nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu phân tích, đánh giá về những nguyên tắc chung của pháp luật môi trường quốc tế và một số nguyên tắc của pháp luật môi trường quốc tế liên quan trực tiếp đến bồi thường thiệt hại môi trường.
Các nguyên tắc chung của pháp luật môi trường quốc tế: được phân tích trong đề tài bao gồm: (i) Nguyên tắc chủ quyền và trách nhiệm; (ii) Nguyên tắc ngăn chặn hay còn được gọi là nguyên tắc “không gây hại”; (iii) Nguyên tắc hợp tác; (iv) Nguyên tắc phát triển bền vững; (v) Nguyên tắc phòng ngừa; (vi) Nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt; (vii) Nguyên tắc di sản chung của nhân loại; (viii) Nguyên tắc về mối quan tâm chung của nhân loại; (ix) Nguyên tắc đánh giá tác động môi trường.
Các nguyên tắc của Luật môi trường quốc tế liên quan trực tiếp đến bồi thường thiệt hại môi trường bao gồm: (i) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả; (ii) Nguyên tắc hồi tố trách nhiệm dân sự.
3. Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế
Tại mục này, nhóm nghiên cứu phân tích việc xác định hành vi vi phạm, lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra trong một số vụ giải quyết tranh chấp môi trường quốc tế đã được Tòa án Công lý Quốc tế của Liên hợp quốc (ICJ), Hội đồng Trọng tài giải quyết. Các phân tích cho thấy quan hệ nhân quả dù khó xác định nhưng vẫn là một điều kiện quan trọng để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường cả trong thực tiễn pháp luật quốc tế.
Lỗi là yếu tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Lỗi hỗn hợp được áp dụng trong nhiều vụ kiện bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Tuy nhiên, trong lĩnh vực môi trường, lỗi không phải là yếu tố bắt buộc phải tính đến trong mọi tranh chấp bồi thường thiệt hại. Nhiều quốc gia đặt các hoạt động chứa nhiều nguy cơ gây ô nhiễm ở trong chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt, theo đó chủ thể tiến hành hoạt động đó nếu gây ô nhiễm môi trường thì phải chịu trách nhiệm bồi thường mà không cần phải chứng minh yếu tố lỗi. Chỉ thị của EU số 2004/35/CE quy định rằng thiệt hại môi trường phải được bồi thường khi tác động xấu của nó lên thực trạng bảo tồn của các giống, loài được bảo vệ, lên hệ sinh thái và các tiêu chuẩn sinh thái, hóa chất và tiềm năng sinh thái của nước, lên nguy cơ đối với sức khỏe con người liên quan đến nhiễm độc đất là đáng kể và có thể xác định được và bị xảy ra do hành vi nguy hiểm mà không cần phải chứng minh rằng người gây hại có lỗi.
II. NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG
1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại môi trường trong thập kỷ qua đã có nhiều hoàn thiện. Các quy định pháp luật đã tạo ra được nền tảng pháp lý khá vững chắc cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Sự phát triển của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau.
Thứ nhất, pháp luật xác định rõ thiệt hại môi trường. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng khi khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại. Điều 163 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 xác định các thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra gồm: (i) Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường; (ii) Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.
Thứ hai, pháp luật quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Các thiệt hại môi trường được điều chỉnh bởi pháp luật hiện hành không phải do thiệt hại môi trường gây ra bởi thiên tai, tình trạng bất khả kháng, hoạt động theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Những chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm cả pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường. Pháp luật quy định cả trường hợp ô nhiễm, suy thoái môi trường đến từ hai pháp nhân thương mại trở lên. Để có thể truy trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần có chứng cứ rõ ràng, chính xác.
Thứ ba, pháp luật quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc xác định thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường.
Cơ quan có thẩm quyền thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường có trách nhiệm tính toán thiệt hại, xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường và cung cấp kết quả cho cơ quan có trách nhiệm để thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường.
Thứ tư, pháp luật quy định trách nhiệm của chủ thể bị thiệt hại đối với việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Pháp luật tố tụng dân sự quy định các chủ thể khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại môi trường phải có các có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và để được bồi thường thiệt hại.
Ủy ban nhân dân các cấp tại khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái có trách nhiệm hợp tác, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các dữ liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan tổ chức thu thập và thẩm định dữ liệu, chứng cứ.
Thứ năm, pháp luật hiện hành quy định rõ các điều kiện về hình thức để khởi kiện bao gồm:
(i) Điều kiện về chủ thể khởi kiện: để đòi bồi thường thiệt hại, chủ thể khởi kiện phải đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự theo điểm (a) khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Người khởi kiện phải có quyền, lợi ích hợp pháp dân sự bị xâm hại. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước, trong một số trường hợp, pháp luật quy định quyền khởi kiện là của các cơ quan, tổ chức.
(ii) Vụ việc phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Đối với những vụ việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án sau khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết và chủ thể khởi kiện không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan đó.
(iii) Vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
(iv) Vụ việc chưa được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật.
Các điều kiện về nội dung khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại bao gồm:
(i) Phải có hành vi gây ra thiệt hại trái pháp luật hay hành vi vi phạm pháp luật môi trường dẫn đến thiệt hại.
(ii) Phải có thiệt hại xảy ra. Trên thực tế, việc xác định thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thu thập chứng cứ, giám định thiệt hại và chứng minh thiệt hại để yêu cầu người gây ô nhiễm môi trường bồi thường.
Thứ sáu, pháp luật có những quy định hướng tới lượng hóa mức thiệt hại. Đồng thời, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định những thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời và khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Nội dung này đã được hướng dẫn tại Nghị định số 03/2015/NĐ-CP ngày 6/01/2015 của Chính phủ quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường.
Thứ bảy, pháp luật đã có những quy định rất phù hợp về yếu tố lỗi trong việc bồi thường thiệt hại môi trường. Điều 363 và Điều 364 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường vẫn được áp dụng ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi (Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015). Qui định này của Bộ luật Dân sự năm 2015 chứng tỏ cố gắng của Việt Nam trong việc đảm bảo sự tương thích của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường với các quy định và thực tiễn của pháp luật môi trường quốc tế.
Thứ tám, pháp luật có quy định rõ ràng về phương thức khởi kiện bao gồm cả khởi kiện cá nhân và khởi kiện của tổ chức. Trong việc giải quyết tranh chấp đối với loại thiệt hại liên quan đến môi trường tự nhiên thì cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể là Ủy ban nhân dân các cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường là các cơ quan có trách nhiệm yêu cầu đối tượng gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại.
Khởi kiện tập thể và vấn đề đại diện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chi trả và việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.
Thứ chín, pháp luật quy định các nguyên tắc xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường tại Điều 13 Nghị định số 03/2015/NĐ-CP như sau:
a) Ô nhiễm, suy thoái ở một khu vực địa lý tự nhiên do các nguồn phát sinh chất thải hoặc các hành vi xâm hại tại khu vực đó hoặc không tại khu vực đó nhưng tác động xấu đến khu vực đó;
b) Có cơ sở khoa học về tồn tại mối liên hệ giữa các chất gây ô nhiễm có thể phát sinh từ nguồn thải hoặc hành vi xâm hại với tình trạng suy giảm chức năng và tính hữu ích của môi trường;
c) Việc xác định tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phải đảm bảo kịp thời và công bằng.
d) Tổ chức, cá nhân tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, có hệ thống xử lý chất thải đạt yêu cầu và chứng minh được rằng không gây ô nhiễm, suy thoái môi trường thì không phải bồi thường thiệt hại đối với môi trường, không phải chịu các chi phí liên quan đến xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Thứ mười, pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường đã tích hợp hoặc viện dẫn đến các quy định của pháp luật môi trường quốc tế.
2.2. Nhận diện những bất cập trong pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
2.2.1. Những bất cập về tính thống nhất và đồng bộ trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Trong bối cảnh Luật Bảo vệ môi trường và Bộ luật Dân sự ban hành ở những thời điểm khác nhau nên có sự bất tương thích giữa các quy định mới và các quy định cũ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có bồi thường thiệt hại môi trường. Việc thiếu các văn bản hướng dẫn đã dẫn khó khăn cho việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường, bảo vệ lợi ích của người dân và của nhà nước khi môi trường bị ô nhiễm.
2.2.2. Bất cập quy định quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
- Quy định không thống nhất về quyền khởi kiện trong các văn bản quy phạm pháp luật.
- Quy định về quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên chưa rõ ràng, thiếu cụ thể.
- Thiếu hướng dẫn về quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại khi thành phần môi trường tự nhiên đã được giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyền hưởng dụng.
- Quy định quyền khởi kiện của cá nhân chưa tính tới đặc thù của thiệt hại môi trường.
2.2.3. Bất cập về thời hiệu khởi kiện so với tính chất của bồi thường thiệt hại môi trường
Mặc dù quy định về thời hiệu khởi kiện đã có bước hoàn thiện đáng kể song đặt trong tính chất đặc thù của thiệt hại môi trường thì thời hiệu quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015 không đảm bảo được việc bồi thường thiệt hại môi trường. Các nghiên cứu, phân tích của đề tài cho thấy: quy định thời hiệu khởi kiện 03 năm không phù hợp với yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với môi trường tự nhiên. và không đảm bảo được quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về lợi ích, tài sản, sức khỏe, tính mạng.
2.2.4. Các quy định đặc thù về chứng cứ và chứng minh chưa phù hợp với tính chất của bồi thường thiệt hại môi trường
Với các quy định pháp luật hiện hành, người bị thiệt hại sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện nghĩa vụ chứng minh thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh của người bị thiệt hại về lợi ích, tài sản, sức khỏe, tính mạng phụ thuộc vào nghĩa vụ chứng minh thiệt hại đối với môi trường tự nhiên.
Thứ hai, với đặc thù riêng của ô nhiễm môi trường, người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp không đủ khả năng để chứng minh thiệt hại về lợi ích, tài sản, sức khỏe, tính mạng. Không phải trường hợp nào thiệt hại về lợi ích, tài sản, sức khỏe, tính mạng cũng là hậu quả ngay lập tức của hành vi gây ô nhiễm.
2.2.5. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại chưa phù hợp với thực tiễn bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường.
2.2.6. Một số quy định về xác định thiệt hại và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thiếu tính khả thi. Đó là các quy định về căn cứ tính toán thiệt hại; chưa phân định rõ trách nhiệm nộp phí bảo vệ môi trường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường; quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có trên hai chủ thể cùng gây ô nhiễm chưa tạo sự công bằng.
2.3. Đánh giá thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Thực trạng thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường có thể khái quát ở những nhận định sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường vẫn chứa đựng nhiều bất cập, thậm chí là mâu thuẫn với nhau tạo ra khoảng cách lớn giữa quyền được luật định và điều kiện thực hiện quyền.
Thứ hai, các thành tố khác của thể chế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường hầu như chưa sẵn sàng áp dụng công cụ pháp lý quan trọng này. Điều này thể hiện ở các điểm:
- Tòa án các cấp ở thường rất e ngại khi tiếp nhận và thụ lý đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại môi trường, nhất là những thiệt hại môi trường hàng loạt và liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức. Những hạn chế trong hệ thống chính trị đối với khiếu nại tập thể, khiếu nại vượt cấp trong các lĩnh vực khác nhau đặt các thẩm phán, các tòa án vào sự lưỡng lự và né tránh các vụ kiện tập thể.
- Có sự bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp, chủ thể gây ô nhiễm chủ yếu và cơ quan quản lý cũng như người dân. Với người dân, những thông tin về thực trạng môi trường trước và sau khi triển khai các dự án và đặc biệt trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp là không thể tiếp cận.
- Những người chịu thiệt hại hầu như chưa sẵn sàng với việc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại.
- Các tổ chức xã hội, đặc biệt là các tổ chức xã hội nghề nghiệp chưa tham gia tích cực vào việc hỗ trợ người chịu thiệt hại bồi thường thiệt hại môi trường.
- Các doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến phát triển bền vững.
Thứ ba, trên thực tế chưa có những vụ kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại môi trường trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý các ngành, lĩnh vực cụ thể như giao thông vận tải; kiểm soát ô nhiệm môi trường ở các công trình, dự án đầu tư lớn chưa có hoặc có nhưng hình thức và thiếu hiệu quả.
Thứ tư, những khó khăn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường là trở ngại lớn cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động môi trường, phát triển bền vững.
2.4. Đánh giá thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường qua hai vụ cháy Nhà máy rạng đông và vụ gây ô nhiễm nước ở Công ty cấp nước Sông Đà.
Gác lại khía cạnh hình sự, qua sự phân tích kỹ khía cạnh bồi thường thiệt hại môi trường trong hai vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng này có thể thấy rõ rất nhiều bất cập của hệ thống pháp luật, hệ thống quản lý trong đó có cả vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.
2.4.1. Vụ gây ô nhiễm nước ở Công ty cấp nước Sông Đà cho chúng ta thấy:
Thứ nhất, việc sử dụng nước nhiễm dầu có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Các phân tích khoa học về tác động xấu của nước nhiễm dầu đối với sức khỏe của người dân là chắc chắn có.
Thứ hại, thiệt hại tài sản cũng đã xảy ra. Người dân mất thời gian đi mua nước, đi lấy nước, phải thau rửa bể chứa v.v.. Nhiều gia đình còn phải đi thuê nhà ,ở tạm ở những vùng khác.
Thứ ba, ai sẽ là người khởi kiện trong vụ ô nhiễm nước sinh hoạt này.
Thứ tư, tòa án nào có thẩm quyền thụ lý đơn kiện đòi bồi thường thiệt hại. Hành vi vi phạm xảy ra ở Hòa Bình, người chịu thiệt hại ở Hà Nội.
2.4.2. Vụ cháy nhà máy Rạng Đông
Vụ cháy nhà máy Rạng Đông cho thấy khá nhiều bất cập về quản lý nhà nước nói chung và quản lý môi trường nói riêng. Những phân tích dưới đây không tập trung nhiều ở quản lý nhà nước về môi trường mà chỉ đề cập ở khía cạnh liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường.
Thứ nhất, ở giữa một khu dân cư đông đúc, việc tồn tại một nhà máy sản xuất công nghiệp có sử dụng nhiều hóa chất có nguy cơ gây độc hại là không phù hợp với quy hoạch phát triển, với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững. Vụ cháy này cũng cho thấy sự phối hợp thiếu chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan bảo vệ môi trường của thành phố Hà Nội với chính quyền quận Đống Đa. Vụ cháy cũng cho thấy tính giải trình và tính chịu trách nhiệm của chính quyền đối với người dân là rất đáng quan ngại. Một khía cạnh khác về quản lý môi trường mà vụ cháy cho thấy là không có thiết bị quan trắc môi trường được lắp đặt để giám sát một nhà máy lớn như Rạng Đông. Nếu xảy ra thiệt hại môi trường tự nhiên thì rất khó để xác định khi thiếu những số liệu môi trường xung quanh nhà máy Rạng Đông ở những thời điểm khác nhau.
Thứ hai, cho đến thời điểm đề tài được nghiên cứu, Nhà máy Rạng Đông chưa có động thái nào về hỗ trợ hay bồi thường cho những người đã gánh chịu những thiệt hại môi trường và cũng chưa có một đơn khởi kiện nào được gửi đến tòa án quận Đống Đa đòi bồi thường thiệt hại môi trường. Thực tế này cho thấy bồi thường thiệt hại môi trường trong thực tiễn pháp luật và tư pháp Việt Nam còn nhiều bât cập như:
Một là, thiệt hại chắc chắn đã xảy ra với người dân nhưng việc xác định được thiệt hại là rất khó. Những ngôi nhà, những tài sản bị cháy dĩ nhiên là có thể xác định được dù cũng mất thời gian. Tuy nhiên, những thiệt hại về sức khỏe thì rất khó có thể xác định. Mặt khác, nhiều tác động xấu của ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước từ vụ cháy nhà máy Rạng Đông có thể diễn ra sau này.
Hai là, việc xác định ai là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Xét về lỗi: (i) Đối với việc xác định lỗi của Nhà máy Rạng Đông: nhà máy vừa có lỗ vô ý vừa có lỗi cố ý. Lỗi có thể do bất cẩn, cẩu thả khi để vụ cháy xảy ra. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh thiệt hại môi trường thì nhà máy này có lỗi cố ý vì đã che dấu sự thật về tác động xấu của vụ cháy, không kịp thời thông báo và hỗ trợ người dân hạn chế thiệt hại. (ii) Đối với chính quyền thành phố Hà Nội cũng có lỗi đối với thiệt hại của người dân. Thông báo môi trường vẫn an toàn, trong lành sau vụ cháy của Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân đã khiến nhiều người dân ở lại để tiếp tục phơi nhiễm khói bụi độc hại. Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân đã có lỗi cố ý khi che dấu sự thật là đã có các chất độc hại phát tán trong vụ cháy. Ủy ban nhân dân quận cũng chính là người gián tiếp gây thiệt hại cho người dân.
Ba là, hành xử của Nhà máy Rạng Đông cho thấy trách nhiệm xã hội của nhà máy này rất thấp. Không một lời xin lỗi được đưa ra kịp thời, không một biện pháp nào được triển khai để hỗ trợ người dân tránh hoặc hạn chế thiệt hại.
Bốn là, tương tự như vụ Công ty nước sông Đà phân tích ở trn, rất khó để thực hiện việc khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại khi thể chế hiện hành chưa hoàn toàn thuận lợi để thực hiện việc này.
III. THÁCH THỨC MÔI TRƯỜNG TRONG KỶ NGUYÊN FTA VÀ THỂ CHẾ HƯỚNG TỚI HIỆU QUẢ CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG
1. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và những thách thức môi trường ở Việt Nam
Toàn cầu hóa là xu thế khó đảo ngược trong sự phát triển của nhân loại trong thời điểm hiện nay cho dù cũng có những quốc gia, có những chính phủ đang tìm cách quay trở lại chủ nghĩa bảo hộ thương mại. Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ trước, sau khi thoát khỏi cấm vận, sau khi gia nhập ASEAN đã thực hiện chính sách hội nhập quốc tế tích cực và tham gia ngày càng rộng, sâu vào toàn cầu hóa thương mại.
Trong nhiều thập kỷ vừa qua, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiếp nhận những nguồn vốn đầu tư lớn. Thiếu vốn, thiếu công nghệ, quản trị kém thúc đẩy các quốc gia đang phát triển tìm mọi cách thu hút, thậm chi cạnh tranh khốc liệt nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Chỉ số thu hút đầu tư nước ngoài được nhiều quốc gia coi là một trong những chỉ số phát triển cơ bản.
Tuy nhiên, cần thấy rằng đầu tư nước ngoài, mở rộng nhập khẩu cũng kèm theo nhiều tác động tiêu cực, nhất là là sự ô nhiễm, suy thoái môi trường. Với nhiều quốc gia phát triển, đầu tư nước ngoài cũng đồng nghĩa với sự suy thoái môi trường nghiêm trọng. Nhiều quốc gia phát triển đang trở thành thiên đường xả thải của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đến từ các nước phát triển.
Tuy những tác động tiêu cực của hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng và hoạt động đầu tư nói chung đối với môi trường là rất đáng lo ngại song các quốc gia không thể dừng hoạt động đầu tư vì cần đến sự tăng trưởng. Nhiều quan điểm cho rằng sự tăng trưởng kinh tế, mở rộng đầu tư sẽ làm trầm trọng hơn môi trường sống của con người và cần thiết phải giới hạn sự tăng trưởng vì môi trường. Để giải quyết xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, nguyên tắc phát triển bền vững đã được hình thành và thể chế hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia và các công ước quốc tế về môi trường. Các hiệp định thương mại tự do bao gồm các thỏa thuận về đầu tư. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) hay 11 hiệp định thương mại tư do mà Việt Nam đã ký đều dành nhiều quy định, thậm chí toàn bộ cả chương về các biện pháp đảm bảo và thúc đẩy đầu tư trong khu vực thuộc phạm vi hiệu lực của mỗi hiệp định. Những biện pháp quy định trong CPTPP rất đa dạng và hướng tới việc thuận lợi hóa hoạt động đầu tư. Một trong những quy định mới của CPTPP liên quan đến đầu tư là về việc áp dụng các tiêu chuẩn tối thiểu với các nguyên tắc như “đối xử công bằng và bình đẳng", “bảo vệ, bảo đảm an ninh toàn diện ” (CPTPP, Annex, chapter 9, art 9.6).
2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật dân sự, tư pháp hình sự, pháp luật thương mại nhìn từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại môi trường và thực tiễn thi hành cho thấy cần phải hoàn thiện thể chế để nâng cao hiệu quả của chế định pháp luật này trong bảo vệ môi trường. Để có những giải pháp cụ thể phù hợp, trước hết cần làm rõ những quan điểm cơ bản của việc hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường. Đó là:
Thứ nhất, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về bồi thường thiệt hại môi trường cần dựa trên chiến lược phát triển bền vững với các chính sách, chủ trương cụ thể nhằm thực hiện chiến lược này.
Thứ hai, cần phải xác định rõ việc khôi phục lại hiện trạng môi trường ban đầu là trách nhiệm hành chính hay trách nhiệm dân sự hay bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm và thiệt hại xảy ra, đặc biệt là những chứng cứ để xác minh quan hệ nhân quả.
Thứ tư, cần xác định và luật hóa một số khía cạnh liên quan đến nghĩa vụ chứng minh trong các vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường, đặc biệt trong trường hợp vi phạm đồng loạt và gây thiệt hại đồng loạt.
Thứ năm, cần xem xét để bổ sung các quy định tạo sự linh hoạt hơn trong việc thực hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, cụ thể cho phép người gây thiệt hại đối với môi trường bồi thường một lần hoặc nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại để chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường có thể tiến hành bồi thường dần, khi phải bồi thường số tiền lớn quá mức dẫn đến sự phá sản hoặc mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Thứ sáu, cần rà soát, đánh giá toàn bộ các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để loại bỏ các mâu thuẫn liên quan đến việc thụ lý và giải quyết các yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường.
Thứ bảy, cần làm rõ liệu việc xử lý hành chính các doanh nghiệp vi phạm pháp luật môi trường là điều kiện tiên quyết của việc xử lý hay không xử lý yêu cầu bồi thường thiệt hại. Cụ thể, người gây thiệt hại môi trường khi đã nộp phạt hành chính có được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường hay không?
Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường gây ra:
2.1. Hoàn thiện quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường
Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường một cách đồng bộ, khả thi và phù hợp với yêu cầu thực tiễn theo các giải pháp sau:
Thứ nhất, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Bảo vệ môi trường và Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
Thứ hai, đảm bảo tính thống nhất trong sự điều chỉnh giữa các văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường. Bổ sung chủ thể có quyền khởi kiện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tạo sự thống nhất về chủ thể có quyền khởi kiện trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ ba, bổ sung, sửa đổi các quy định về bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường phù hợp với đặc thù của tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Một số nội dung cần sớm được bổ sung, sửa đổi gồm:
i) Pháp luật cần quy định rõ Ủy ban nhân dân các cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm yêu cầu bồi thường thiệt hại.
(ii) Qui định rõ trường hợp khởi kiện cá nhân, tức là việc cá nhân, tổ chức khởi kiện nhân danh mình, trường hợp khởi kiện tập thể và cơ chế đại diện trong trường hợp khởi kiện tập thể;
iii) Cần quy định trách nhiệm chứng minh thiệt hại về môi trường thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
(iv) Qui định cụ thể hơn “chi phí thiệt hại trước mắt và lâu dài do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường’ được nêu trong Luật Bảo vệ môi trường.
Thứ tư, về thời hiệu khởi kiện. Bộ luật dân sự cần bổ sung quy định kéo dài thời hiệu khởi kiện hoặc không quy định thời hiệu liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường, nhất là đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn hại đến hệ sinh thái do ô nhiễm môi trường gây ra.
Thứ năm, pháp luật cần quy định rõ mối quan hệ giữa việc nộp phí môi trường và việc bồi thường thiệt hại môi trường.
Thứ sáu, pháp luật môi trường và pháp luật dân sự, tố tụng dân sự của Việt Nam cần quy định thống nhất việc chia đều trách nhiệm trong các trường hợp nhiều người gây ô nhiễm dẫn đến thiệt hại môi trường mà không thể định lượng cụ thể mức gây thiệt hại và trách nhiệm của từng người gây thiệt hại.
Thứ bảy, cần có những quy định để đảm bảo cho người chịu thiệt hại có cơ hội đòi bồi thường thiệt hại do pháp nhân thương mại gây ra và ngay sau đó chấm dứt sự tồn tại bằng tự giải thể, mua bán, sáp nhập.
Thứ tám, cần có quy định về việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiêt hại tích tụ về sau.
2.2. Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về hòa giải trong các vụ yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp môi trường bằng tòa án.
(i) Về lâu dài, cần nghiên cứu thành lập tòa chuyên trách về môi trường trong cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, trước mắt, khi chưa có điều kiện thành lập tòa môi trường, cần đào tạo, bồi dưỡng ở mỗi tòa án nhân tỉnh 2-3 thẩm phán về chuyên môn pháp luật và khoa học môi trường.
(ii) Thẩm quyền giải quyết tranh chấp môi trường nói chung hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại nói riêng cần được xác định theo nguyên tắc nơi xảy ra ô nhiễm, gây thiệt hại với tư cách là nguyên tắc duy nhất.
(iii) Cần bổ sung những quy định cụ thể hơn để người bị thiệt hại môi trường tự nhiên khác cũng có thể thực hiện được quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại.
(iv) Pháp luật cần quy định cơ chế đại diện khi những người chịu thiệt hại khởi kiện tập thể để đòi bồi thường thiệt hại.
(v) Cần bổ sung vào khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định tòa có quyền yêu cầu các cơ quan quản lý môi trường cung cấp số liệu và đánh giá hiện trạng môi trường. Các cơ quan quản lý môi trường có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của tòa án trong thời hạn theo yêu cầu của tòa án.
(vi) Tòa án nhân dân tối cao cần sửa đổi, bổ sung Quyết định số 287/QĐ- TANDTC ngày 15/12/2017 về việc ban hành chế độ báo cáo thống kê công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án trong hệ thống tòa án. Theo đó, cần đưa số liệu về các vụ án tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại môi trường và báo cáo, thống kê của hệ thống tòa án.
(vii) Bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự quy định hồi tố về trách nhiệm dân sự đối với những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, môi trường diễn ra sau thời điểm gây ô nhiễm và đã bồi thường thiệt hại thực tế.
(viii) Pháp luật cần được điều chỉnh theo hướng không áp dụng thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường.
Thứ ba, quy định về giải quyết tranh chấp môi trường bằng trọng tài
Để các tranh chấp liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường có thể thuộc thẩm quyền trọng tài và được giải quyết theo thủ tục tố tụng trọng tài, cần bổ sung và sửa đổi một số quy định sau:
(i) Bộ luật tố tụng dân sự quy định yêu cầu bồi thường thiệt hại môi trường không thuộc thẩm quyền của tòa án nếu các bên sau khi xảy ra hành vi gây ô nhiễm dẫn đến thiệt hại, các bên thỏa thuận chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp.
(ii) Pháp luật về trọng tài thương mại, trước hết là Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần sửa đổi quy định về thẩm quyền trọng tài để bao hàm các thỏa thuận trọng tại không chỉ trong hợp đồng, mà bao gồm cả những thỏa thuận khi giữa các bên phát sinh quan hệ pháp luật về những yêu cầu cụ thể.
(iii) Bổ sung một số các quy định trong thủ tục giải quyết tranh chấp trọng tài vốn được ban hành để giải quyết các tranh chấp hợp đồng để có thể giải quyết các tranh chấp theo thỏa thuận trong các quan hệ phát sinh ngoài hợp đồng như trường hợp tranh chấp môi trường.
2.4. Tăng cường vai trò của các chủ thể quản lý lĩnh vực bảo vệ môi trường
Để đảm bảo cho việc thực thi hiệu quả pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và bồi thường thiệt hại môi trường nói riêng, cần phải tăng cường vai trò và nhận thức của các chủ thể thực hiện và quản lý sự vận hành và quản lý hoạt động bảo vệ môi trường.
Cần tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương bằng cách: i) Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý và bảo vệ môi trường, đặc biệt là trong hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động xả thải; ii) Tăng cường nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về phát triển bền vững; iii) Bồi dưỡng kiến thức pháp luật về bồi thường thiệt hại để thể hỗ trợ, tư vân cho người dân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại kịp thời và đúng thủ tục khi có tranh chấp về yêu cầu bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, nhằm bảo vệ một cách tốt nhất khi xảy ra thiệt hại môi trường.
2.5. Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường
So với những quy định pháp luật ở những quốc gia có sự phát triển cao trong xây dựng chính sách về CSR thì những quy định của pháp luật Việt về thể chế phi chính thống này còn quá nhiều hạn chế. Những hạn chế này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp và qua đó ảnh hướng đến nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CSR ở Việt Nam phải được chú trọng.
2.6. Hoàn thiện các cơ chế, phương pháp quản lý và điều hành xã hội
Để hạn chế tình trạng doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại môi trường, cần phải thay đổi cơ chế, phương pháp quản lý và điều hành xã hội. Cần chuyển từ cơ chế, phương pháp quản lý với phương thực can thiệp hành chính sang cơ chế, phương pháp kêt hợp hài hòa ba thành tố cơ bản của xã hội: Nhà nước, thị trường và cộng đồng.
[1] Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, khái niệm “thiệt hại môi trường” được sử dụng và mặc định cho cụm từ “thiệt hại do ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gây ra”.