Việt Nam hiện là thành viên của nhiều Hiệp định thương mại tự do (FTAs) với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực đổi mới trong hoạch định chính sách, pháp luật theo hướng minh bạch hơn, tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư hấp dẫn, thông thoáng hơn trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu nêu trên thì một trong những nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay là phải khơi dậy được phong trào khởi nghiệp của các chủ thể trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những nỗ lực, quyết tâm chỉ đạo và tổ chức, triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp.
Chính vì vậy, việc triển khai nghiên cứu Đề tài “Nhận diện các rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp và các giải pháp khắc phục” có giá trị cả về lý luận và thực tiễn.
Dưới đây là những tóm tắt kết quả nghiên cứu chính của Đề tài:
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ RÀO CẢN PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP
1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về khởi nghiệp
-
Khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp
Từ những quan điểm nhìn nhận về khởi nghiệp (startup) đã nghiên cứu, Nhóm tác giả cho rằng, khởi nghiệp (startup) không chỉ đề cập tới những doanh nghiệp đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (startup company), mà còn thường được gắn với công nghệ mới trong giai đoạn lập nghiệp. Khởi nghiệp đòi hỏi phải đổi mới, sáng tạo. Đặc tính cơ bản của khởi nghiệp là tính đột phá nhằm tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn, qua đó giúp chủ thể khởi nghiệp thu được nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn. Theo đó, khi đề cập đến “startup” thường nhấn mạnh đến các từ khóa như: Tổ chức con người, sự sáng tạo, công nghệ, tăng trưởng cao và không chắc chắn được bảo đảm. Chính từ nội hàm của khái niệm “khởi nghiệp” như vậy nên có thể hiểu khởi nghiệp là quá trình hiện thức hóa ý tưởng sáng tạo nhằm tạo ra sản phẩm mới hoặc sản phẩm cũ nhưng có điểm khác nổi trội, ưu tú hơn so với những sản phẩm, dịch vụ đã từng có trên thị trường và có sức tăng trưởng nhanh.
-
Đặc điểm của khởi nghiệp
Khi nói đến khởi nghiệp, Nhóm tác giả nhấn mạnh đến những đặc điểm sau:
- Tính sáng tạo, đột phá;
- Tính tăng trưởng;
- Gắn với yếu tố công nghệ, khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
-
Các giai đoạn trong hoạt động khởi nghiệp
Giai đoạn 1: Thai nghén ý tưởng.
Giai đoạn 2: Tìm kiếm đối tác.
Giai đoạn 3: Đầu tư.
Các kịch bản tiếp theo có thể xảy ra đó là:
-
Sản phẩm rất tốt, nếu có lợi nhuận. Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO). Nhà đầu tư và nhà sáng lập cùng hài lòng khi cổ phiếu biến thành tiền thật, rất nhiều tiền. Thời gian cần 5 - 10 năm.
-
Có tiềm năng tốt, chỗ đứng. Một công ty lớn hơn mua lại. Tin tốt.
-
Hết tiền, không ai đầu tư tiếp - Đóng cửa - Mất tiền.[1]
Đặc điểm chung của các startup là có độ rủi ro rất cao. Theo thống kê, 90% các startup sẽ biến mất trong khoảng 3 - 5 năm[2], tức là trước khi họ có thể mở rộng hoạt động, xây dựng mạng lưới khách hàng, tuyển thêm nhân sự và sẵn sàng "chiến đấu" với các đối thủ khác trên thương trường. Vì vậy, giai đoạn 5 năm “đầu đời” cũng chính là giai đoạn mà các startup cần sự hỗ trợ nhiều nhất từ Nhà nước. Đây cũng là lý do Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 17 quy định đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo được hỗ trợ nếu có thời gian hoạt động không quá 05 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu và chưa thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng đối với công ty cổ phần.
Vòng đời của các startup dài hay ngắn phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh doanh của các CEO. Có những công ty "chết yểu" ngay khi mới thành lập, nhưng cũng có những đơn vị sống trường tồn từ thế hệ này qua thế hệ khác.[3]
-
Phân biệt khởi nghiệp với lập nghiệp, doanh nghiệp khởi nghiệp với doanh nghiệp truyền thống
Theo ông Bùi Thế Duy, Bộ Khoa học và Công nghệ thì “doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa là phải tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới ”[4]. Trong khi đó, để phân biệt giữa doanh nghiệp khởi nghiệp (các startup) với doanh nghiệp vừa và nhỏ truyền thống thì cần bám sát 03 điểm quan trọng là:
-
Về tốc độ tăng trưởng;
-
Về vấn đề vốn;
-
Về kế hoạch “kết thúc”.
-
Các yếu tố tác động đến hoạt động khởi nghiệp
-
Yếu tố khách quan
Các yếu tố khách quan có thể kể đến là:
-
Yếu tố chính trị;
-
Yếu tố thể chế và pháp luật;
-
Yếu tố kinh tế;
-
Yếu tố văn hóa - xã hội;
-
Yếu tố khoa học - công nghệ;
-
Yếu tố hội nhập quốc tế.
-
Yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan đó là:
- Yếu tố vốn (nguồn đầu tư);
- Yếu tố con người và quản trị doanh nghiệp;
- Yếu tố văn hóa chấp nhận thất bại;
- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin.
-
Vai trò của khởi nghiệp đối với sự phát triển của mỗi quốc gia
Startup có vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia và nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao, cụ thể:
- Khởi nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Khởi nghiệp tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp.
- Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà khởi nghiệp và nhà kinh doanh năng động.
-
Một số vấn đề lý luận về rào cản pháp lý trong hoạt động khởi nghiệp
-
Khái niệm về rào cản pháp lý
Theo Nhóm nghiên cứu, rào cản pháp lý là các quy định của pháp luật, các yếu tố thực thi pháp luật ngăn cản gia nhập thị trường, tăng chi phí kinh doanh, hạn chế cạnh tranh, mở rộng phát triển thị trường, hạn chế sáng tạo hoặc hạn chế huy động nguồn lực. Đối với khởi nghiệp, rào cản pháp lý trong hoạt động khởi nghiệp được hiểu là các quy định của pháp luật, các yếu tố thực thi pháp luật cản trở hoặc kìm hãm các chủ thể trong hoạt động khởi nghiệp. Thực tiễn đã chứng minh, chính các “rào cản pháp lý” đã tạo nên không ít khó khăn trong quá trình khởi nghiệp của các doanh nghiệp, khiến những chủ thể tiến hành khởi nghiệp vốn dĩ đã thiếu, yếu các điều kiện cần thiết lại càng thêm nhiều khó khăn trong nỗ lực định hướng, phát triển doanh nghiệp.
-
Nhận diện các rào cản pháp lý trong hoạt động khởi nghiệp
Tại Đề tài, Nhóm tác giả nhận diện các rào cản pháp lý trong hoạt động khởi nghiệp với một số yếu tố sau:
- Về thủ tục hành chính trong quá trình khởi nghiệp;
- Về vấn đề huy động vốn trong hoạt động khởi nghiệp;
- Về vấn đề thực hiện nghĩa vụ thuế trong hoạt động khởi nghiệp;
- Về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hoạt động khởi nghiệp;
- Vấn đề quản lý, sử dụng đất đai trong hoạt động khởi nghiệp.
3. Khái quát kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của một số quốc gia trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam
3.1. Khái quát kinh nghiệm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp của một số quốc gia trên thế giới
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi cơ bản nền sản xuất của thế giới, trong đó ngành công nghệ đang phát triển nhanh chóng, vượt xa hầu hết các ngành khác. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang là động lực của thịnh vượng và đổi mới, giúp cải thiện mức sống của người dân trên toàn thế giới theo nhiều cách khác nhau. Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quốc gia đã dựa vào thành tựu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp và thu được nhiều kết quả tích cực.
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, Nhóm nghiên cứu quyết định lựa chọn 03 quốc gia là Xinh-ga-po, Hoa Kỳ, Tuy-ni-di để tìm hiểu, nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Sự lựa chọn này xuất phát từ một số đặc điểm mang tính đặc thù của mỗi quốc gia, cụ thể là: (i) Xinh-ga-po là quốc gia với những chuẩn mực cao về một nền hành chính công, một quốc gia với nguồn lực tự nhiên hạn chế, không có đạo luật riêng điều chỉnh doanh nghiệp khởi nghiệp nhưng lại thành công nhờ môi trường kinh doanh thuận lợi, pháp luật ưu đãi về thuế, luật bảo vệ sở hữu trí tuệ mạnh mẽ, cơ chế giải quyết tranh chấp đa dạng, được công nhận tại nhiều nước. Hệ thống pháp luật của Xinh-ga-po có uy tín quốc tế về tính trung lập, hiệu quả và minh bạch; (ii) Hoa Kỳ cũng không có đạo luật riêng điều chỉnh doanh nghiệp khởi nghiệp, nhưng đã lấy tinh thần khởi nghiệp làm lợi thế cạnh tranh chủ đạo. Hoa Kỳ coi trọng những cá nhân sẵn sàng khởi nghiệp và khởi nghiệp thành công, bất kể địa vị trong xã hội. Khi đương nhiệm, Tổng thống Obama đã tuyên bố: “Doanh nhân đại diện cho lời hứa của Hoa Kỳ, nếu bạn có ý tưởng hay và sẵn sàng làm việc hết mình để theo đuổi, bạn sẽ thành công trên đất nước này. Và trong quá trình hiện thực hóa lời hứa này, các doanh nhân sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng nền kinh tế và tạo công ăn việc làm”[5]; (iii) Tuy-ni-di với ít nhất 17 trung tâm công nghệ và một số lượng lớn các chương trình tài trợ và cố vấn, Tuy-ni-di là một trong những địa điểm năng động hơn cho các công ty khởi nghiệp trên lục địa châu Phi. Khác với Xinh-ga-po và Hoa Kỳ, ngày 02/4/2018, Quốc hội Tuy-ni-di đã thông qua Đạo luật khởi nghiệp. Đạo luật là thành quả của sự chung tay của các thành phần trong hệ sinh thái khởi nghiệp Tuy-ni-di bao gồm các doanh nhân, nhà đầu tư, chính quyền và xã hội. Đạo luật khởi nghiệp là khung pháp lý mang tính cách mạng để biến Tuy-ni-di thành một quốc gia khởi nghiệp, một phần của chiến lược quốc gia “Startup Tunisia”. Việc Đạo luật được thực thi sẽ làm tăng số lượng các công ty khởi nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao, giúp doanh nghiệp đổi mới ở Tuy-ni-di cạnh tranh quốc tế hơn và có khả năng tăng trưởng kinh tế và việc làm, đặc biệt là trong giới trẻ.
-
Kinh nghiệm Việt Nam
Từ những khía cạnh được phân tích, Nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số gởi mở cho Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần nhận diện đúng các rào cản pháp lý hiện nay là rào cản phát triển doanh nghiệp nói chung, trong đó có các startup, để từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ, tháo gỡ vướng mắc chung bên cạnh các ưu đãi, hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Thứ hai, minh bạch hóa, công bằng hóa sự phát triển kinh tế nói chung, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, tạo sự cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Đặc biệt, phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế tư nhân, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc và thông lệ quốc tế.
Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện khung chính sách - pháp lý để hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp khởi nghiệp; bảo đảm khung pháp lý cho doanh nghiệp từ khi khai sinh, hoạt động và cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp từ phía Nhà nước; đẩy mạnh việc sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản không còn phù hợp, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước trong sạch.
Thứ tư, xây dựng Chính phủ điện tử và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
Thứ năm, tăng cường thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Thứ sáu, nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp về khởi nghiệp sáng tạo và bảo đảm thực thi có hiệu quả các quy định, chính sách hỗ trợ đối với loại hình doanh nghiệp này.
Thứ bảy, Chính phủ về cơ bản là người đứng ngoài sân chơi nhưng lại gián tiếp bảo đảm điều kiện cho sân chơi khởi nghiệp hoạt động thuận lợi, hiệu quả. Do đó, Chính phủ vẫn cần tiếp tục lắng nghe những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp khởi nghiệp, rà soát các quy định, công tác thực thi pháp luật nhằm tháo gỡ cùng doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
II. THỰC TRẠNG RÀO CẢN PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP
-
Khái quát một số chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động khởi nghiệp
-
Chủ trương, đường lối về khởi nghiệp
Kể từ khi đổi mới (tháng 12/1986) đến nay, quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán, ngày càng được hoàn thiện; đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy sự phát triển của khu vực này. Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân nói riêng, về khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp (thành tố của kinh tế tư nhân) có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đất nước. Các quan điểm này được thể hiện tập trung trong các cương lĩnh xây dựng đất nước, văn kiện đại hội Đảng, nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Điều rất đáng chú ý là, Đảng ta chủ trương khuyến khích, phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở “hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế”, hỗ trợ phát triển “doanh nghiệp khởi nghiệp”, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân “đa sở hữu”. Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển với quy mô ngày càng lớn, từng bước hình thành những đơn vị kinh tế tư nhân mạnh, đủ sức cạnh tranh trong và ngoài nước. Những chủ trương nêu trên của Đảng hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện nay và cần được từng cấp, từng ngành, từng địa phương nhận thức một cách đầy đủ. Đảng đã nhận thức sâu sắc rằng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển cũng chính là tạo điều kiện để giải phóng các nguồn lực phát triển trong xã hội, để nền kinh tế thị trường phát huy tối đa các tiềm năng to lớn của nó. Điều này là nguồn cổ vũ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới và sáng tạo, tạo sức sống và đột phá phát triển mạnh mẽ đất nước ta trong giai đoạn mới.
-
Một số quy định hiện hành về khởi nghiệp
Năm 2016, được chọn làm năm quốc gia khởi nghiệp. Kể từ năm 2016 đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, nhóm giải pháp cụ thể để hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo và thành công.
Ngoài những tiến bộ trong các quy định của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư, kinh doanh (pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế...), việc ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 là một bước tiến quan trọng nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp. Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, các doanh nghiệp khởi nghiệp đáp ứng các tiêu chí tại Điều 4 của Luật được hưởng hỗ trợ theo 8 nhóm sau:
- Hỗ trợ tiếp cận tín dụng, quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Hỗ trợ thuế, kế toán;
- Hỗ trợ mặt bằng sản xuất;
- Hỗ trợ công nghệ;
- Hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung;
- Hỗ trợ mở rộng thị trường;
- Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý;
- Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực.
2. Thực trạng về rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp hiện nay
2.1. Thực trạng rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp được nhìn nhận từ góc độ khái quát
Chính sách, pháp luật về khởi nghiệp tại Việt Nam đã được xây dựng, hoàn thiện, từng bước tạo lập hành lang pháp lý thúc đẩy các chủ thể tích cực khởi nghiêp thành công, đồng thời qua đó thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước luôn đồng hành cùng với sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp khởi nghiệp. Tuy nhiên, qua khảo sát cộng đồng doanh nghiệp cho thấy, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức đối với hoạt động khởi nghiệp xuất phát từ chính các quy định hiện hành, cũng như cách thức tổ chức thực thi các quy định đó trong thực tiễn ở nước ta thời gian qua.
- Về hệ thống chính sách, pháp luật hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp. Việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành các văn bản quy phạm pháp luật hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp còn hạn chế về số lượng, chưa bao quát được đầy đủ các vấn đề liên quan, trong khi có không ít quy định vẫn chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn.
-
Về thực thi chính sách, pháp luật hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp: (i) Khó khăn trong thực hiện các thủ tục hành chính; (ii) thiếu thông tin chính thống, khó tiếp cận liên quan đến hỗ trợ về khởi nghiệp; (iii) việc tuân thủ pháp luật về hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp chưa thực sự nghiêm minh, triệt để.
2.2. Thực trạng rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp được nhìn từ một số góc độ cụ thể
2.2.1. Rào cản pháp lý trong đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp
Các vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật cơ bản đã được giải quyết thông qua việc Chính phủ ban hành Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/ NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, qua khảo sát tại 05 tỉnh, thành phố thời gian qua cho thấy, trong đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, các chủ thể khởi nghiệp vẫn còn gặp không ít khó khăn, cần tiếp được nghiên cứu, tháo gỡ, cụ thể như sau:
-
Thiếu thống nhất giữa pháp luật đăng ký doanh nghiệp với pháp luật chuyên ngành dẫn đến hệ quả làm giảm vai trò của giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
- Quy định về áp dụng công nghệ trực tuyến trong đăng ký doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, lúng túng trong triển khai thực hiện.
- Khó khăn khi áp dụng các quy định về hệ thống ngành nghề kinh tế.
- Thực tế cho thấy, các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh vẫn có thể bị “lạm dụng” khi hồ sơ đăng ký kinh doanh có thể bị trả lại với các lý do như: thành phần hồ sơ không đủ, hồ sơ khai không đúng ngành nghề, tên doanh nghiệp chưa phù hợp, dịch tên viết tắt không đúng, do đó người thành lập doanh nghiệp thường phải bỏ ra các chi phí không chính thức để công việc của mình được giải quyết nhanh, thuận lợi hơn.
- Luật Phá sản doanh nghiệp mặc dù đã được thực thi trong một thời gian dài, nhưng hiệu quả thực sự thì vẫn rất hạn chế. Với các thủ tục phức tạp, khó có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện dẫn đến thực tế là nhiều doanh nghiệp “nằm chờ chết”, trong đó có doanh nghiệp khởi nghiệp. Việc khó khăn trong quá trình “rút lui khỏi thị trường” cũng chính là rào cản pháp lý làm “nản lòng” các chủ thể khi tiến hành khởi nghiệp.
-
Rào cản pháp lý trong huy động, tiếp cận nguồn lực về vốn
Rào cản pháp lý trong huy động, tiếp cận nguồn lực về vốn thực sự là thách thức rất lớn đối với hoạt động khởi nghiệp. Đó là các rào cản: (i) từ hoạt động vay vốn tín dụng; (ii) khả năng huy động vốn chủ sở hữu thông qua thị trường chứng khoán; (iii) khả năng tiếp cận các quỹ đầu tư rủi ro; (iv) do pháp luật chưa cho phép doanh nghiệp khởi nghiệp thực hiện hoạt động huy động vốn
-
Rào cản pháp lý về khoa học - kỹ thuật và lao động
Qua khảo sát tại 05 tỉnh, thành phố thời gian qua nhận thấy, trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và lao động của các chủ thể khởi nghiệp gặp phải những khó khăn như: các quy định về kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo lường, chuẩn đo lường, cũng như các quy định về đăng ký, chứng nhận sản phẩm hàng hóa và hoạt động của doanh nghiệp vẫn còn vướng mắc, chi phí cao; thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, chi phí, thời gian cấp phép, cấp bằng sáng chế còn rườm rà; việc đăng ký sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp mới chỉ tập trung vào bản quyền logo, thương hiệu, chưa chú trọng vào việc bảo hộ tài sản trí tuệ khác như: ý tưởng sáng tạo kinh doanh, tài sản vô hình.
-
Rào cản pháp lý về đất đai, đầu tư
Qua khảo sát tại 05 tỉnh, thành phố thời gian qua cho thấy, trong lĩnh vực đất đai, xây dựng và đầu tư liên quan đến hoạt động khởi nghiệp có những khó khăn, vướng mắc do quy đinh của pháp luật đất đai, xây dựng, đầu tư gây cản trở việc triển khai dự án khởi nghiệp quy mô lớn. Ví dụ như: thiếu các quy định cụ thể về tích tụ, tập trung đát đai để phát triển nông nghiệp công nghệ cao (83%); chưa có cơ chế bảo vệ quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định (35%); việc thực thi các quy định pháp luật về thu hồi đất trên thực tế để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn, ví dụ : không đạt được sự đồng thuận của những hộ gia đình, cá nhân là người sử dụng đất (52%);c phân biệt rõ 02 hình thức góp vốn dể hợp tác kinh doanh và góp vốn để trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp dẫn đến quyền lợi của nhà đầu tư không được bảo đảm (44%); pháp luật hiện hành chưa phân biệt cụ thể, rõ ràng trường hợp góp vốn bằng quyền sử dụng đất và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đất đai năm 2013 do đó chưa bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư (57%); doanh nghiêp chưa kịp cập nhật những văn bản, chính sách mới về vấn đề lao động (tuyển dụng, sử dụng người lao động nước ngoài, cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoià làm việc tại Việt Nam... ) (26%).
-
Rào cản pháp lý trong tiếp cận dịch vụ hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp
Bên cạnh kết quả đạt được, việc tiếp cận dịch vụ hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp vẫn còn có những khó khăn, vướng mắc như: về công tác tổ chức, mặc dù đã có cơ sở pháp lý cho công tác hỗ trợ pháp lý, nhưng các đơn vị thực hiện công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung và cho doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng còn manh mún, chưa có tính hệ thống, đội ngũ cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chủ yếu làm việc kiêm nhiệm; về cơ sở vật chất, phương tiện dành cho hoạt động hỗ trợ pháp lý chưa đáp ứng được yêu cầu, chế độ thù lao chưa thực sự khuyến khích và phát huy được tiềm năng của cán bộ trong công tác hỗ trợ pháp lý,…; sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn tại địa phương, các bộ, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp còn hạn chế nên các chương trình hỗ trợ pháp lý còn dàn trải, chưa thống nhất, thiếu tính đồng bộ; kinh phí của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp dành cho công tác hỗ trợ pháp luật cho doanh nghiệp thực sự chưa có; bản thân các doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp đôi khi chưa nhận thức được đúng tầm quan trọng, vai trò của công tác pháp lý trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp mình nên sự quan tâm đầu tư cho công tác pháp lý, kể cả việc tham gia vào các hoạt động hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp mình còn hạn chế; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, với số lượng lớn, lại liên tục sửa đổi, bổ sung nên việc phổ biến đến tất cả các đối tượng cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục trong khi đội ngũ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp còn nhiều hạn chế về thời gian, chuyên môn và kinh nghiệp.
-
Rào cản pháp lý trong tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp
Các tranh chấp thường gặp trong giai đoạn triển khai mô hình kinh doanh: Đăng ký kinh doanh và việc ghi nhận sự đóng góp/vai trò của những người cùng triển khai Dự án; các vấn đề pháp lý cần quan tâm khi đăng ký kinh doanh... Tuy nhiên, khi tiếp cận với từng loại tranh chấp, các chủ thể khởi nghiệp gặp không ít khó khăn, vướng mắc như sau: tranh chấp về ý tưởng kinh doanh; tranh chấp giữa những người cùng triển khai dự án khởi nghiệp; tranh chấp khi va chạm vào các điểm mờ pháp lý; đăng ký kinh doanh và tranh chấp trong việc ghi nhận sự đóng góp/vai trò của những người cùng triển khai Dự án.
-
Rào cản pháp lý trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Khởi nghiệp luôn gắn với sáng tạo, với sản phẩm trí tuệ nhằm tạo sự vượt trội cho hàng hóa, dịch vụ. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng các biện pháp dân sự, hình sự và hành chính. Trên thực tế, việc thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa thật sự hiệu quả. Hầu như chỉ có biện pháp hành chính là được áp dụng chủ yếu.Tuy nhiên, hiệu quả các biện pháp hành chính cũng tương đối hạn chế do có nhiều lực lượng tham gia như hải quan, thanh tra chuyên ngành, quản lý thị trường và công an kinh tế, nhưng không xác định rõ ràng cơ quan nào làm đầu mối và chưa có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan với nhau. Trong khi đó, biện pháp dân sự theo yêu cầu của các bên liên quan còn hạn chế. Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta trên thực tế những năm qua được coi là một trong những khâu yếu.
-
Rào cản pháp lý trong thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
Có thể thấy, chỉ đạo của Chính phủ về việc chỉ thanh kiểm tra doanh nghiệp tối đa một lần một năm (trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm rõ ràng) và không được thanh kiểm tra trùng lặp, bước đầu đã được nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc thanh tra, kiểm tra cũng gây ra khó khăn, vướng mắc cho chính doanh nghiệp khởi nghiệp, cụ thể là: sự phối hợp giữa các cơ quan có chức năng chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo trong hoạt động quản lý nhà nước về thanh tra, kiểm tra khiến các doanh nghiệp bị kiểm tra quá nhiều lần trong một năm; vẫn còn tồn tại tình trạng lạm dụng hoạt động kiểm tra, thanh tra để sách nhiễu, gây phiền hà đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng.
III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC RÀO CẢN PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KHỞI NGHIỆP
1. Phương hướng khắc phục rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt sâu sắc, toàn diện nội dung các nghị quyết của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để hỗ trợ phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo[6].
Thứ hai, cụ thể hóa chủ trương của Đảng, đẩy nhanh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để hỗ trợ, khuyến khích phong trào khởi nghiệp.
Thứ ba, triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là những văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động khởi nghiệp.
Thứ tư, nâng cao nhận thức của chủ thể khởi nghiệp về những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động khởi nghiệp, sản xuất, kinh doanh.
-
Các giải pháp khắc phục rào cản pháp lý đối với hoạt động khởi nghiệp[7]
2.1. Về đăng ký kinh doanh, thành lập doanh nghiệp và phá sản
Để hoàn thiện hơn nữa về khung khổ pháp lý cũng như thúc đẩy quá trình thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, cần phải tính đến một số nội dung như sau:
Thứ nhất, cần nghiên cứu, sửa đổi quy định về việc ghi ngành, nghề kinh doanh theo hướng cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ nên là người ghi lại những ngành, nghề đăng ký kinh doanh được thiết kế theo nguyên tắc mở để có thể thiết kế thêm những ngành nghề mới theo sáng tạo của nhà đầu tư hoặc trong quá trình phát triển của nền kinh tế và theo nhu cầu của xã hội. Việc ghi ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp chỉ nhằm để phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước, mang ý nghĩa thống kê, chứ không nên xác định đó là một điều kiện để doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Thứ hai, cần quán triệt và có sự phân định rõ ràng giữa hoạt động cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trong một số lĩnh vực kinh doanh có điều kiện để xóa bỏ sự chồng chéo, chưa thống nhất giữa pháp luật về đăng ký kinh doanh với pháp luật chuyên ngành. Chủ thể cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chủ thể cấp phép đủ điều kiện kinh doanh phải được phân định rõ ràng, không được chồng lấn. Nhiệm vụ chủ yếu của các bộ chuyên ngành này chỉ nên dừng lại ở việc cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp, còn quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là của cơ quan đăng ký kinh doanh, phục vụ lợi ích chung cho nhà đầu tư.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về phá sản doanh nghiệp là một giải pháp giúp doanh nghiệp khởi nghiệp nhanh chóng “thoát” khỏi các hệ lụy kéo dài để lại bắt đầu một dự án khởi nghiệp mới, với môi trường cạnh tranh và kinh nghiệm hoạt động tốt hơn.
2.2. Về tiếp cận nguồn lực về vốn
Trên cơ sở những tồn tại và rào cản nêu trên đối với việc huy động, tiếp cận nguồn lực về vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp, có thể nhận thấy một trong những yêu cầu trước mắt là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ tài chính. Một số giải pháp, kiến nghị được đưa ra để cân nhắc, nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, bao gồm:
-
Hoàn thiện thể chế, chính sách có liên quan:
-
Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý quy định việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia hỗ trợ tài chính và khả năng rút vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, từ đó khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng.
-
Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp lý về hoạt động của các quỹ đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm (do hiện nay mới chỉ có Nghị định số 38/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo) để mở rộng thêm các cơ hội tìm kiếm, huy động và tiếp cận nguồn lực về vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Bên cạnh đó, do Nghị định số 38/2018/NĐ-CP mới được ban hành, nên hiện nay các cơ quan nhà nước mới bắt đầu triển khai, tập huấn đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, cần đẩy mạnh việc triển khai thiết thực, hiệu quả Nghị định này trong thời gian tới và có những đánh giá, tổng kết để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý có liên quan.
-
Xây dựng và hoàn thiện các quy định về điều kiện cấp tín dụng của Việt Nam với sự cân nhắc, xem xét đến điều kiện ưu đãi hơn cho doanh nghiệp khởi nghiệp (như quy định về đánh giá năng lực tài chính, yêu cầu tài sản đảm bảo, phương án kinh doanh rõ ràng, thông tin tài chính.) tạo độ linh hoạt và mở khi tiếp cận các nguồn lực về vốn của các doanh nghiệp khởi nghiệp. Ý tưởng xây dựng một thị trường chứng khoán chuyên dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp theo mô hình KONEX (Hàn Quốc) là ý tưởng hữu hiệu giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tiếp cận được các nguồn vốn với những tiêu chuẩn ở mức thấp hơn, tách bạch với niêm yết, thị trường linh hoạt hơn, có lợi cho cả doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà đầu tư.
-
Xây dựng các cơ chế, chính sách, quy định pháp lý về bảo lãnh tín dụng, vay tín dụng riêng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và các nhà đầu tư khởi nghiệp.
-
Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận nguồn lực về vốn:
-
Nghiên cứu phát triển thêm các kênh huy động vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp, chú trọng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán với mô hình thị trường chứng khoán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó bao gồm cả doanh nghiệp khởi nghiệp.
-
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận các nguồn lực về vốn thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ đầu tư khởi nghiệp; thúc đẩy các hoạt động đầu tư, gọi vốn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo.
-
Quan tâm đầu tư cho quỹ hỗ trợ khởi nghiệp quốc gia; đồng thời xây dựng quy chế quản lý, sử dụng quỹ hiệu quả để các ý tưởng khởi nghiệp có điều kiện ứng dụng vào thực tiễn;
-
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đăng ký vốn tại các quỹ đầu tư khởi nghiệp, nhà đầu tư thiên thần; có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục đăng ký kêu gọi vốn tại các quỹ; giảm gánh nặng tài chính, miễn thuế trong giai đoạn khởi nghiệp; cung cấp các dịch vụ liên quan đến thủ tục đăng ký vay vốn; cấp cấp phần mềm kế toán.
-
Thúc đẩy sự phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp thông qua: (i) Triển khai đề án tổ chức giao dịch trái phiếu doanh nghiệp. Theo đó, cần hoàn thiện phương án tổ chức thị trường trái phiếu doanh nghiệp sớm đưa thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp vào hoạt động; (ii) Rà soát lại điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ theo nguyên tắc gắn với công bố thông tin công khai và thực hiện đăng ký, lưu ký tập trung; (iii) Khuyến khích các công ty đưa trái phiếu lên niêm yết; (iv) Xây dựng cổng thông tin trái phiếu doanh nghiệp.
2.3. Về khoa học - kỹ thuật và lao động
Thứ nhất, tăng cường kết nối, thúc đẩy, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp dễ dàng tiếp cận với thành tựu khoa học - kỹ thuật trong khu vực và trên thế giới.
Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
2.4. Về vấn đề đất đai và đầu tư
Thứ nhất, về tích tụ đất đai. Để bảo đảm thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu tất yếu khách quan của phát triển kinh tế - xã hội cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển thì cần có những nghiên cứu tổng thể và liên ngành pháp lý, kinh tế, xã hội về tích tụ, tập trung đất đai; qua đó, góp phần điều hòa quyền lợi của nhà đầu tư, người có quyền sử dụng đất và Nhà nước - chủ thể đại diện chủ sở hữu đất đai.
Thứ hai, về tiếp cận thông tin đất đai và nguồn lực đất đai. Luật Đất đai và pháp luật có liên quan cần có cơ chế pháp lý hiệu quả, khả thi về xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia (bao gồm hướng tới mục tiêu số hóa cơ sở dữ liệu quốc gia) về thông tin đất đai, nhất là thông tin về quy hoạch, biến động quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và cổng thông tin các thủ tục hành chính về đất đai; qua đó, tạo cơ chế pháp lý hiệu quả, thuận lợi, minh bạch về tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp, rút ngắn thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, bổ sung nguồn thu đáng kể, ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thứ ba, về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cần nghiên cứu, bổ sung cơ chế pháp lý đầy đủ để tách bạch giữa hiệu lực của giao dịch chuyển quyền sử dụng đất - thời điểm công chứng, chứng thực (làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa hai bên trong giao dịch) với hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất - thời điểm đăng ký xác lập quyền, biến động quyền sử dụng đất (bên nhận chuyển quyền được xác lập quyền đối với quyền sử dụng đất của bên chuyển quyền).
Thứ tư, về thu hồi đất. Cần nghiên cứu bổ sung quy định các trường hợp thu hồi đất như thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt nhằm tạo quỹ đất sạch, kịp thời đưa vào khai thác, sử dụng khi có dự án triển khai; thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư đã được phê duyệt và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất; thu hồi đất để thực hiện dự án nhà ở, dự án có vốn đầu tư nước ngoài, dự án phát triển nông nghiệp tập trung, nông nghiệp công nghệ cao... nhằm phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Thứ năm, về việc xác lập quyền đối với tài sản của người dân, doanh nghiệp khi thực hiện dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh trên quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức khác. Cần bổ sung trong Luật Đất đai định nghĩa về “tài sản gắn liền với đất" và các quy định cụ thể hóa về quyền của người sử dụng đất, chủ thể có quyền khác đối với tài sản liên quan đến quyền bề mặt, quyền hưởng dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự như đã phân tích tại mục trên để đảm bảo các cá nhân khởi nghiệp có thể thực hiện các quyền này.
Thứ sáu, về các vấn đề pháp lý liên quan đến condotel, officetel, hometel. Để bảo đảm hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch cho các hoạt động khởi nghiệp liên quan đến các dự án condotel, officetel, tránh phát sinh tình trạng biến tướng thành một hình thức huy động vốn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật chứng khoán, pháp luật ngân hàng; gây thiệt hại cho người mua/góp vốn, cần quy định cụ thể về chế độ sử dụng (giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất) đối với các loại đất này và cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất và sở hữu đối với loại hình công trình căn hộ du lịch (condotel), biệt thự du lịch (resort villa), văn phòng kết hợp lưu trú (officetel) trong Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan.
Thứ bảy, tháo gỡ các rào cản pháp lý trong lĩnh vực đầu tư. Cần bổ sung trong Luật Đầu tư các quy định cụ thể, rõ ràng hơn nữa về hình thức đầu tư, thủ tục thành lập tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thủ tục góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài và thủ tục triển khai dự án đầu tư. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, cắt giảm một số ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện không cần thiết, thiếu tính khả thi nhằm xóa bỏ rào cản gia nhập thị trường, giảm chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.
2.5. Về tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động khởi nghiệp
Thứ nhất, các giải pháp từ phía Nhà nước.
Liên quan đến thể chế, các quy định pháp luật về tiếp cận thông tin nói chung đã có. Tuy nhiên, trong thời gian tới, các cơ quan nhà nước cần chú ý khi ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động khởi nghiệp thì cần thúc đẩy hơn nữa việc mở rộng thông tin được tiếp cận cho các chủ thể khởi nghiệp; tạo điều kiện cho các chủ thể khởi nghiệp tiếp cận thông tin nhiều nhất, thuận lợi và nhanh chóng nhất; lồng ghép các quy định về thông tin vào các kế hoạch ưu đãi dành cho doanh nghiệp.
Các giải pháp về mặt tổ chức thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin đóng vai trò cốt lõi nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các chủ thể khởi nghiệp.
Thứ hai, các giải pháp từ phía chủ thể khởi nghiệp.
Trong quá trình hình thành và tồn tại của mình, các chủ thể khởi nghiệp cần chủ động tiếp cận các nguồn thông tin từ nhiều kênh và nguồn khác nhau, như từ phía Nhà nước, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư, diễn đàn hợp tác để có cơ hội tiếp cận các thông tin, nhất là những thông tin liên quan đến đối tác, nhu cầu thị trường; chủ động nắm bắt thông tin sớm, kịp thời để đưa ra định hướng, chiến lược kinh doanh phù hợp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp khởi nghiệp nên có cán bộ chuyên phụ trách việc cập nhật thông tin, pháp luật, cơ chế, chính sách hoặc nhờ tư vấn hỗ trợ thông tin.
-
Về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Để nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quyền sở hữu trí tuệ, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, trước hết cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho các chủ thể khởi nghiệp trong việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ của mình.
Thứ hai, nâng cao năng lực chuyên môn về sở hữu trí tuệ và năng lực thực thi công vụ cho các cơ quan, lực lượng chức năng.
-
Về hạn chế tranh chấp phát sinh
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra những kiến nghị về những vấn đề sau:
Thứ nhất, đối với nhóm tranh chấp do không am hiểu pháp luật.
Thứ hai, đối với nhóm tranh chấp, rủi ro do pháp luật chưa điều chỉnh cụ thể.
Thứ ba, đối với nhóm tranh chấp do có những điểm mờ pháp lý.
-
Về tiếp cận dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp
Thứ nhất, chuyên trách hóa nhân sự thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và các chủ thể khởi nghiệp nói riêng tại Việt Nam.
Thứ hai, hoàn thiện mô hình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và các chủ thể khởi nghiệp nói riêng tại Việt Nam.
Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương, các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong quá trình tổ chức các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và các chủ thể khởi nghiệp nói riêng tại Việt Nam.
Thứ tư, tiếp tục nâng cao quá trình thực thi pháp luật về hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và các chủ thể khởi nghiệp nói riêng tại Việt Nam.
2.9. Về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật
Về phía các doanh nghiệp: Trong quan hệ pháp luật về kiểm tra, thanh tra, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp khởi nghiệp nói riêng là chủ thể, đối tượng bị (được) tiến hành hoạt động kiểm tra, thanh tra. Do vậy, để nâng cao chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra và hạn chế việc có thể bị xử lý vi phạm pháp luật (nếu có), các doanh nghiệp cần quan tâm hơn nữa đến việc trang bị kiến thức pháp lý trong hoạt động kinh doanh của mình. Giải pháp cụ thể đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp là: Cần chủ động tìm hiểu pháp luật, coi trọng vai trò của pháp luật ngay cả khi chưa xảy ra rủi ro; Bổ sung, kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế doanh nghiệp; Chú trọng nghiên cứu, khai thác nhiều kênh thông tin nhằm cập nhật những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp... Khi trang bị và nắm vững kiến thức pháp lý trong tay, doanh nghiệp sẽ hoạt động theo đúng quy định pháp luật[8].
Về phía các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật: Về xây dựng Kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm, cần quán triệt tinh thần không được để xảy ra tình trạng thanh tra, kiểm tra quá 01 lần/năm đối với doanh nghiệp. Chỉ đạo tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra theo đúng định hướng, kế hoạch đã phê duyệt. Nội dung thanh tra, kiểm tra phải giới hạn trong phạm vi quản lý nhà nước được giao. Chủ động kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch thanh tra khi cần thiết theo hướng không làm tăng số cuộc thanh tra. Ban hành kết luận thanh tra phải đúng thời hạn theo quy định. Kết luận thanh tra, kiểm tra phải xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm. Người ra quyết định thanh tra, kiểm tra, trưởng đoàn thanh tra, kiểm tra, công chức thanh tra chuyên ngành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kết luận, làm rõ nguyên nhân, mức độ vi phạm và việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức có liên quan theo các dấu hiệu đã xác định là căn cứ để quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất. Không mở rộng phạm vi thanh tra, kiểm tra vượt quá nội dung của quyết định thanh tra, kiểm tra đột xuất[9].
Áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro: Theo đó, hoạt động thanh, kiểm tra sẽ không tiến hành tràn lan với tất cả các doanh nghiệp nữa, mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực có nhiều rủi ro, những doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm tương đối rõ ràng. Ví dụ, một doanh nghiệp nhỏ, có ít lao động với một văn phòng diện tích vài chục mét vuông và hoá đơn tính tiền điện, nước rất ít, thường xuyên thay đổi trụ sở, thay đổi người đại diện... nhưng doanh thu tăng đột biến, hoá đơn giá trị gia tăng dùng hết nhiều quyển trong thời gian ngắn thì cần kịp thời thanh tra, kiểm tra, xử lý thật nghiêm, công bố công khai mánh khoé lừa đảo, trục lợi. Để áp dụng nguyên tắc này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chia thành các cấp độ rủi ro khác nhau để từ đó có các cách “đối xử” khác nhau đối với các doanh nghiệp sau khi đã được phân loại. Ví dụ trong lĩnh vực kiểm dịch, nên phân thành 3 loại tương ứng 3 mức độ nguy cơ gồm: nguy cơ cao sẽ kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu kiểm tra từng lô hàng; nguy cơ trung bình sẽ kiểm tra hồ sơ, lấy mẫu kiểm tra ngẫu nhiên và theo tần suất; nguy cơ thấp chỉ kiểm tra hồ sơ. Cứ như vây, căn cứ vào mức độ rủi ro để áp dụng phương thức, phạm vi, mức độ, địa điểm kiểm dịch khác nhau.
[4] Bộ Khoa học: Lập nghiệp không đồng nghĩa với khởi nghiệp, VnExpress, ngày 5/4/2017.
9
[6] Ví dụ: Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII.
[7] Theo kết quả khảo sát tại các tỉnh, thành phố có nhiều giải pháp được đưa ra để đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp như:
-
Xây dựng các chính sách đặc thù cho doanh nghiệp khởi nghiệp thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địa phương (64%);
-
Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh bằng cách tiếp tục triển khai hiệu quả Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014. Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017, trong đó triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong thời gian tới
(58%);
-
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vay vốn tín dụng, hạn chế những giấy phép con trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện... (68%);
-
Nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý, thanh tra, kiểm tra và trả lời phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, người dân (38%);
-
Tăng cường công tác thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ tài sản của doanh nghiệp đặc biệt là ý tưởng kinh doanh, tài sản vô hình khác. (42%);
-
Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (28%);
[9] Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp.