Trong xu hướng đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục đại học, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo ngành luật nói riêng của cả trong nước và quốc tế, các cơ sở giáo dục đại học nói chung và các cơ sở đào luật nói riêng đứng trước đòi hỏi cấp thiết phải thay đổi, đặc biệt phải đổi mới quản trị đại học để nâng cao hiệu quả hoạt động và thực hiện tự chủ đại học. Đòi hỏi này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng hiện nay về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, đổi mới tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/01/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Thứ hai, đáp ứng yêu cầu thực hiện quy định pháp luật mới ban hành trong lĩnh vực giáo dục đại học là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học (Luật giáo dục đại học sửa đổi) và Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục đại học sửa đổi, trong đó có nhiều quy định mới về quản trị đại học trong điều kiện tự chủ đại học.
Thứ ba, đáp ứng yêu cầu thực hiện tốt hơn sứ mệnh của các trường đại học nói chung và đại học luật nói riêng trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng trong bối cảnh hiện nay.
Thứ tư, Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh được Nhà nước giao cùng thực hiện Đề án xây dựng thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật theo Quyết định số 549/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ để đạt được mục tiêu đặt ra trong Đề án.
Chính vì vậy, để sớm trở thành hai trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật, hướng tới vươn ra khu vực và thế giới, đổi mới quản trị đại học ở hai cơ sở giáo dục đại học này là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Nghiên cứu thực trạng quản trị đại học ở hai trường với những tương đồng và khác biệt cũng sẽ giúp tìm ra mô hình quản trị đại học luật phù hợp trong điều kiện của Việt Nam, hướng tới tự chủ đại học hoàn toàn theo xu hướng thế giới.
Đề tài được triển khai với mục tiêu tổng quát đó là: Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc đổi mới mô hình quản trị đại học luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện tự chủ đại học hiện nay.
Mục tiêu cụ thể của đề tài: Tổng kết những vấn đề lý luận về mô hình quản trị đại học làm cơ sở để xác định những mô hình quản trị đại học luật hiệu quả; Đánh giá đúng thực trạng mô hình quản trị đại học luật hiện nay trước yêu cầu của trường trọng điểm trong đào tạo cán bộ pháp luật của Việt Nam, của tự chủ đại học, trong đó chỉ rõ ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của chúng; Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quản trị đại học và mô hình quản trị đại học luật của các quốc gia đại diện điển hình của châu Mỹ, châu Âu, Châu Á phù hợp với điều kiện của Việt Nam; Xác định được các định hướng và đề xuất được các cụ thể giải pháp đổi mới mô hình quản trị đại học luật đáp ứng tốt yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện tự chủ đại học.
Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung sau:
1. Nghiên cứu lý luận về quản trị đại học nói chung, quản trị đại học luật nói riêng gồm: khái niệm, đặc điểm, các yếu tố tác động, vai trò của quản trị đại học, bộ máy quản trị đại học và các chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ với các bên liên quan, nội dung và phương thức quản trị đại học, đặc thù và yêu cầu đặt ra đối với quản trị đại học luật.
2. Nghiên cứu mô hình quản trị đại học và đặc thù quản trị luật ở các quốc gia: Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Nhật Bản, Liên Bang Nga, Trung Quốc.
3. Đánh giá thực trạng mô hình quản trị đại học luật hiện nay ở Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
4. Định hướng và giải pháp đổi mới quản trị đại học luật.
SAU ĐÂY LÀ TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Chương 1
LÝ LUẬN QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC VÀ ĐẶC THÙ QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC LUẬT
-
Quản trị đại học
Sau khi phân tích nhiều quan điểm khác nhau, nhóm nghiên cứu cho rằng quản trị đại học được hiểu là thiết chế và quy trình ra quyết định ở cấp chiến lược của cơ sở giáo dục đại học, bao gồm thể chế, chính sách, mục tiêu, chiến lược, các chuẩn mực và giá trị nhằm tạo ra khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động cụ thể của nhà trường trong việc thực hiện sứ mệnh và mục tiêu của mình. Nhóm nghiên cứu cũng phân tích cụ thể các đặc điểm, vai trò, các yếu tố tác động đến quản trị đại học.
-
Bộ máy quản trị đại học
Bộ máy quản trị đại học là hệ thống các cơ quan trong cơ sở giáo dục đại học thực hiện chức năng quản trị đại học, trong đó hạt nhân cơ bản là Hội đồng trường (hội đồng đại học). Trong bộ máy quản trị đại học, Hội đồng trường là cơ quan quản trị chuyên trách, trong khi đó các cơ quan bên dưới thực hiện kiêm nhiệm nhiệm vụ quản trị (và cả quản lý, cả chuyên môn...). Do vậy, trong phạm vi Đề tài này, để có sự phân tách rạch ròi giữa bộ máy quản trị, bộ máy quản lý và các đơn vị cấu thành trong cơ sở giáo dục đại học, Đề tài chỉ tập trung vào Hội đồng trường khi nghiên cứu về bộ máy quản trị đại học, hay nói cách khác, bộ máy quản trị đại học trong phạm vi Đề tài này được hiểu chính là Hội đồng trường. Dù ở nước nào và theo mô hình nào thì Hội đồng trường đều mang đặc trưng của một hội đồng quản trị có thẩm quyền cao nhất trong một trường đại học, đại diện cho chủ sở hữu của nhà trường, các nhóm lợi ích có liên quan. Đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam thì Hội đồng trường chính là đại diện cho chủ sở hữu Nhà nước, mà Nhà nước là của toàn dân nên Hội đồng trường có đại diện cho toàn dân, trong đó trực tiếp là những người có liên quan, bao gồm đại diện của đảng, nhà nước, chính quyền, công đoàn, giáo viên, cựu sinh viên, nhà tuyển dụng, nhà khoa học hay doanh nhân...
Trong phần này, nhóm nghiên cứu còn phân tích chức năng, nhiệm vụ, vai trò, cơ cấu của bộ máy quản trị đại học, tiêu chuẩn và thủ tục bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh chủ tịch Hội đồng trường và các chức danh khác trong bộ máy quản trị đại học.
-
Nội dung và phương thức quản trị đại học:
3.1. Nội dung quản trị đại học
Các quan điểm phân tích nội dung của quản trị đại học khá đa dạng. Nếu xem xét ở góc độ công việc thực hiện, nội dung quản trị đại học gắn với chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản trị đại học, bao gồm: Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển, Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động, các quy chế quan trọng khác, Quyết định tổ chức bộ máy và nhân sự, Thu hút nguồn tài chính và quyết định các vấn đề quan trọng về tài chính, tài sản, Quyết định chủ trương liên kết đào tạo và phát triển chuyên môn khác, Thiết lập và duy trì mối quan hệ với các bên có liên quan. Còn nếu xem xét nội dung quản trị đại học căn cứ vào từng hoạt động của quản trị đại học thì bao gồm: Quản trị hệ thống, Quản trị hoạt động, Quản trị tài chính, tài sản, Quản trị nhân sự, Quản trị hoạt động đào tạo, Quản trị nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
3.2. Phương thức quản trị đại học
Phương thức quản trị đại học là cách thức và phương pháp quản lý, điều hành, kiểm soát một trường đại học. Căn cứ vào mức độ thực hiện tự chủ, phương thức quản trị đại học có thể chia thành 04 nhóm: (i) phương thức quản trị mang tính hành chính do nhà nước quản lý và kiểm soát hoàn toàn, (ii) phương thức quản trị bán tự chủ do nhà nước quản lý và kiểm soát một phần, (iii) phương thức quản trị tự chủ, trong đó nhà nước không quản lý, kiểm soát mà chỉ giám sát, (iv) phương thức quản trị tiên tiến là phương thức quản trị tự chủ gắn với tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức. Phương thức quản trị đại học, phụ thuộc vào mô hình quản trị cơ sở giáo dục đại học mà có những phương thức khác nhau. Tuy nhiên, cũng phải đảm bảo được những nguyên tắc nhất định để đảm bảo được sứ mệnh của giáo dục đại học.
4.Những đặc thù quản trị đại học luật
Cơ sở giáo dục đại học luật ở Việt Nam hiện nay gồm 2 nhóm chính: công lập và tư thục, duy trì cả mô hình đại học đơn ngành và đại học đa ngành, quy mô khác nhau. Tuy nhiên, các trường đại học công lập vẫn chiếm ưu thế gần như tuyệt đối.
-
Đặc thù trong quản trị đại học ở tầm vĩ mô
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: Cơ cấu thành viên của Hội đồng trường - cơ quan trực tiếp quản trị cơ sở giáo dục đại học thường có những thành viên được giới thiệu bởi cơ quan quản lý nhà nước. Đối với các trường đại học luật, do là trường đơn ngành (về bản chất) nên lực lượng ngoài trường tham gia Hội đồng trường chủ yếu là những người hành nghề luật với nguồn tài chính và khả năng liên kết hoạt động có những hạn chế nhất định trong phạm vi ngành luật. Ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam, một số lượng đáng kể các nhà hoạt động chính trị, các chính khách đều được đào tạo luật nên càng phải chú ý đến đặc thù này, không được đi chệch hướng, không được đánh đổi vì bất cứ lợi ích kinh tế nào, đảm bảo hài hòa giữa giáo dục tư tưởng, chính trị với tinh thần sáng tạo và tự do học thuật. Bên cạnh đó, do đặc thù nghề luật nên yếu tố đạo đức nghề nghiệp cũng cần đề cao.
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục: thường là đại học đa ngành, trong đó có đào tạo luật; cơ cấu gọn nhẹ, chủ sở hữu có khả năng tác động nhanh chóng, vai trò của tổ chức Đảng, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng thường chỉ thực hiện ở mức tối thiểu.
-
Đặc thù trong quản trị tài chính
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: quy định về quản lý tài chính và chi tiêu tài chính đều khá nặng nề và yếu tố tuân thủ được đặc biệt đề cao, nhất là trong các trường đại học luật không khuyến khích sự năng động, mất cân đối về nguồn lực tài chính, tài sản cho nghiên cứu khoa học, cho đội ngũ giảng viên; thường có những tổ chức, đơn vị hoạt động với chi phí cao nhưng mang lại nguồn thu hạn chế như: Tạp chí khoa học, Bản tin khoa học, các trung tâm thực hành luật, Trung tâm Tư vấn pháp luật là những ví dụ cụ thể. Nhiệm vụ của các tổ chức, đơn vị này không có mục tiêu tìm kiếm nguồn thu mà hướng tới mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng, tạo danh tiếng cho cơ sở giáo dục đại học đó.
Bên cạnh đó, quản trị tài chính thường gắn với cơ chế kiểm soát từ bên ngoài, chưa quan tâm đến yêu cầu kiểm toán độc lập hoạt động tài chính.
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục: có tính tự do, tự quyết cao. Nguyên tắc quản trị tài chính của đại học tư thục thường thực hiện trên cơ sở quản trị tài chính doanh nghiệp. Hội đồng quản trị cũng như chủ sở hữu có thể quyết định những vấn đề tài chính theo trình tự thủ tục khác với đại học công lập.
-
Đặc thù trong quản trị nhân sự
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: cào bằng đối với giảng viên có cấp độ khác nhau, giữa giáo sư với cán bộ quản lý hành chính. Nhân sự tuyển dụng chủ yếu thuộc ngành luật, nên khó mở thêm ngành mới, xây dựng các chương trình liên thông, liên ngành. Là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp nên trong công tác tổ chức cán bộ, quản trị nhân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội phải tuân thủ các quy định của Bộ Tư pháp (ví dụ điều kiện, thủ tục, quy trình bổ nhiệm cán bộ, chỉ tiêu tuyển dụng), được coi là một đơn vị cấp Vụ của Bộ.
-
Đối với cơ sở GDDH tư thục: có chiến lược và quy định về nhân sự, cơ cấu nhân sự phục vụ cho đào tạo luật mang tính tự do, tự chủ cao.
-
Đặc thù trong quản trị hoạt động đào tạo
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học công lập: gặp những cản trở nhất định do chính cơ chế quản lý tài chính công của đại học công lập, sự chưa rõ nét của tính chịu trách nhiệm cá nhân trong Hội đồng trường chi phối. Đối với các cơ sở đại học đơn ngành, xu hướng đơn điệu trong ngành đào tạo như các trường đại học luật, việc đổi mới, ban hành mã ngành đào tạo mới thuộc lĩnh vực pháp luật có trình tự thủ tục phức tạp; tính chịu trách nhiệm của cá nhân trong việc mở hay chỉnh sửa/yêu cầu chỉnh sửa chương trình đào tạo chưa cao.
-
Đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục: tính tự chủ cao, việc ban hành và quản trị chương trình đào tạo được thực hiện nhanh chóng, theo đúng mục tiêu, tôn chỉ của nhà trường.
-
Xác định mô hình quản trị đại học luật
Quản trị đại học luật không có một mô hình riêng, độc lập với mô hình quản trị đại học, mà thực chất chỉ là những khía cạnh đặc thù của quản trị đại học gắn liền với đào tạo luật. Qua phân tích những đặc thù này, nhóm nghiên cứu cho rằng, việc không có một mô hình quản trị đại học riêng cho đào tạo luật là phù hợp. Vấn đề ở chỗ cần lồng ghép những đặc thù của đào tạo luật trong tổng thể mô hình quản trị đại học sao cho phát huy được những điểm mạnh, giảm bớt những điểm hạn chế để nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở đào tạo luật, phù hợp với điều kiện tự chủ đại học hiện nay. Đây là hai yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với các cơ sở giáo dục đại học: Yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động trong quản trị đại học luật; Yêu cầu thực hiện tự chủ đại học trong quản trị đại học luật.
Tự chủ đại học là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình đổi mới toàn diện giáo dục đại học, thể hiện ở các khía cạnh: tự chủ về chuyên môn và học thuật, tự chủ về tổ chức - nhân sự, tự chủ về tài chính - tài sản. Nhà nước chủ trương xã hội hóa giáo dục đại học, phân bổ ngân sách và nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả, đẩy mạnh thực hiện tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học gắn với trách nhiệm giải trình. Vì thế các cơ sở giáo dục đại học phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu xã hội và thực hiện cơ chế tự chủ đại học. Quản trị đại học luật tốt sẽ tạo nền tảng cho việc thực hiện tự chủ, khi thực hiện tự chủ thì sẽ có điều kiện, được chủ động để quản trị tốt hơn. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố này.
Như vậy, mô hình quản trị đại học luật sẽ được xem xét, đánh giá dựa trên các yếu tố sau: (i) Bộ máy quản trị đại học luật, các chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ với các bên liên quan; (ii) Nội dung quản trị đại học luật; (iii) Phương thức quản trị đại học luật.
Chương 2
MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI
-
Khái quát về pháp luật giáo dục đại học của các nước nghiên cứu
Qua nghiên cứu cho thấy, các quy định pháp luật về quản trị đại học của nước ngoài khá đa dạng về nội dung, hình thức thể hiện. Để lựa chọn được những kinh nghiệm nước ngoài phù hợp, có thể vận dụng có hiệu quả trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam thì các nước được lựa chọn nghiên cứu phải bảo đảm được tính đại diện, sự đa dạng, làm cơ sở cho việc lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Do đó, kinh nghiệm của các nước được lựa chọn để nghiên cứu về pháp luật quản trị đại học gồm các nhóm sau: (i) nhóm các nước có nền giáo dục đại học tiên tiến hàng đầu trên thế giới, với đại diện cho các châu lục là: Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Nhật Bản; (ii) nhóm các nước có triết lý giáo dục đại học có nhiều điểm tương đồng với giáo dục đại học ở Việt Nam, do đều là những nước có nền kinh tế chuyển đổi, với đại diện là Trung Quốc, Liên Bang Nga.
-
Mô hình quản trị đại học ở các nước nghiên cứu
Sau khi phân tích, nghiên cứu, nhóm nghiên cứu cho rằng, bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học tập từ mô hình quản trị đại học ở các nước trên thế giới đó là:
-
Một là, quản lý nhà nước nên chuyển từ kiểm soát trực tiếp sang kiến tạo, giám sát; đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, trách nhiệm giải trình và đổi mới quản trị đại học theo hướng hội nhập quốc tế, đặc biệt đối với ngành luật nước ta. Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động chuyên môn, quản lý cụ thể của các trường.
-
Hai là, bộ máy quản trị các trường đại học cần phải tăng cường sự phân hóa về trách nhiệm, chuyên môn hóa về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản trị (học tập kinh nghiệm Hoa Kỳ, Nhật Bản).
3. Bộ máy quản trị đại học ở các nước nghiên cứu
Theo nhóm nghiên cứu, những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học tập đó là:
* Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng trường: xác định Hội đồng trường là cơ quan quản trị quyết định những vấn đề quan trọng nhất của nhà trường và có trách nhiệm giải trình trước Nhà nước và xã hội về kết quả hoạt động của trường. Hội đồng trường không can thiệp vào những việc cụ thể về quản lý - vận hành nhà trường, mà tập trung chủ yếu vào xem xét và phê chuẩn định hướng, chiến lược, kế hoạch phát triển của trường, giám sát các hoạt động quản lý của Hiệu trưởng/Giám đốc theo quy định của luật pháp và theo quy chế của trường, thực hiện nhiệm vụ phát triển hợp tác xã hội và thu hút tài trợ cho ngân sách trường.
* Về cơ cấu bộ máy quản trị của Hội đồng trường: nên học tập kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Nhật Bản về việc ban hành quy định pháp luật về số lượng tối thiểu, thành phần và tiêu chuẩn thành viên Hội đồng trường cho phù hợp với bối cảnh cụ thể của Việt Nam; quy định về nhiệm kỳ phù hợp cho thành viên là sinh viên.
4. Những đặc thù quản trị đại học luật ở các nước nghiên cứu
Một số bài học kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo học tập về quản trị đại học luật ở một số quốc gia như sau:
Một là, trong bối cảnh các trường luật Việt Nam là trường đơn ngành, thì cách để tăng uy tín, nâng cao vị thế thì không còn cách nào khác đó là dựa vào chính bản thân mình. Do đó, các thành viên của cơ quan quản trị đại học luật cần phải tăng cường sự tham gia của các cá nhân, tổ chức có uy tín ở bên ngoài, người hành nghề thực tiễn. Thành viên Hội đồng trường tham gia quản lý tài chính và giám sát tất cả các hoạt động của trường, đồng thời cung cấp những kiến thức quan trọng và thiết yếu mà họ nhận được từ nhiều năm kinh nghiệm công tác trong cả khối tư nhân và nhà nước.
Hai là, cần đẩy mạnh các hoạt động hướng nghiệp và tư vấn việc làm cho sinh viên, học viên trong và sau khi học tập trường, đồng thời tăng cường sự gắn kết của Nhà trường với các tổ chức doanh nghiệp để khai thác nguồn lực một cách hiệu quả (kinh nghiệm của Pháp).
Ba là, xây dựng mạng lưới các cơ sở đào tạo luật trong nước, giám sát các quy chuẩn chung của trường đại học luật nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo (kinh nghiệm của Hoa Kỳ).
Bốn là, cần đảm bảo cho các trường đại học luật có quyền chủ động quyết định về biên chế và có chính sách thu hút nhân tài (kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Liên Bang Nga, Trung Quốc, Pháp)
Năm là, sinh viên được tham gia đóng góp ý kiến, tham gia vào quản trị đại học của các cơ sở giáo dục đại học (kinh nghiệm của Hoa Kỳ).
Sáu là, tăng cường nguồn thu và đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư vào trường luật. Nhà nước cần đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học theo cơ chế cạnh tranh dựa trên các tiêu chí về giảng dạy và nghiên cứu. Các cơ sở giáo dục đại học cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tăng cường hợp tác chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu để nghiên cứu khoa học trở thành nguồn thu chủ yếu trong các cơ sở giáo dục đại học; thực hiện hiệu quả các giải pháp, chính sách huy động quỹ hiến tặng từ cựu sinh viên và doanh nghiệp.
Chương 3
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trong chương này, nhóm nghiên cứu tập trung trình bày quy định pháp luật về quản trị đại học, cụ thể là Luật giáo dục đại học sửa đổi. Vì nội dung đề tài tập trung vào 2 trường đại học luật công lập nên nhóm nghiên cứu trình bày các quy định pháp luật về quản trị đại học các trường công lập, cụ thể là Điều 16. Hội đồng trường của trường đại học công lập.
Từ việc phân tích và tìm hiểu hệ thống văn bản nội bộ của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh về bộ máy quản trị đại học, nhóm nghiên cứu nhận định: trước đây, quy định về Hội đồng trường công lập trong Luật giáo dục đại học 2012 chưa rõ ràng, chưa đầy đủ khiến chế định này chưa được thực hiện một cách hiệu quả, chưa trở thành một cơ quan quyền lực thực sự, do vậy việc triển khai các quy định về Hội đồng trường trên thực tế khiến các trường gặp phải rất nhiều khó khăn. Chỉ đến khi Luật giáo dục đại học sửa đổi được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện tự chủ đại học, đổi mới quản trị đại học, đổi mới quản lý đào tạo và quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, do các văn bản pháp luật này vừa mới được ban hành và có hiệu lực chưa lâu nên tất cả các cơ sở giáo dục đại học trong đó có Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đều đang trong quá trình tìm hiểu, triển khai văn bản. Chính vì vậy, hệ thống văn bản nội bộ về bộ máy quản trị đại học tại hai trường này còn chưa hoàn thiện. Hiện nay, cả hai Trường đều đang trong giai đoạn xây dựng Quy chế về tổ chức và hoạt động phù hợp với quy định của Luật giáo dục đại học. Những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng trường cơ bản mới dừng lại ở trong các Quy chế tạm thời và nội dung vẫn chỉ là những quy định chung theo quy định của Luật giáo dục đại học, chưa cụ thể hoá một số nội dung cần được quy định chi tiết.
Về thực tiễn triển khai thực hiện quản trị đại học tại trường Đại học Luật Hà Nội và trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, sau khi Luật giáo dục đại học sửa đổi, Nghị định 99/2019/NĐ-CP có hiệu lực thì Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. HCM đã tiến hành các quy trình và thủ tục đề nghị công nhận Hội đồng trường nhiệm kỳ mới 2020-2025. Nhìn chung, có thể thấy quá trình thành lập và điều kiện, thành phần Hội đồng trường tại hai trường phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Kể từ khi được thành lập đến nay, Hội đồng trường của cả hai trường đã chủ yếu tập trung và đã làm tốt công tác tổ chức, xây dựng văn bản về tổ chức và hoạt động, quyết định phương hướng tuyển sinh, mở ngành, đào tạo, liên kết đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, Hội đồng trường của cả hai Trường vẫn chưa phát huy rõ rệt được vai trò trong hoạch địch chính sách phát triển của Trường, chưa khai thác hết được chất xám và năng suất lao động của đội ngũ giảng viên; việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các thể chế nội bộ cho phù hợp với cơ chế tự chủ chi thường xuyên và để đảm bảo đủ điều kiện để thực hiện tự chủ đại học còn chưa kịp thời như Quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tài chính, Quy chế dân chủ, Quy chế giảng viên, Quy chế quản lý và sử dụng tài sản công...
Kết quả khảo sát đánh giá về việc hoạt động của Trường có sự khác biệt trước và sau khi thành lập Hội đồng trường hay không cho thấy, đa số cán bộ quản lý giáo dục và quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học, giảng viên, sinh viên tại hai Trường đều cho rằng chưa đem lại những sự khác biệt rõ ràng, chưa tạo được những thay đổi căn bản trong quản trị đại học; phần lớn sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý vẫn chưa thực sự phân định rõ vai trò, trách nhiệm giữa Hội đồng trường và Hiệu trưởng trường đại học nên còn có sự nhầm lẫn về chức năng của Hội đồng trường - chủ thể nắm quyền quản trị đại học.
Bên cạnh những thuận lợi trong việc quản trị đại học, trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh gặp những khó khăn sau:
Thứ nhất, cả hai trường đều chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu đối với việc quản trị đại học theo quy định pháp luật, chậm thành lập Hội đồng trường, Hội đồng trường được thành lập cũng chưa kịp thời thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình. Nguyên nhân xuất phát từ sự thay đổi liên tục của chính sách, pháp luật về giáo dục, đào tạo; một số quy định của pháp luật chưa rõ ràng và có sự xung đột giữa quy định của Luật giáo dục đại học và quy định của Đảng.
Thứ hai, cả hai cơ sở đào tạo đại học luật đều chưa thực sự năng động, thích nghi kịp thời với điều kiện mới, đáp ứng yêu cầu xã hội, nhất là Trường Đại học Luật Hà Nội. Trường Đại học Luật Hà Nội nhiều năm dưới sự QLNN khá chặt chẽ của Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng tự mang trong mình sức ì nhất định, chưa năng động, sáng tạo hoặc thể hiện tốt khả năng bứt phá. Trong bối cảnh xã hội đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng sản phẩm đào tạo, Trường Đại học Luật Hà Nội nhìn chung mới chỉ đủ năng lực để cung ứng những gì Trường đang có, chưa sẵn sàng làm tốt việc cung cấp những gì xã hội thực sự cần. Đối với Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, đây là một trong những Trường được Thủ tướng cho phép thí điểm cơ chế tự chủ theo Nghị quyết số 77. Luật giáo dục đại học sửa đổi cũng đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi về cơ chế để thúc đẩy sự phát triển trong quản trị Nhà trường. Tuy nhiên, với cơ chế hiện tại qua hoạt động thì thật sự Nhà trường vẫn bị ràng buộc bởi vô số các quy định khác (Luật đầu tư công, Luật quản lý và sử dụng tài sản công, quy định của Đảng.) dẫn đến gặp nhiều khó khăn. Chính những vướng mắc này khiến cho những đường hướng, những chủ trương lớn, mang tính đột phá trong phát triển bị chậm lại, lâu dần sẽ mang những ảnh hưởng không tốt.
Thứ ba, cả hai trường đều là trường đơn ngành về bản chất nên sức cạnh tranh tổng thể yếu hơn các trường đa ngành, đặc biệt trong việc tham gia xếp hạng quốc tế. Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh có ít khả năng cạnh tranh tổng thể hơn so với các trường đa ngành, nhất là những trường nhận được cơ chế hỗ trợ đặc biệt như đại học quốc gia vì khả năng thu hút lượng người học không cao, hạn chế trong tổ chức, nhân sự cũng như tận dụng hệ thống cơ sở vật chất vào hoạt động đào tạo.
Thứ tư, cả hai trường đều thiếu hụt nhân sự quản lý trầm trọng gây khó khăn trong quản trị đại học. Tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Hội đồng trường chưa làm được nhiều việc lớn, các hoạt động của Trường hiện chủ yếu xoay quanh vai trò quản lý, điều hành của Ban Giám hiệu trong khi số thành viên Ban Giám hiệu (cũng đồng thời là thành viên Hội đồng trường) tính đến ngày 18/8/2020 chỉ là 02 người. Ở Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, hầu hết thành viên Hội đồng trường là thành viên kiêm nhiệm, thực hiện được trọng trách đó đã vô cùng khó khăn. Nếu Hội đồng trường không tập trung thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình mà hướng đến thực hiện các công việc điều hành cụ thể thì một mặt những công việc Hội đồng trường cần làm để phát triển trường không được thực hiện, và mặt khác, gây khó khăn cản trở đối với sự vận hành của bộ máy quản lý, điều hành Trường. Việc thiếu hụt nhân sự quản lý có nhiều nguyên nhân, trong đó có cả từ phía cơ quan chủ quản lẫn từ chính các cơ sở GDDH.
Thứ năm, Hội đồng trường chưa triển khai đầy đủ, toàn diện những công việc theo luật quy định. Điều này xuất phát từ việc Hội đồng trường mới được thành lập và đi vào hoạt động trong một khoảng thời gian ngắn, chưa đủ thời gian cần thiết để triển khai. Bên cạnh đó, về chủ quan, do thiết chế Hội đồng trường mới xuất hiện ở Việt Nam, các thành viên Hội đồng trường nhìn chung chưa có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm về quản trị đại học nói chung, quản trị đại học luật nói riêng nên còn lúng túng, bị động trong hoạt động. Cả hai Hội đồng trường của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh mới được công nhận nhiệm kỳ mới 2020-2025 nên vẫn chỉ đang trong giai đoạn khởi đầu chưa làm được nhiều việc lớn theo đúng như vai trò và chức năng của Hội đồng trường.
Chương 4
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC LUẬT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG VÀ TỰ CHỦ ĐẠI HỌC
1.Định hướng đổi mới quản trị đại học luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và tự chủ đại học
Tính đến thời điểm hiện tại, Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thực sự cần thiết phải chuyển mình, thực sự vươn lên khẳng định vị thế trên bản đồ các trường đại học tiên tiến trong khu vực vì những lý do sau:
Thứ nhất, sự phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay đòi hỏi các trường đại học trong nước phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong giáo dục, đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Thứ hai, các Nghị quyết của Đảng trong những năm qua luôn chú trọng đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo đại học của đất nước trong đó có đào tạo luật.
Thứ ba, Luật giáo dục đại học sửa đổi trao cho các cơ sở giáo dục đại học quyền tự chủ và đòi hỏi cơ sở giáo dục đại học phải đổi mới mạnh mẽ mà trước hết là đổi mới quản trị đại học để có thể hoàn thành trọng trách mà Nhà nước và xã hội giao phó.
Thứ tư, Quyết định số 549/QĐ-TTg ngày 04 tháng 04 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể “Xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật”.
Thứ năm, chủ trương xã hội giáo dục đại học, phân bổ ngân sách và nguồn lực cho giáo dục đại học theo nguyên tắc cạnh tranh, bình đẳng, hiệu quả, đẩy mạnh thực hiện tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học gắn với trách nhiệm giải trình .
Định hướng đổi mới quản trị đại học luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Định hướng đổi mới quản trị đại học luật, mà cụ thể ở đây là đổi mới quản trị đại học của hai trường luật trọng điểm Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh được xác định như sau:
Thứ nhất, đảm bảo thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước, quy định của Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, đổi mới tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. HCM thành các trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật.
Thứ hai, đảm bảo việc đổi mới quản trị đại học luật phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành về giáo dục đại học.
Thứ ba, đảm bảo khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quản trị đại học tại Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện tự chủ đại học.
Thứ tư, phải coi đổi mới phương thức quản trị là đòn bẩy trong việc nâng cao chất lượng hoạt động và thực hiện tự chủ đại học tại các trường đại học luật.
Thứ năm, đảm bảo tính kế thừa, thiết thực, khả thi và hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển trường.
Thứ sáu, đảm bảo tính đổi mới và hội nhập quốc tế, phù hợp với điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.G.
-
Mục tiêu đổi mới quản trị đại học luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và tự chủ đại học
Mục tiêu chung: Đổi mới quản trị đại học Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và tự chủ đại học, thực hiện mục tiêu xây dựng hai trường này thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật, hướng tới vươn ra khu vực và thế giới.
Mục tiêu cụ thể: Đổi mới mô hình quản trị đại học luật hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau: Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học; đánh giá thực trạng quy định nội bộ của hai trường về quản trị đại học và thực tiễn thi hành tại trường thời thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó đề xuất được những giải pháp nhằm phát huy tối đa nội lực trong thực hiện tự chủ, linh hoạt, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng, hội nhập quốc tế và phấn đấu trở thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật, hướng tới vươn ra khu vực và thế giới.
-
Các giải pháp đổi mới quản trị đại học luật đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và tự chủ đại học
-
Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quản trị đại học
Những sửa đổi, bổ sung về Hội đồng trường trong Luật giáo dục đại học sửa đổi đã góp phần tạo khung pháp lý phù hợp với vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của Hội đồng trường, để Hội đồng trường thật sự là cơ quan có quyền lực cao nhất trong cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản trị đại học ở Việt Nam, chúng tôi có một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật như sau:
* Hoàn thiện quy định về cơ cấu, thành phần bộ máy quản trị đại học
-
Về thành phần Hội đồng trường: về lâu dài, khi nhận thức về Hội đồng trường đã có những chuyển biến tích cực và cũng để bảo đảm tính khách quan, các quyết nghị của Hội đồng trường không bị chi phối bởi các lợi ích cục bộ thì thành phần ngoài trường từng bước phải chiếm tỷ lệ cao hơn cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Ở Pháp, thành viên ngoài trường chiếm tối thiểu 30%, ở nhiều nước tỷ lệ này có thể lên tới 50%.
-
Về thành viên đại diện cho người học: cần có sự tham gia của đại diện 2 thiết chế Đoàn thanh niên và Hội sinh viên, cần quy định rõ đại diện phải người học (không phải là giảng viên, chuyên viên của trường) để sự tham gia của họ thực sự đại diện cho giới người học, mang tính thực chất hơn. Trong điều kiện Luật chỉ quy định thành phần là đại diện Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là người học thì quy định nội bộ của các trường có thể cụ thể hóa điều kiện này.
-
Về nhiệm kỳ của Hội đồng trường: học tập kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Úc, chia theo từng nhóm đối tượng chứ không có nhiệm kỳ chung. Đối với thành viên là đại diện của sinh viên nên có nhiệm kỳ từ 1 đến 2 năm. Mặc dù đây là thành viên đương nhiên, khi sinh viên tốt nghiệp thì sẽ chấm dứt tư cách thành viên Hội đồng trường nhưng nếu có quy định rõ ràng về nhiệm kỳ thì Đoàn thanh niên có thể tiến hành bầu và cử đại diện thay thế một cách chủ động trước khi hết thời hạn nhiệm kỳ, không phụ thuộc vào thời điểm tốt nghiệp của người đương nhiệm. Hơn nữa Đoàn thanh niên có nhiệm kỳ 2 năm nên chỉ có thể cử đại diện trong phạm vi thời hạn nhiệm kỳ của mình, chứ không thể cử với nhiệm kỳ 5 năm như của Hội đồng trường.
* Hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng trường
Nội dung quản trị đại học gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng trường. Do đó, các giải pháp đổi mới nội dung quản trị đại học luật gắn liền với đổi mới quy định và triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng trường nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của trường đáp ứng yêu cầu xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ pháp luật và thực hiện tự chủ đại học.
Học tập kinh nghiệm của nước ngoài, bổ sung thêm nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng trường “tăng cường sự gắn kết của Nhà trường với các tổ chức, doanh nghiệp để khai thác nguồn lực một cách hiệu quả”. Với uy tín và năng lực của mình, Hội đồng trường sẽ là cầu nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, xã hội để góp phần đẩy mạnh hiệu quả các hoạt động của trường.
Bên cạnh đó, với tính chất của Hội đồng trường, thẩm quyền hiện nay của Hội đồng trường quá cụ thể, nhiều nhiệm vụ mang tính vi mô, chưa phù hợp với việc quyết định những vấn đề lớn của Trường, có khi “lấn sân” sang việc quản lý, điều hành hàng ngày của cơ quan quản lý. Cần học tập kinh nghiệm của các nước trong việc xem xét, quy định lại vấn đề này.
* Hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn các chức danh trong bộ máy quản trị đại học, thủ tục bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trong bộ máy quản trị đại học
Nhìn chung, những sửa đổi, bổ sung về Hội đồng trường trong Luật giáo dục đại học sửa đổi nói chung và các quy định về tiêu chuẩn các chức danh trong bộ máy quản trị đại học, thủ tục bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh trong bộ máy quản trị đại học nói riêng là sự nỗ lực của các nhà làm luật trong việc tiếp cận với kinh nghiệm quốc tế và áp dụng cho Việt Nam, có tính đến những bối cảnh và điều kiện đặc thù. Tuy nhiên, còn một số nội dung chưa phù hợp như sau:
-
Về thành viên mời ngoài trường: Luật hiện hành quy định các đối tượng này phải được bầu ở Hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu. Trong khi đó, nước ngoài mời những người có uy tín trong xã hội tham gia Hội đồng trường để tăng uy tín cho Hội đồng trường, không cần bất cứ thủ tục bầu nào để thấy sự trân trọng với họ. Hơn nữa cần xác định rõ những đối tượng mời ngoài trường thuộc nhóm không phải bầu, giống như thành viên đương nhiên.
-
Về đại diện cho cơ quan quản lý: Luật giáo dục đại học hiện hành không quy định số lượng thành viên Hội đồng trường đại diện cho cơ quan quản lý, đồng thời Chủ tịch Hội đồng trường phải là cán bộ cơ hữu của Trường làm hạn chế sự tham gia của những người có uy tín, thực sự có khả năng dẫn dắt, định hướng trường nhưng công tác ở các cương vị lãnh đạo cơ quan chủ quản, đồng thời chưa phù hợp với quy định Hội đồng trường là cơ quan đại diện cho chủ sở hữu mà mới chỉ tập trung vào sự tham gia của các bên liên quan.
* Hoàn thiện quy định về cơ chế phối hợp giữa Hội đồng trường với các thiết chế quyền lực khác trong cơ sở giáo dục đại học
Đề xuất tiếp tục nghiên cứu và cụ thể hoá mối quan hệ giữa Hội đồng trường, Đảng uỷ và Hiệu trưởng của Trường, ít nhất là về nguyên tắc trong Luật giáo dục đại học.
* Hoàn thiện quy định về chế tài do vi phạm
Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định về chế tài do vi phạm đối với Hội đồng trường, trong đó có quy định về trách nhiệm của Hội đồng trường và cơ chế kiểm soát quyền lực của Hội đồng trường, bổ sung các quy định về chế tài áp dụng đối với các vi phạm của Hội đồng trường, Chủ tịch và các thành viên, quy định về khiếu nại và thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng trường, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng trường.
-
Các giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản nội bộ liên quan đến quản trị đại học luật
Yếu tố then chốt quyết định Hội đồng trường có thực quyền và hoạt động hiệu quả hay không chính là quá trình xây dựng, hoàn thiện và triển khai các hệ thống văn bản nội bộ về quản trị đại học của các cơ sở giáo dục đại học. Hệ thống văn bản nội bộ càng chất lượng và phản ánh đúng thực quyền của Hội đồng trường thì càng giúp phát huy vai trò của Hội đồng trường. Do đó, để đổi mới quản trị đại học đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động và tự chủ đại học, các cơ sở giáo dục đại học nói chung và các cơ sở đào tạo đại học luật nói riêng (Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh trong Đề tài này) cần chú trọng xây dựng và hoàn thiện các quy định nội bộ về bộ máy, nội dung và phương thức quản trị đại học, tập trung vào các văn bản nội bộ sau: Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường, Quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng.
* Xây dựng và hoàn thiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường
Cho đến nay, Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa được chính thức ban hành, do đó việc quan trọng và cấp thiết nhất là cả hai trường cần chủ động và nhanh chóng xây dựng hoặc hoàn thiện Quy chế tổ chức và hoạt động trên cơ sở rà soát quy định của pháp luật hiện hành, quy định của cơ quan chủ quản và tính đến các yếu tố đặc thù quản trị đại học luật, định hướng, mục tiêu phát triển của trường. Một số nội dung liên quan đến việc đổi mới bộ máy quản trị đại học cần lưu ý khi xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của trường gồm: những quy định chung về Hội đồng trường (vị trí pháp lý; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng trường; số lượng, cơ cấu, thành viên Hội đồng trường; tiêu chuẩn chức danh chủ tịch Hội đồng trường; cơ chế thông tin; hoạt động giám sát của Hội đồng trường; Về ngân sách hoạt động và bộ máy giúp việc của Hội đồng trường); hoàn thiện bộ máy tổ chức của Trường.
* Xây dựng, hoàn thiện các quy định nội bộ khác đảm bảo điều kiện tự chủ
Bên cạnh việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động, Hội đồng trường cần xây dựng hoặc hoàn thiện để ban hành chính thức các quy định nhằm đảm bảo điều kiện tự chủ như: quy chế tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở; các chỉ số, chỉ tiêu phấn đấu thực hiện; các quy trình, quy định về bổ nhiệm nhân sự, công khai điều kiện bảo đảm chất lượng, kết quả kiểm định, quy trình, cách xác định tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, chính sách bảo đảm chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, các quy định quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn pháp luật.
* Xây dựng, hoàn thiện Quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng
Mối quan hệ phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng không được quy định trong Luật giáo dục đại học sửa đổi. Thực tiễn quá trình phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng ở Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh trong thời gian qua cho thấy vẫn còn có sự chồng lấn thẩm quyền giữa ba thiết chế này. Trường Đại học Luật Hà Nội đã ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng năm 2019, nhưng trước khi ban hành Nghị định số 99/2019/NĐ-CP, và do Hội đồng trường nhiệm kỳ 2019-2024 ban hành. Do đó, Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cần ban hành quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy, Hội đồng trường và Hiệu trưởng theo các quy định mới nhất, do Hội đồng trường nhiệm kỳ 2020-2024 ban hành để có sự phân định rõ ràng thẩm quyền của ba thiết chế này, giúp các thiết chế này phát huy đúng vai trò của mình đối với sự phát triển của Trường.
3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị đại học luật
Thực tiễn hoạt động của Hội đồng trường ở cả hai trường này trong thời quan qua cho thấy thiết chế này chưa thực sự phát huy tốt được vai trò trong quản trị trường. Ngay cả đối với Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh là trường đã thành lập Hội đồng trường từ khá sớm, nhưng nhìn chung thiết chế này chỉ tồn tại mang tính hình thức. Thực trạng đó cho thấy, cần có những giải pháp mạnh mẽ để Hội đồng trường triển khai thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được luật quy định. Để nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị đại học nói chung và quản trị đại học luật nói riêng, chúng tôi đề xuất một số giải pháp ở cả tầm vĩ mô và vi mô như sau:
a) Đối với các cơ quan quản lý nhà nước
* Các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương
Cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định về tự chủ đại học (tự chủ về tài chính, tổ chức, nhân sự và hoạt động), tạo hành lang pháp lý cho việc xác định phương thức quản trị đại học tại các trường đại học
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần ban hành hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về thẩm quyền, vai trò của cơ quan nhà nước chủ quản đối với trường đại học; sớm có hướng dẫn để thực hiện các điều kiện tự chủ đại học; trình tự, thủ tục công nhận tự chủ đại học
Bộ Nội vụ cần phải phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát các quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể trường đại học, về số lượng người làm việc trong các trường đại học, về chính sách tinh giản biên chế, về thẩm quyển tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức phù hợp với các quy định về tự chủ đại học. Thực tế hiện nay hai cơ sở đào tạo đại học luật lớn nhất cả nước lại có 2 Bộ chủ quản khác nhau (Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo). Có lẽ đây là nghịch lý thuộc về lịch sử tồn tại nhiều năm nay. Ở tầm vĩ mô, Bộ Nội vụ cần có nghiên cứu chuyên sâu để đề xuất giải pháp phù hợp để sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo luật nói riêng và các cơ sở giáo dục đại học công lập nói chung.
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần rà soát, bổ sung các quy định về cơ chế tài chính trong các trường đại học, hướng dẫn các trường xây dựng quy chế tài chính, cơ chế đầu tư và thu hút đầu tư.
* Đối với Bộ Tư pháp và Bộ Giáo dục và Đào tạo với tư cách là cơ quan chủ quản
Cần phải kịp thời rà soát, hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý cho Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, đồng thời với tăng cường vai trò giám sát của Bộ chủ quản.
Đối với các Bộ chủ quản, căn cứ vào mức độ tự chủ của Trường, các Bộ cần rà soát các quy định phân cấp quản lý về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, nhân sự, tài chính đối với Trường để điều chỉnh cho phù hợp với các quy định của Luật giáo dục đại học và các quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay. Trong đó, phải xác định rõ thẩm quyền nào cần phân cấp, thẩm quyền nào là đương nhiên. Hiện nay, với cơ chế thí điểm tự chủ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đang được phân cấp mạnh từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường Đại học Luật Hà Nội đã được Bộ Tư pháp phân cấp một số lĩnh vực, trong đó có công tác tổ chức cán bộ, nhưng nhìn chung do là đơn vị sự nghiệp công lập nên việc tự chủ còn nhiều vướng mắc. Vì vậy, Hội đồng trường phải được coi là cánh tay nối dài của Bộ chủ quản, để dần chuyển chức năng quản lý của Bộ sang cho Hội đồng trường. Đây cũng là định hướng tiến tới việc xóa bỏ cơ quan chủ quản theo Nghị quyết số 14 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới giáo dục đại học: “xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập”. Tuy nhiên, giao quyền tự chủ không có nghĩa là buông lỏng quản lý nhà nước. Cùng với các quy định về phân cấp quản lý, Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần ban hành các quy định về cơ chế giám sát đối với các thẩm quyền được phân cấp và việc thực hiện các hoạt động của Trường theo chức năng được giao.
b) Đối với các trường đại học luật
* Xây dựng và ban hành Chiến lược phát triển dài hạn của Trường
Hội đồng trường chưa phát huy rõ rệt được vai trò trong hoạch địch chính sách phát triển của Trường. Để Hội đồng trường hoạt động hiệu quả, bên cạnh có thể chế rõ ràng quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động, Hội đồng trường cần nhanh chóng xây dựng và ban hành chiến lược phát triển Trường trong giai đoạn tới. Chiến lược phát triển của trường đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trường vì nó xác định mục tiêu, phương hướng phát triển của trường.
Chiến lược phát triển dài hạn của trường đại học phải có đầy đủ các nội dung như sau: bối cảnh phát triển, quan điểm phát triển, mục tiêu chiến lược, mục tiêu cụ thể và một số giải pháp cụ thể để thực hiện các quan điểm, mục tiêu đó. Chiến lược cần xác định lại cho rõ, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với thực tế và khả năng dễ thực hiện về sứ mạng, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, triết lý giáo dục, khẩu hiệu hành động (slogan) và các chiến lược quản trị trên mọi mặt hoạt động của nhà trường như tổ chức bộ máy, nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tài chính, tài sản, cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm chất lượng đào tạo.. .để cho phù hợp với kế hoạch từng bước chuyển đổi sang mô hình quản trị giáo dục 4.0 (phương thức quản trị tiên tiến), tiến tới không những tự chủ chi thường xuyên mà còn tự chủ chi đầu tư chậm nhất vào năm 2030.
* Tăng cường vai trò quản trị của các thiết chế trong trường đại học và mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng
Cần tăng cường vai trò quản trị của các thiết chế trong trường đại học và mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng, cụ thể: tăng cường vai trò quản trị của Hội đồng trường trong tổ chức, hoạt động của Trường; tăng cường vai trò của Hiệu trưởng trong công tác quản trị đại học; thủ trưởng các đơn vị trong trường (phòng, ban, khoa) cần tăng cường vai trò quản trị trong đơn vị mình; tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các thiết chế trên.
* Xây dựng và phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý chất lượng cao là khâu đột phá chiến lược
Do việc quản trị đại học do nhiều đơn vị thực hiện, trong đó Hội đồng trường thực hiện nhiệm vụ chuyên trách, còn các vị trí quản lý khác (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, lãnh đạo các phòng, khoa) thực hiện kiêm nhiệm nên Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh cần có kế hoạch cụ thể xây dựng và phát triển đội ngũ lãnh đạo, quản lý có phẩm chất, điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực lãnh đạo, quản trị, quản lý điều hành, năng lực hội nhập quốc tế đáp ứng quy định và tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Đội ngũ lãnh đạo được hiểu là toàn bộ những người thực hiện chức năng quản trị trong trường đại học, bao gồm những người chuyên trách về quản trị đại học và những người kiêm nhiệm (vừa quản trị, vừa quản lý), trong đó, Chủ tịch Hội đồng trường, hiệu trưởng là những người ở vị trí tiên phong, dẫn dắt sự nghiệp đổi mới đại học và thực hiện sứ mạng trường đại học.
Cần xây dựng khung năng lực Chủ tịch Hội đồng trường, Hiệu trưởng trong đó phản ánh được những yêu cầu cơ bản về vị trí việc làm về phẩm chất, năng lực quản lý, lãnh đạo, quản lý của một cơ sở giáo dục đại học nói chung và của một cơ sở giáo dục đại học luật nói riêng. Cùng với đó, tăng cường năng lực quản trị nội bộ của các thành viên Hội đồng trường, của Ban Giám hiệu, các vị trí chức năng, phòng ban khoa, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn sắp tới, nhằm tạo sự chủ động, sớm phát hiện cán bộ có phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực hội nhập, được đào tạo bài bản để quy hoạch, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách, đáp ứng các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của nhà trường.
Chính sách nhân sự mà Hội đồng trường xây dựng phải bảo đảm tạo ra khung pháp lý phù hợp để có thể sàng lọc được đúng những người hội đủ các điều kiện để được bổ nhiệm vào vị trí quản lý tương ứng. Quy định về tiêu chuẩn viên chức quản lý của Hội đồng trường cần được xây dựng dựa trên yêu cầu, định hướng phát triển của Trường trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các trường đại học tiên tiến, không để cho yếu tố cá nhân lồng nghép vào quy định về tiêu chuẩn để làm ảnh hưởng đến lợi ích chung.
* Tăng cường nhận thức về quản trị đại học nói chung và hội đồng trường nói riêng cho đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao động, người học.
Hiện nay, nhận thức về quản trị đại học ở Việt Nam chưa đầy đủ. Kết quả khảo sát do Đề tài thực hiện gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật ở cả 2 cơ sở đào tạo luật. Vì thế, đề xuất thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo, tọa đàm, các lớp đào tạo, bồi dưỡng để cập nhật các nội dung mới trong Luật GDDH sửa đổi để nâng cao nhận thức của tất cả các đối tượng trong cơ sở giáo dục đại học (thành viên Hội đồng trường, cán bộ quản lý, giảng viên, người lao động, người học) về quản trị đại học, thống nhất nhận thức và hiểu rõ vai trò thực sự của Hội đồng trường.
* Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan
-
Đối với cơ quan chủ quản: Để đảm bảo phát huy vai trò của Hội đồng trường, các cơ quan chủ quản cần nhận thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm của mình đối với các cơ sở giáo dục đại học, đảm bảo làm đúng trách nhiệm của mình: quản lý theo pháp luật, theo chuẩn, tiêu chuẩn; hạn chế việc can thiệp sâu của các cơ quan chủ quản vào tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Các cơ quan chủ quản cần rà soát các quy định do Bộ ban hành liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục đại học, đảm bảo không trái với với các quy định về tự chủ đại học của Luật giáo dục đại học sửa đổi, đặc biệt trong lĩnh vực tổ chức cán bộ, sử dụng cơ sở vật chất, hợp tác quốc tế (trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và mời giảng viên nước ngoài).
-
Đối với Hiệu trưởng và các đơn vị chức năng liên quan: Mỗi đơn vị thuộc Trường có trách nhiệm thực hiện sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp từ Hiệu trưởng và báo cáo Hiệu trưởng về kết quả thực hiện các nghị quyết của Hội đồng trường liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trường có thể yêu cầu thủ trưởng các đơn vị thuộc Trường cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo, giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản về quá trình tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng trường liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị theo thẩm quyền.
* Đổi mới toàn diện các mặt hoạt động quản trị của Trường
+ Về quản trị chiến lược
- Tổng kết việc thực hiện Đề án xây dựng Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm đào tạo cán bộ về pháp luật theo Quyết định số 549/QĐ-TTg để trên cơ sở đó tiếp tục báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho thực hiện Đề án này cho phù hợp với đặc điểm, bối cảnh, tình hình của nhà trương trong giai đoạn hiện này và những năm tiếp theo.
- Xây dựng được chiến lược phát triển giai đoạn 2020-2G25, tầm nhìn đến năm 2030.
+ Về quản trị hệ thống tổ chức bộ máy:
-
Rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy đảm bảo tinh gọn, hiệu quả, có sự phân cấp rõ ràng, tránh chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
-
Rà soát, hoàn thiện hoặc xây dựng, ban hành mới các thể chế nội bộ để có đầy đủ cơ sở pháp lý thực hiện cơ chế tự chủ chi thường xuyên và tự chủ đại học.
-
Rà soát chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị, yêu cầu vị trí việc làm để xây dựng khung năng lực vị trí việc làm, xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức, người lao động phù hợp làm cơ sở cho việc tuyển dụng, điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ.
-
Nghiên cứu thành lập các Trung tâm dịch vụ hoặc doanh nghiệp thuộc Trường để thúc đẩy việc thương mại hóa các sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.
+ Về quản trị nguồn nhân lực
-
Rà soát, kiện toàn cơ cấu lãnh đạo và quản lý của Trường nhằm tăng hiệu quả quản lý và đạt được hiệu quả công việc theo hướng giảm bớt những đầu mối trung gian không cần thiết (các phòng, ban, tổ bộ môn,...); xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đảm bảo yêu cầu kiện toàn.
-
Ưu tiên phát triển đội ngũ viên chức quản lý, điều hành và các vị trí quan trọng phục vụ trực tiếp hoạt động quản trị nội bộ và hoạt động đào tạo, còn các vị trí phục vụ khác như vệ sinh, bảo vệ, lái xe. có thể thuê dịch vụ bên ngoài.
-
Tiếp tục quan tâm phát triển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng theo các tiêu chí ngoài năng lực về chuyên môn thì còn phải an hiểu, thân thiện với công nghệ; biết hợp tác, chia sẻ cùng đồng nghiệp, với người học; biết cách sáng tạo và chấp nhận rủi ro; sẵn sàng đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy người học thực sự là trung tâm, chuyển vai trò từ người thuyết giảng sang làm người kết nối, người hướng dẫn, người cố vấn. Tăng cường quan hệ hợp tác với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức bổ trợ tư pháp, các doanh nghiệp để trao đổi đội ngũ giảng viên, thu hút đội ngũ giảng viên thỉnh giảng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên cơ hữu, bổ sung được đội ngủ giảng viên thực hành.
-
Lấy hiệu quả công việc là thước đo đánh giá chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động; là căn cứ để đánh giá thi đua, khen thưởng và trả thu nhập tăng thêm; có chính sách, chế độ đãi ngộ thỏa đáng, hấp dẫn để thu hút nguồn lực giảng viên giỏi ở trong nước và nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học tại trường, để Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thực sự trở thành trường trọng điểm đủ sức làm đầu tàu cho cả hệ thống các cơ sở đào tạo luật trong cả nước.
+ Về quản trị hoạt động đào tạo và bồi dưỡng
-
Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng thương hiệu đào tạo, lấy chất lượng đào tạo, nghiên cứu làm mục tiên ưu tiên số 1. Tập trung xây dựng chất lượng đào tạo chính quy văn bằng 1; đồng thời phát triển thị trường đào tạo ở những hình thức đào tạo khác như đào tạo văn bằng 2 chính quy hoặc vừa làm vừa học hay đào tạo sau đại học.
-
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình giảng dạy và nghiên cứu theo hướng hiện đại, thiết thực, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế, chú trọng tới việc phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho sinh viên để tăng khả năng thích ứng với xã hội và hội nhập quốc tế.
-
Nghiên cứu, mở rộng các ngành, lĩnh vực đào tạo, các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn phù hợp phù hợp với năng lực của Trường.
-
Xây dựng các chính sách hỗ trợ đào tạo như cơ chế trao đổi sinh viên với các cơ sở đào tạo khác, chế độ học bổng, tổ chức một số kỳ học/môn học tại trụ sở chính cho sinh viên của phân hiệu và ngược lại tổ chức một số kỳ học/môn học tại phân hiệu cho sinh viên của trường.
-
Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
-
Xây dựng môi trường văn hoá của Trường theo hướng: Học thuật, dân chủ, sáng tạo và thân thiện.
+ Về quản trị hoạt động nghiên cứu khoa học
-
Hoạt động NCKH phải được xác định không chỉ là quyền mà còn nhiệm vụ bắt buộc của đội ngũ giảng viên và cả học viên, sinh viên; phải xây dựng được cơ chế để khuyến khích, động viên kịp thời đối với những người có sản phẩm nghiên cứu được công bố trên các tạp chí quốc tế trong hệ thống ISI, Scopus hoặc có các ấn phẩm do các nhà xuất bản nước ngoài phát hành; đặt ra mục tiêu mỗi năm nhà trường cần phải có bao nhiêu bài báo đăng tải ở các tạp chí quốc tế, bao gồm các giải pháp xây dựng đội ngũ nghiên cứu viên chuyên nghiệp; đồng thời có chế tài xử lý đối khi không hoàn thành nhiệm vụ NCKH.
-
Các công trình nghiên cứu khoa học cần bám sát yêu cầu thực tiễn và có tính ứng dụng cao, đề xuất các giải pháp vừa mang tầm chiến lược, lâu dài, vừa mang tính cấp bách để giải quyết có hiệu quả những vấn đề đặt ra của thực tiễn Bộ, ngành Tư pháp, của đất nước.
-
Các sản phẩm nghiên cứu khoa học có giá trị cần được chuyển giao cho doanh nghiệp ứng dụng để thương mại hóa sản phẩm đó nhằm tăng nguồn thu cho Trường. Chú trọng quảng bá hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển các sản phẩm nghiên cứu khoa học được đặt hàng.
+ Về quản trị hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế:
-
Tăng cường hợp tác với các trường đào tạo luật hàng đầu thế giới và khu vực để thu hút, tận dụng nguồn lực của các đối tác quốc tế phục vụ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng; để tham thảo chương trình, giáo trình đào tạo, phương pháp quản trị và điều hành; để trao đổi, công bố quốc tế các sản phẩm nghiên cứu khoa học tại các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới;
-
Ban hành hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy trình theo hướng đơn giản hóa các thủ tục để hợp tác với các đối tác nước ngoài hoặc mời các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại Trường.
+ Về quản trị tài chính, tài sản và cơ sở vật chất
-
Thay đổi phương thức quản trị tài chính, tài sản và cơ sở vật chất, tăng cường khai thác đối đa mọi nguồn thu và triệt để thực hành tiết kiệm chi.
-
Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, bảo đảm cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu đạt chất lượng cao, tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho những ngành, những lĩnh vực, những bộ môn đặc thù, quan trọng và cần thiết.
+ Về quản trị hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin
Chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ các hoạt động của trường: giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý.
Chiến lược đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin của trường cần chỉ rõ mục tiêu, phương hướng, giải pháp tổng thể trên cơ sở các nguồn lực mà trường hiện có hoặc cần có (tài chính, nhân lực, hạ tầng) nhằm xây dựng môi trường sư phạm văn minh, chuyên nghiệp, tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính, hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên của trường.
* Hình thành văn hóa chất lượng
Hình thành văn hóa chất lượng trong toàn thể cán bộ, giảng viên, chuyên viên và người học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, bắt buộc cán bộ, giảng viên, chuyên viên và người học thấm nhuần và làm việc theo các yêu cầu văn hóa chất lượng của Trường.