• Thuộc tính
Tên đề tài Các giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền con người
Nội dung tóm tắt

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

I. KHÁI NIỆM NHÂN DÂN VÀ TIÊU CHÍ PHÂN NHÓM NHÂN DÂN TRONG VIỆC TIẾP CẬN HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm nhân dân trong tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự

1.1.1. Khái niệm nhân dân - cách tiếp cận chung

Theo nghĩa thông thường, nhân dân là một cộng đồng người sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định được hưởng những quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ do pháp luật của quốc gia đó quy định. Theo nghĩa rộng, nhân dân là cộng đồng người sinh sống trên trái đất như nhân dân lao động trên toàn thế giới. Như vậy, nhân dân được hiểu là dân cư của một quốc gia hay của tất cả các nước trên thế giới. Theo đó, nhân dân được đồng nghĩa với “dân cư”.

Trong khoa học pháp lý, tùy theo từng ngữ cảnh mà nhân dân được giải nghĩa theo cách tương ứng. Cụ thể như, với việc bầu cử các cơ quan đại diện hay trưng cầu ý dân, nhân dân được hiểu là cử tri; đối với việc lấy ý kiến nhân dân về dự án, dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, nhân dân được hiểu nghĩa là những đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, trong khoa học hình sự nhân dân được hiểu là công dân cá nhân đồng thời là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự.

1.1.2. Nhân dân với tư cách là người tham gia tố tụng hình sự

Xem xét dưới góc độ hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự (TPHS) thì “nhân dân”, hiểu một cách khái quát, là những người tham gia các giai đoạn của tố tụng hình sự. Hiểu theo nghĩa rộng, họ là những chủ thể tham gia bảo vệ công lý và được hưởng công lý như chính chức năng và mục đích hướng tới của TPHS. Theo nghĩa cụ thể, nhân dân trong TPHS được hiểu là người có quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện tố tụng hình sự. Đó là những người chịu tác động trực tiếp của hệ thống TPHS (người bị tình nghi là có tội, bị can, bị cáo); người bị hại được hưởng công lý (người bị hại); những người có quyền và nghĩa vụ liên quan (nhân chứng, công dân tích cực tham gia bảo vệ công lý…). Nhân dân còn có một ý nghĩa khác là những người có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội, tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…

1.1.3. Nhân dân trong tư pháp hình sự - tiếp cận dưới góc độ nhân quyền

Từ khái niệm chung nhất về nhân dân kết hợp với khái niệm nhân dân trong tố tụng hình sự có thể đưa ra khái niệm nhân dân trong việc tiếp cận hệ thống TPHS như sau: Nhân dân trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự là những người đạt đến độ tuổi nhất định, có năng lực trách nhiệm hình sự để được hưởng những quyền và thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật tố tụng hình sự quy định khi tham gia vào các hoạt động tố tụng cụ thể.

1.2. Tiêu chí phân nhóm nhân dân trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự

Tùy thuộc vào vị trí, vai trò tham gia của nhân dân vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội mà các nhà nghiên cứu xác định các tiêu chí khác nhau để phân loại nhân dân như: Nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, giám sát việc thực hiện pháp luật; nhân dân tham gia công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm; nhân dân tham gia vào các giai đoạn tố tụng hình sự; nhân dân tham gia xây dựng đời sống văn hóa…

Qua phân tích, nhóm nghiên cứu xác định hai tiêu chí để phân nhóm nhân dân trong việc tiếp cận hệ thống TPHS như sau:

- Tư cách pháp lý của chủ thể khi tham gia trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

- Các nhóm người được hưởng các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước và được pháp luật bảo vệ các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ mang tính đặc thù khi tiếp cận với hệ thống TPHS.

1.2.1. Phân nhóm nhân dân trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự theo tiêu chí về tư cách pháp lý khi tham gia trong các giai đoạn của tố tụng hình sự

Trên cơ sở nghiên cứu các giai đoạn của tố tụng hình sự có thể phân nhóm nhân dân như sau:

Giai đoạn tiền tố tụng: bao gồm các hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, khám nghiệm hiện trường. Trong giai đoạn này, nhân dân tham gia vào các hoạt động trên là những cá nhân trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, thông qua đơn thư thông báo cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát biết về sự kiện có dấu hiệu tội phạm đã xảy ra; cá nhân được mời tham gia khám nghiệm hiện trường với tư cách là người chứng kiến.

Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, nhân dân với tư cách là chủ thể tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự, bao gồm:

- Người thực hiện hành vi phạm tội cụ thể, là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

- Người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ có liên quan.

- Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch.

Trong giai đoạn thi hành án hình sự, nhân dân với tư cách là chủ thể tham gia vào việc thi hành án là người bị Tòa án kết tội bằng bản án và bị áp dụng một trong số các hình phạt chính gồm tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, và bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung là tịch thu tài sản, phạt tiền từ 5.000.000 đồng trở lên có hiệu lực thi hành.

Với cách phân loại trên, mỗi chủ thể khi tham gia vào các giai đoạn tố tụng đều có những quyền và nghĩa vụ khác nhau do Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) và Pháp lệnh Thi hành án hình sự quy định. Chính vì vậy khi tiếp cận với hệ thống TPHS, các cơ quan trong hệ thống tư pháp phải căn cứ vào pháp luật để bảo đảm cho họ được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ đó, đặc biệt là bị can, bị cáo.

1.2.2. Phân nhóm nhân dân theo các nhóm người được hưởng các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước và được pháp luật bảo vệ các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ đặc thù khi tiếp cận với hệ thống tư pháp hình sự

Dựa trên những nền tảng lý luận triết học, các quy định của pháp luật quốc tế và xuất phát từ thực tiễn ở Việt Nam mà chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta nói chung và các chế định của Bộ luật Hình sự (BLHS), BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đều có những quy định mang tính đặc thù cho một số nhóm đối tượng nhất định khi tiếp cận với hệ thống TPHS, cụ thể như sau:

- Nhóm những người nước ngoài phạm tội được hưởng miễn trừ ngoại giao.

- Nhóm bị can, bị cáo, người đang chấp hành án phạt tù là người nước ngoài nói chung.

- Nhóm bị can, bị cáo, người đang chấp hành án phạt tù là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 61 BLHS, khoản 2 Điều 88 BLTTHS).

- Nhóm bị can, bị cáo, người chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên (Điều 34, Điều 35, các điều quy định tại chương X BLHS; các điều quy định tại chương XXXII BLTTHS); những người làm chứng là người chưa thành niên (khoản 3 Điều 211 BLTTHS…).

- Nhóm bị can, bị cáo, người chấp hành án phạt tù là người già yếu, người bị bệnh nặng, bị bệnh hiểm nghèo, người lạc hậu (Điều 12, khoản 1 Điều 59; khoản 2 Điều 88 BLTTHS…).

- Nhóm bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình; bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (điểm a, b khoản 2 Điều 57 BLTTHS).

Như vậy, việc phân nhóm nhân dân khi tiếp cận với hệ thống TPHS như trên đòi hỏi các cơ quan tư pháp khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình phải bảo đảm cho họ được hưởng những quyền và thực hiện những nghĩa vụ mang tính đặc thù đã được pháp luật quy định.

II. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ  THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

2.1. Khái niệm hệ thống tư pháp hình sự

Từ việc nghiên cứu các quan điểm trong nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ và trên nhiều phương diện khác nhau, nhóm nghiên cứu đã đưa ra khái niệm hệ thống TPHS như sau: “Hệ thống tư pháp hình sự bao gồm các cơ quan thực hiện chức năng chủ yếu là duy trì và bảo vệ công lý bằng các trình tự, thủ tục và các biện pháp đặc thù do pháp luật quy định dựa trên nguyên tắc tài phán công bằng, công khai, bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan khác có chức năng chủ yếu là phục vụ cho hoạt động tài phán (như Cơ quan giám định, tổ chức luật sư, công chứng…).”

2.2. Đặc điểm của hệ thống tư pháp hình sự

Tổng hợp các quan điểm đã phân tích trong đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm cơ bản của hệ thống TPHS như sau:

- Hệ thống TPHS là tổng thể các cơ quan trực tiếp đấu tranh bảo vệ pháp luật như: Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án hình sự và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác nhằm duy trì và bảo vệ công lý.

- Tòa án là cơ quan TPHS thể hiện tập trung quyền tư pháp, sử dụng công khai kết quả hoạt động của Cơ quan điều tra, truy tố, bào chữa, giám định…

- Tổ chức và hoạt động của hệ thống TPHS do pháp luật quy định.

- Hoạt động của hệ thống TPHS nhằm mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

2.3. Các yếu tố cấu thành của hệ thống tư pháp hình sự

- Các thiết chế hình thành nên hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng TPHS, bao gồm:

+ Các cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện các quyền tư pháp, trực tiếp bảo vệ pháp luật, trực tiếp đấu tranh chống tội phạm như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án.

+ Các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp (đó là các cơ quan, tổ chức có thể thuộc hoặc không thuộc cơ cấu bộ máy nhà nước) nhưng có chức năng hỗ trợ cho các cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đồng thời hỗ trợ cho công dân về mặt pháp lý trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp như: Cơ quan Công chứng, giám định, tổ chức luật sư...

- Các thể chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp và các thể chế bổ trợ có liên quan, bao gồm:

+ Pháp luật về tổ chức các cơ quan tư pháp như (Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân…).

+ Pháp luật hình sự bao gồm: Luật nội dung, luật tố tụng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

+ Các quy phạm xã hội khác như: Quy tắc, quy phạm, quy chế hoạt động của các đoàn luật sư, tổ chức luật sư; quy tắc, chuẩn mực về đạo đức, ứng xử của Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư…; các quy tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức khác liên quan đến lĩnh vực TPHS.

- Các chủ thể tham gia thực hiện các quyền tư pháp như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán…

- Các điều kiện bảo đảm khác cho sự hoạt động bình thường của các cơ quan tư pháp như: Trụ sở làm việc, phương tiện, trang thiết bị phục vụ làm việc, ngân sách…

III. CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

3.1. Khái niệm và phân loại các yếu tố đảm bảo cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về hệ thống TPHS, đồng thời xuất phát từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp nói chung và hệ thống TPHS nói riêng ở các nhà nước pháp quyền trên thế giới và ở Việt Nam (đặc biệt là trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI này), theo quan điểm của nhóm nghiên cứu: Yếu tố đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS trong nhà nước pháp quyền là một bộ phận cấu thành mà tổng thể chúng (các yếu tố đảm bảo đó) giúp cho hệ thống TPHS có thể thực hiện tốt các chức năng tương ứng bằng việc áp dụng các quy định của pháp luật về đấu tranh chống tội phạm (ĐTrCTP) để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động xét xử và đưa ra các phán quyết đối với những vụ án hình sự nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự (TNHS) của người phạm tội một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, bảo vệ chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh phòng và chống các tội phạm, cải tạo - giáo dục tốt những người bị kết án và tái hòa nhập họ trở về với cuộc sống của cộng đồng, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế.

Để cho hệ thống TPHS của một quốc gia đạt được hiệu quả cao trong cuộc ĐTrCTP, thì cần phải có rất nhiều yếu tố đảm bảo cho hoạt động của nó. Trong phạm vi của đề tài, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, các yếu tố đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS gồm: 

  - Các quy định của pháp luật (thực định) về ĐTrCTP. 

- Thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐTrCTP.

  - Đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực ĐTrCTP của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. 

   Để nhận thấy rõ bản chất của các yếu tố đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS này, chúng ta cần đi sâu phân tích nội hàm của từng yếu tố đảm bảo đó. Tuy nhiên, nội hàm của mỗi yếu tố đảm bảo cần xoay quanh một trục - phải nhằm đạt được các mục đích của hệ thống TPHS.                         

3.2. Các quy định của pháp luật (thực định) về đấu tranh chống tội phạm

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về TPHS ở một số nhà nước pháp quyền là các nước phát triển cao trên thế giới cho phép đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Các quy định của pháp luật về ĐTrCTP có thể được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất thuộc lĩnh vực TPHS tạo thành hệ thống pháp luật về ĐTrCTP (bao gồm pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự), cũng như một số quy định pháp luật khác có liên quan đến tổ chức - hoạt động của hệ thống TPHS) với tư cách là những căn cứ pháp lý nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS đạt được hiệu quả và các mục đích của nó. Từ khái niệm đã nêu và trên cơ sở phân tích yếu tố đảm bảo đang nghiên cứu cho thấy, các quy định của pháp luật về ĐTrCTP bao gồm một loạt chức năng cơ bản tương ứng với từng loại cơ quan TPHS có thẩm quyền là:

- Chức năng thứ nhất - các quy định của pháp luật về ĐTrCTP đóng vai trò quan trọng là các nguồn trực tiếp của luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật thi hành án hình sự quốc gia trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm.

 - Chức năng thứ hai - các quy định của pháp luật về ĐTrCTP là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ một cách vững chắc chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm, đồng thời cải tạo - giáo dục những người bị kết án và tái hòa nhập họ trở về với cuộc sống của cộng đồng, góp phần đưa các nguyên tắc được thừa nhận chung của nhà nước pháp quyền vào đời sống thực tế.

  - Và cuối cùng, chức năng thứ ba - các quy định của pháp luật về ĐTrCTP với tư cách là những cơ sở (căn cứ) pháp lý và bằng cách đó, hình thành nên hệ thống các văn bản pháp luật thực định của Nhà nước về ĐTrCTP để đảm bảo cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toà án thực hiện tốt các thẩm quyền tương ứng do luật định để đạt được các mục đích của hệ thống TPHS.     

3.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đấu tranh chống tội phạm

Hoạt động áp dụng pháp luật về TPHS ở một số nhà nước pháp quyền là các nước phát triển cao trên thế giới cho phép đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐTrCTP có thể được hiểu là hoạt động áp dụng các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực TPHS (pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự và các quy phạm pháp luật khác có liên quan) nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS đạt được hiệu quả và các mục đích của nó. Từ khái niệm đã nêu và trên cơ sở phân tích yếu tố đảm bảo đang nghiên cứu cho thấy, thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐTrCTP bao gồm một loạt chức năng cơ bản tương ứng với từng loại cơ quan TPHS có thẩm quyền là: 

  - Chức năng thứ nhất - áp dụng các quy định trong văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự để tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử những vụ án hình sự và giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của những người phạm tội (như: định tội danh, quyết định hình phạt, các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác hay các biện pháp thi hành án hình sự hoặc các biện pháp tha miễn).

  - Chức năng thứ hai - đưa ra những giải thích các quy định đã được nhà làm luật ghi nhận trong các văn bản pháp luật đó bởi cơ quan tư pháp cao nhất của đất nước (Tòa án nhân dân tối cao) ở cấp độ áp dụng pháp luật.

  - Và cuối cùng, chức năng thứ ba - hình thành nên hệ thống những giải thích của thực tiễn xét xử với tư cách là những hướng dẫn có tính chất chỉ đạo đối với việc áp dụng thống nhất các quy phạm pháp luật về ĐTrCTP và bằng cách đó, đảm bảo cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toà án của đất nước thực hiện tốt các thẩm quyền tương ứng do luật định, đồng thời đạt được các mục đích của hệ thống TPHS.

3.4. Đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan tư pháp

Nghiên cứu đội ngũ cán bộ đang công tác trong hệ thống TPHS ở một số nhà nước pháp quyền là các nước phát triển cao trên thế giới cho phép đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực ĐTrCTP của các cơ quan Tư pháp, những người chuyên thực hiện các chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các văn bản về TPHS, cũng như nghiên cứu và trực tiếp tiến hành tố tụng đối với các vụ án hình sự và thi hành các bản án hình sự nhằm góp phần đảm bảo cho hoạt động của hệ thống TPHS đạt được hiệu quả và các mục đích của nó. Từ khái niệm đã nêu và trên cơ sở phân tích yếu tố đảm bảo đang nghiên cứu cho thấy, đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực ĐTrCTP có một loạt chức năng cơ bản tương ứng với từng loại cơ quan TPHS có thẩm quyền là: 

 - Chức năng thứ nhất - chuyên trách  thực hiện hoạt động soạn thảo pháp luật về ĐTrCTP như công tác nghiên cứu và trực tiếp xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực TPHS.

 - Chức năng thứ hai - chuyên trách thực hiện hoạt động thực tiễn bảo vệ pháp luật, tức là trực tiếp áp dụng pháp luật về ĐTrCTP (bao gồm các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực TPHS như điều tra truy tố những vụ án hình sự, cũng như thi hành các bản án hình sự.

- Và cuối cùng, chức năng thứ ba - chuyên trách thực hiện hoạt động thực tiễn xét xử (tài phán) và đưa ra các phán quyết đối với những vụ án hình sự, tức là trực tiếp áp dụng pháp luật về ĐTrCTP (bao gồm các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực TPHS để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội như: định tội danh, quyết định hình phạt, các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác hoặc các biện pháp tha miễn).

IV. QUAN NIỆM VỀ NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CƠ QUAN TƯ PHÁP VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI

4.1. Quan niệm và các yếu tố cấu thành của năng lực tiếp cận của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp hình sự

Tiếp cận pháp luật nói chung và tiếp cận TPHS nói riêng là khả năng của người dân có thể bảo vệ các quyền của mình theo các nguyên tắc và chuẩn mực về quyền con người thông qua hệ thống tư pháp chính thức và không chính thức. Nền tảng cơ bản của tiếp cận pháp luật và TPHS là sự tồn tại khuôn khổ pháp lý quy định các quyền cơ bản của người dân và sự tồn tại các thiết chế thực thi các quyền đó. Tuy nhiên, để bảo đảm việc tiếp cận pháp luật và TPHS thì người dân cần có sự hiểu biết về các quyền và nghĩa vụ của mình và biết tiếp cận thời gian nào? cơ quan nào? ở đâu? để bảo vệ các quyền của mình; người dân cần có khả năng tiếp cận các thiết chế hoặc cơ chế hiện có khi cần; và cuối cùng là họ phải có niềm tin đối với hệ thống tư pháp và TPHS mà họ tiếp cận để thực thi các quyền của mình.

Từ nghiên cứu khái niệm năng lực nói chung, nhóm nghiên cứu đã vận dụng để xác định quan niệm năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống TPHS trong việc bảo vệ quyền con người. Theo đó, năng lực tiếp cận của nhân dân đối với các cơ quan TPHS được hiểu là “khả năng của nhân dân và các điều kiện khách quan khác để tiếp cận hiệu quả nhất với cơ quan tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền con người được pháp luật quy định”.

Năng lực tiếp cận của nhân dân đối với các cơ quan TPHS được cấu thành bởi các yếu tố sau:

- Trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính, dân tộc, kiến thức xã hội.

- Trình độ nhận thức pháp luật, ý thức pháp luật và tinh thần, thái độ về các quyền và bảo vệ các quyền được pháp luật quy định.

- Cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền của con người khi tiếp cận với hệ thống TPHS (trình tự, thủ tục, phương thức đảm bảo cho nhân dân thực hiện các quyền khi tiếp cận với hệ thống TPHS).

- Nhận thức pháp luật, tinh thần, thái độ của cán bộ, nhân viên các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm cho nhân dân thực hiện các quyền khi họ tiếp cận các cơ quan TPHS.

- Các yếu tố khác như: Không gian, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện đảm bảo sự thuận lợi cho nhân dân khi tiếp cận với cơ quan TPHS.

4.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống tư pháp hình sự trong việc bảo vệ quyền con người

Theo nhóm nghiên cứu, gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể sau:

- Tính minh bạch, cụ thể, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật TPHS (luật hình sự, luật tố tụng hình sự, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, các thiết chế bổ trợ tư pháp, thi hành án).

- Sự thuận tiện, hiệu quả, minh bạch, linh hoạt và cụ thể của các trình tự, thủ tục tố tụng bảo đảm cho nhân dân thực hiện đầy đủ các quyền trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; tham gia vào các giai đoạn của tố tụng và khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự và những người chịu trách nhiệm quản lý và giáo dục người chấp hành hình phạt tù và các hình phạt khác.

- Sự chuyên nghiệp, trong sạch và ý thức, tinh thần trách nhiệm cao của những người tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án), của Giám thị, Quản giáo trại giam.

- Hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự.

- Sự chủ động, tích cực và ý thức tinh thần trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ quyền lợi của mình trong công tác đấu tranh chống tội phạm và sự tham gia của người làm chứng trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

- Hiệu quả hoạt động của các thiết chế bổ trợ tư pháp: Luật sư, công chứng, giám định, trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật.

- Hiệu quả hoạt động của các cơ quan giám sát (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), các cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành của các cơ quan tư pháp, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực hoạt động TPHS.

- Hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tấn, báo chí, các cơ quan phát thanh, truyền hình trong lĩnh vực TPHS.

V. QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM CHO NHÂN DÂN ĐƯỢC TIẾP CẬN HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

5.1. Quyền được tiếp cận hệ thống TPHS của nhân dân

Theo quy định tại chương V Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quyền được tiếp cận hệ thống TPHS của nhân dân bao gồm: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; bất khả xâm phạm về chỗ ở; có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước. Các quyền trên của nhân dân được nhà nước tôn trọng và bảo vệ.

Quyền của những người tham gia tố tụng: Nhân dân với tư cách là người tham gia tố tụng đó là những người có liên quan đến vụ án hình sự đã xảy ra (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan) và những người có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự (người làm chứng, người bào chữa, người giám định, người phiên dịch), do đó họ vừa có tư cách pháp lý chung của người tham gia tố tụng vừa có tư cách pháp lý riêng do pháp luật tố tụng quy định. Chính vì vậy, những người tham gia tố tụng đều có những quyền chung và có những quyền cụ thể tùy thuộc vào tư cách pháp lý riêng của họ.

- Các quyền chung của những người tham gia tố tụng: Các quyền chung của những người tham gia tố tụng hình sự được quy định trong BLTTHS, là những quyền mang tính nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng, bao gồm:

+ Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

+ Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân.

+ Quyền không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

+ Quyền được dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình.

+ Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại do cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền gây ra.

- Các quyền riêng của những người tham gia tố tụng tùy thuộc vào tư cách pháp lý khi tham gia vào các giai đoạn tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

+ Quyền của người bị tạm giữ bao gồm: Được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ…

+ Quyền của bị can bao gồm: Được biết mình bị khởi tố về tội gì; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa; được nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn…

+ Quyền của bị cáo bao gồm: Được nhận các quyết định tố tụng và bản án của Tòa án; tham gia phiên tòa; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, phiên dịch; đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án…

+ Quyền của người bị hại bao gồm: Đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được thông báo kết quả điều tra; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, phiên dịch; đề nghị mức bồi thường; khiếu nại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo…

+ Quyền của nguyên đơn dân sự bao gồm: Đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, phiên dịch; đề nghị mức bồi thường; tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến, tranh luận; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình…

+ Quyền của người làm chứng: Được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; được thanh toán chi phí đi lại.

+ Quyền của người bào chữa: Được có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can; đề nghị Cơ quan điều tra công khai về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến bào chữa khi kết thúc điều tra; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần, thể chất.

+ Quyền của người bảo vệ quyền lợi của đương sự: Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự sau khi kết thúc điều tra; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

+ Quyền của người giám định: Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc kết luận; tham dự vào việc hỏi cung lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định; từ chối việc giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định; ghi riêng ý kiến của mình vào kết luận chung.

+ Quyền của người phiên dịch: Có quyền từ chối tham gia tố tụng khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và 3 Điều 42 BLTTHS.

5.2. Trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan, công chức nhà nước trong việc bảo đảm cho nhân dân được tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự

- Trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm cho nhân dân được tiếp cận hệ thống TPHS được quy định thành các nguyên tắc của tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

+ Khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không cần thiết nữa.

+ Việc bắt, giam giữ người phải theo đúng quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình.

+ Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân; việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện tín phải đúng quy định của pháp luật.

+ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng.

+ Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội.

+ Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do mình gây ra.

- Các cơ quan, công chức nhà nước khác có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân được tiếp cận trong trường hợp thực hiện các quyền có liên quan đến TPHS.

5.3. Quyền và trách nhiệm của các thiết chế bổ trợ tư pháp (tổ chức luật sư, giám định, trợ giúp pháp lý) và các phương tiện thông tin đại chúng

- Quyền và trách nhiệm của các thiết chế bổ trợ tư pháp như: Các đoàn luật sư, văn phòng luật sư, các công ty luật và các cơ sở, trung tâm giám định (y khoa, pháp y, pháp y tâm thần, giám định kỹ thuật…) là những thiết chế bổ trợ tư pháp có chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng hoạt động của các thiết chế này góp phần quan trọng làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Trong việc bảo đảm cho nhân dân được tiếp cận hệ thống TPHS, các thiết chế này có trách nhiệm và nghĩa vụ sau đây:

Khi nhân dân (những người có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự) cần sự giúp đỡ để thực hiện các quyền do pháp luật quy định mà tự bản thân họ không thực hiện được, hoặc thực hiện không có hiệu quả, thì các cơ quan này căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình tiến hành các hoạt động trực tiếp để giúp đỡ họ như: Tiến hành công chứng, hướng dẫn, giải thích cho họ hoặc cử người của cơ quan, tổ chức đứng ra bảo vệ quyền lợi cho nhân dân như cử luật sư bào chữa, cử người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong các vụ án hình sự…

Xuất phát từ yêu cầu của công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc xuất phát từ yêu cầu làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án mà những người tham gia tố tụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng mời người bào chữa, yêu cầu giám định, trợ giúp pháp lý thì Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có thể làm văn bản đề nghị các đoàn luật sư cử người bảo vệ quyền lợi cho họ; yêu cầu trưng cầu giám định thương tật, giấy tờ, tài liệu, tâm thần… Trong những trường hợp này, các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu do các cơ quan tiến hành tố tụng đề ra và phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình nhưng cũng có quyền từ chối khi thuộc một trong các trường hợp do BLTTHS quy định.

- Quyền và trách nhiệm của các phương tiện truyền thông: phổ biến, tuyên truyền pháp luật, giúp đỡ, hướng dẫn nhân dân đặc biệt là nhân dân thuộc các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa để họ nhận thức và hiểu biết được các quyền của họ được pháp luật bảo vệ; các cơ quan, tổ chức mà họ cần tiếp cận để giúp đỡ; đưa tin, đăng các bài viết về hoạt động của các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ khi cần giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức này. Tuy nhiên hoạt động của các phương tiện truyền thông không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tố tụng, do đó việc đưa tin, đăng bài phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính chính xác, khách quan thì việc tiếp cận của nhân dân với hệ thống TPHS mới có hiệu quả.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN           HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ                        CỦA NHÂN DÂN

I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

1.1. Thực trạng năng lực tiếp cận của những người tham gia tố tụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con người

Trong hoạt động tư pháp, hoạt động tố tụng hình sự có tính chất đặc trưng là phát sinh từ việc thực hiện các hành vi phạm tội, vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu các giải pháp tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống TPHS trong việc bảo vệ quyền con người, nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu khả năng tiếp cận của những người tham gia tố tụng (với tư cách là nhóm người quan trọng nhất) đối với các cơ quan tố tụng trong lĩnh vực TPHS - các cơ quan tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng hình sự có thể chia thành: người bị cho là có hành vi phạm tội (tuỳ vào từng giai đoạn tố tụng mà có địa vị pháp lý nhất định: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, phạm nhân), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới hành vi phạm tội (người bị hại, người có quyền lợi liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự) và người tham gia đảm bảo cho quá trình tiến hành tố tụng được khách quan, đúng pháp luật (người bào chữa, người đại diện cho đương sự, người phiên dịch, người làm chứng, người giám định). Khả năng tiếp cận của những người tham gia tố tụng đối với các cơ quan tố tụng hình sự được thể hiện ở các quyền tiếp cận được pháp luật quy định, khả năng thực hiện những quyền này và sự đảm bảo từ phía các cơ quan tố tụng - khả năng có quyền và thực hiện quyền của chủ thể trong mối quan hệ với các cơ quan tố tụng hình sự.

1.2. Quyền tiếp cận của những người tham gia tố tụng và khả năng đảm bảo từ các cơ quan tố tụng hình sự

Khả năng tiếp cận của những người tham gia tố tụng đối với cơ quan tố tụng hình sự theo quy định của Chương IV BLTTHS có thể được khái quát thành các quyền cơ bản là: Quyền được yêu cầu giải thích lý do, quyền và nghĩa vụ về những vấn đề liên quan; Quyền được nhận các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; Quyền trình bày ý kiến, đưa ra quan điểm tranh luận; Quyền được xem, đọc các biên bản và có ý kiến sửa chữa, bổ sung; Quyền được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng; Quyền bào chữa; Quyền khiếu nại, tố cáo, kháng cáo; Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, khả năng về các quyền nêu trên của những người tham gia tố tụng có được thực hiện trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào địa vị pháp lý của mỗi chủ thể và sự đảm bảo của các cơ quan tố tụng hình sự trong việc thực thi các quy định pháp luật có liên quan. Dưới đây là thực trạng thực hiện những quyền này mà nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được:

1.2.1. Quyền được yêu cầu giải thích lý do, quyền và nghĩa vụ về những vấn đề liên quan trong tố tụng

Trên thực tế thực hiện quyền này, vì nhiều lý do khác nhau (người tham gia tố tụng không quan tâm, quy định của luật không cụ thể và khả thi) hầu như những người tham gia tố tụng không đề nghị cơ quan, người tiến hành tố tụng giải thích cho mình, đặc biệt là đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bởi vì họ luôn bị động, ở vị thế yếu hơn so với những người tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, những người tiến hành tố tụng cũng không thực sự làm hết trách nhiệm phải giải thích cặn kẽ cho những người tham gia tố tụng mà thường chỉ thông báo về quyền và nghĩa vụ (chủ yếu là đọc cho người tham gia tố tụng nghe) hoặc khuyến cáo về trách nhiệm hình sự nếu người tham gia tố tụng không chịu khai báo, hoặc khai báo gian dối nên trong thực tế có nhiều biên bản của cơ quan tiến hành tố tụng không thể hiện đúng quy định của pháp luật là phải ghi rõ về việc giải thích vào biên bản.

1.2.2. Quyền được nhận quyết định, văn bản của các cơ quan tố tụng hình sự

Trong thực tế có nhiều trường hợp, quyền được nhận bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và các quyết định khác của cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam chưa được tôn trọng. Bởi vì, đối với bị can, bị cáo bị tạm giam, tất cả các văn bản trên sau khi được các cơ quan tiến hành tố tụng tống đạt thì có thể bị Giám thị trại giam thu giữ nên không thể nắm rõ những nội dung, viện dẫn các căn cứ, lý lẽ và đánh giá các chứng cứ, quyền và nghĩa vụ của mình để có cơ sở đưa ra đề nghị, kháng cáo, kháng nghị... và như vậy đã hạn chế việc thực hiện các quyền khác của bị can, bị cáo (ví dụ, như quyền bào chữa).

Ngoài ra, thực tế các quy định pháp luật hiện nay còn cho thấy rằng khả năng tiếp cận các quyết định, văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự giữa những người tham gia tố tụng cũng không có sự bình đẳng về quyền (ví dụ, như quyền được cấp bản án, trích lục án). Về nguyên tắc, tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền được nhận bản án, trích lục án nhưng pháp luật (Điều 229 BLTTHS) không quy định quyền này cho một số người tham gia tố tụng như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch là không bình đẳng.

1.2.3. Quyền trình bày ý kiến, đưa ra quan điểm tranh luận

Trên thực tế thực hiện các quyền này, do ở vị thế yếu hơn so với những người tiến hành tố tụng, đặc biệt trong trường hợp này liên quan đến tố tụng hình sự nên những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường chỉ thực hiện “nghĩa vụ trả lời” những người tiến hành tố tụng. Còn đối với người bào chữa, việc đưa ra ý kiến tranh luận cũng chỉ thường tập trung vào giai đoạn xét xử, bởi vì họ cho rằng xét xử là quá trình thẩm vấn, tranh luận công khai, trực tiếp giữa những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng về tất cả các chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra nhằm xác định sự thật khách quan của vụ việc, để trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nguyên tắc, tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền đưa ra ý kiến, quan điểm tranh luận nhưng trên thực tế nếu sự tham gia, đưa ra ý kiến tranh luận vì những quyền lợi liên quan thì họ tham gia, thực hiện tích cực còn nếu tham gia, thực hiện vì nghĩa vụ thì họ thường trì hoãn, trốn tránh, chỉ khi không thể trốn tránh được thì họ mới thực hiện nghĩa vụ tham gia của mình (ví dụ, sự tham gia của người làm chứng, người bào chữa trong trường hợp được cơ quan tiến hành tố tụng mời bào chữa theo quy định của pháp luật). Hơn nữa, Điều 218 BLTTHS quy định những người sau được tham gia đối đáp: Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày những ý kiến về luận tội của kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; kiểm sát viên phải đư­a ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến. Nhưng qua thực tiễn các phiên tòa hình sự thì những người làm chứng, người giám định hầu như không được tham gia đối đáp, tranh luận khi có ý kiến khác nhau về một sự việc. Theo thứ tự tham gia tranh tụng tại Điều 217 BLTTHS[1] thì người làm chứng, người giám định, người phiên dịch không được tham gia tranh tụng.

1.2.4. Quyền được xem, đọc và có ý kiến sửa chữa, bổ sung vào biên bản làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng

Trên thực tế, những người tiến hành tố tụng thường chỉ đọc quyền này cho những người tham gia tố tụng nghe và rất ít khi giải thích quyền này nên trong hầu hết các vụ án từ giai đoạn điều tra, những người tham gia tố tụng không yêu cầu xem lại biên bản làm việc với các cơ quan tố tụng, kể cả trường hợp không đồng tình với những diễn biến trong quá trình điều tra, tại phiên toà cũng như phần nhận định, phần quyết định của bản án, nhất là đối với những vụ án mà bị cáo bị tạm giam, trừ trường hợp người tiến hành tố tụng chủ động yêu cầu họ đọc, xem lại biên bản. Bởi vì, ở vị thế của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì họ không dám đề nghị được xem, đọc lại các biên bản của các cơ quan tiến hành tố tụng vì sợ những đề nghị của mình sẽ gây ấn tượng không tốt đối với người tiến hành tố tụng và có thể bất lợi cho mình. Ngoài ra, việc quy định về quyền được xem, đọc lại và có ý kiến sửa chữa, bổ sung vào biên bản làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có sự phân biệt, chưa bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng.

1.2.5. Quyền được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng

Thực tế cho thấy, người tham gia tố tụng thực hiện quyền này rất khó khăn, đặc biệt là các bị can, bị cáo bị tạm giam, bởi vì hầu hết những người giám định trong những vụ án cần trưng cầu giám định đều không được triệu tập ra toà, hơn nữa việc chứng minh những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch không khách quan, vô tư thì vô cùng khó khăn, một mặt là do trình độ nhận thức, ý thức pháp luật của người tham gia tố tụng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phần lớn còn hạn chế và mặt khác là họ không muốn có sự va chạm với những người tiến hành tố tụng khi mà những quyền, nghĩa vụ của mình đang bị phán xét bởi các cơ quan tố tụng. Điển hình cho thực tế này là trong nhiều vụ việc xét xử mà bị cáo là người chưa thành niên, theo quy định của Điều 307 BLTTHS thì Hội đồng xét xử phải có một hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Việc quy định này nhằm đảm bảo sự khách quan, toàn diện, có tính đến yếu tố tâm sinh lý của người chưa thành niên để đảm bảo tốt nhất quyền, lợi ích của họ. Tuy nhiên, trong thực tế quyền của bị cáo trong nhiều trường hợp chưa được đảm bảo nghiêm túc, các phiên toà xử bị cáo là người chưa thành niên phổ biến không đúng thành phần như quy định của pháp luật nhưng không chỉ bị cáo mà ngay cả những người khác biết được điều này cũng không thực hiện quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng bởi vì họ đều có tâm lý sợ rằng việc yêu cầu của mình sẽ gây rắc rối, bực tức cho Hội đồng xét xử và cũng bất lợi cho bị cáo, đồng thời việc đề nghị thay đổi hội thẩm sẽ dẫn đến việc hoãn phiên toà đã lên lịch từ trước mà nếu thay đổi thì không thể ngay lập tức mời được thành phần thay thế trong khi mỗi thành phần của Hội đồng xét xử nếu muốn hiểu nội dung vụ việc thì phải có thời gian chuẩn bị nghiên cứu hồ sơ vụ việc từ trước.

Ngoài ra, việc quy định về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng cũng có sự không bình đẳng. Ví dụ, theo quy định của Điều 43 BLTTHS thì người làm chứng không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Pháp luật không quy định quyền của người làm chứng được mời luật sư tham gia trong hoạt động làm chứng nên chỉ người làm chứng mới biết được người tiến hành tố tụng có thật sự khách quan, vô tư trong khi lấy lời khai hay không, nên trong trường hợp có căn cứ rõ ràng người tiến hành tố tụng không khách quan trong việc lấy lời khai của nhân chứng và không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng nhằm buộc tội cho bị cáo (những hành vi biểu hiện sự không vô tư khách quan thường xảy ra là: Hỏi nhân chứng có tính chất gợi ý, nhân chứng biết nhiều thì không hỏi hoặc hỏi qua loa, nhân chứng không biết rõ và có thể đưa ra ý kiến phù hợp với hướng điều tra thì lại được hỏi nhiều...) thì việc không quy định cho người làm chứng có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng đã hạn chế sự khai báo trung thực của người làm chứng và ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án. Do đó, việc quy định cho người làm chứng quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng là cần thiết, đảm bảo sự bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng và đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, Chương III BLTTHS quy định những trường hợp thay đổi người tiến hành tố tụng, tuy nhiên tại Chương II BLTTHS lại có quy định một số trường hợp người tham gia tố tụng có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch nhưng lại chưa quy định cụ thể về quyền của người giám định, người phiên dịch được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

1.2.6. Quyền bào chữa

Pháp luật quy định quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là mang tính bình đẳng nhưng về mặt tâm lý và thực tế thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo luôn ở trạng thái bị động (bị động khi phải trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng, phần lớn số người bị tạm giữ, bị can, bị cáo do hạn chế về trình độ nhận thức nên không thể có đầy đủ tri thức liên quan đến vụ việc như những người tiến hành tố tụng, bị động về những diễn biến xảy ra trong quá trình làm việc với các cơ quan tiến hành tố tụng….) và với vị thế yếu hơn nên trong hầu hết các trường hợp họ không thể tự bào chữa cho mình, đồng thời cũng ít thực hiện quyền mời luật sư bào chữa cho mình do chi phí thuê luật sư tương đối cao so với điều kiện của phần lớn những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, hoặc có luật sư bào chữa thì do những người thân thích của họ bỏ tiền mời và hầu như chỉ mời luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi ở giai đoạn xét xử. Thực tế trên không chỉ thể hiện ở giai đoạn điều tra mà còn thể hiện rõ ở phiên toà mặc dù việc thực hiện quyền bào chữa là trực tiếp, công khai, không bị hạn chế về thời gian hay bị chi phối, ảnh hưởng của bất cứ cơ quan nào về toàn bộ nội dung, căn cứ pháp lý của vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Trên thực tế, quyền nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đặc biệt là đối với những bị can, bị cáo bị tạm giam là quyền quan trọng nhất nhưng trong nhiều trường hợp không được tôn trọng. Các yêu cầu mời người bào chữa của bị can đang bị tạm giam trong nhiều trường hợp không được điều tra viên đáp ứng, những yêu cầu về việc mời luật sư không được điều tra viên chuyển hay trì hoãn chuyển cho luật sư, người thân thích thậm chí nếu điều tra viên yêu cầu bị can, bị cáo không mời luật sư thì bị can, bị cáo dễ dàng chấp nhận do không muốn tình trạng của mình bị xấu đi hoặc nếu được người đại diện hợp pháp mời người bào chữa thì thủ tục đối với người bào chữa cũng rất phức tạp.

Đối với những trường hợp theo quy định của khoản 2 Điều 57 BLTTHS thì nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình và có quyền có sự tham gia của người giám hộ (trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên hay có nhược điểm về thể chất hay tâm thần) để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của họ. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, luật sư bào chữa bắt buộc thường chỉ tham gia bào chữa tại phiên toà theo sự phân công và trong những trường hợp này luật sư thường miễn cưỡng thực hiện sứ mệnh bào chữa của mình đối với bị cáo; sự chuẩn bị và tận tâm cho việc bảo vệ quyền lợi của người được bào chữa trong những trường hợp này phần nhiều mang tính chiếu lệ, thủ tục và không thực sự vì quyền của người được bào chữa.

Theo quy định của pháp luật, một quyền quan trọng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là mời người bào chữa cho mình và để thực hiện tốt nhiệm vụ bào chữa cho thân chủ khi được mời tham gia bào chữa thì người bào chữa có những quyền nhất định. Về nguyên tắc, người bào chữa được sử dụng các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và các quyền khác trong tố tụng hình sự để bảo vệ có hiệu quả nhất quyền, lợi ích thân chủ của họ, vì vậy, pháp luật quy định người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi một người bị tạm giữ, trừ trường hợp đặc biệt do luật định (Điều 56 BLTTHS).

Những quy định về quyền của người bào chữa như nêu trên có ý nghĩa nâng cao trách nhiệm của người bào chữa, tăng tính dân chủ của việc tranh tụng trong tố tụng hình sự, đồng thời đảm bảo cho người bào chữa khả năng tiếp cận tốt nhất đối với các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình. Tuy nhiên, trên thực tế, người bào chữa muốn thực hiện các quyền tiếp cận nêu trên cũng gặp nhiều khó khăn: một là, ở giai đoạn điều tra, người bào chữa (luật sư) thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận Cơ quan điều tra để có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án vì theo Điều 56 BLTTHS, để được thực hiện quyền của mình thì người bào chữa còn phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án cấp giấy chứng nhận bào chữa, mặc dù trong hầu hết những người bào chữa là luật sư đã có Thẻ luật sư. Chính vì vậy, trên thực tế Cơ quan điều tra thường từ chối, viện nhiều lý do để không đáp ứng quyền mời người bào chữa của bị can, bị cáo, bởi vì, về mặt tâm lý, nhiều điều tra viên không muốn có sự xuất hiện của người bào chữa chứng kiến công việc của họ nếu không muốn nói là sự tham gia đó sẽ gây khó khăn cho công việc điều tra. Thậm chí để vượt qua sự tiếp cận của luật sư đối với vụ án là việc không hợp tác lẫn nhau. Ví dụ, như điều tra viên không muốn cho luật sư biết về thời gian, địa điểm, chương trình thẩm vấn; khi các luật sư muốn điều tra viên thực hiện việc thẩm vấn để họ có thể tham dự thì điều tra viên thường lấy lý do là quá bận, hoặc từ chối sự tham gia của luật sư bằng lý do không có sự thoả thuận thuê luật sư do chính bị can ký mà chỉ do người thân thích của bị can ký. Những khó dễ trong việc tiếp cận đó làm cho luật sư phải mệt mỏi và nhiều trường hợp phải bỏ cuộc, khả năng tiếp cận vụ án không thực hiện được. Từ đó, để thực hiện được khả năng tiếp cận của mình đối với vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho thân chủ, nhiều luật sư tìm cách tiếp cận, xây dựng các mối quan hệ cá nhân với những người tiến hành tố tụng. Hai là, trong giai đoạn xét xử, vai trò của luật sư còn mờ nhạt. Tại phiên toà luật sư chỉ được hỏi sau khi Hội đồng xét xử và kiểm sát viên đã hỏi xong, chỉ được đối đáp với kiểm sát viên hai lần trong khi tranh luận, hầu như không được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm (người bào chữa chỉ được thẩm phán triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm khi xét thấy cần thiết - Điều 280 BLTTHS)[2].

Cũng như các quyền khác nêu trên, việc quy định về quyền bào chữa cũng chưa có sự bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng. Ví dụ, về nguyên tắc, người làm chứng với tư cách công dân đầy đủ nên họ phải có đầy đủ quyền như những người tham gia tố tụng nhưng trên thực tế họ không có một số quyền nhất định như: quyền được mời người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng; quyền đề nghị trưng cầu giám định để xác định mức độ hạn chế về tâm thần và thể chất của mình; quyền được mời người giúp đỡ trong trường hợp có hạn chế về thể chất (như bị câm, điếc); quyền được mời và thay đổi người giám hộ (đối với người làm chứng là người chưa thành niên)...

1.2.7. Quyền khiếu nại, tố cáo, kháng cáo

Trên thực tế, những người tham gia tố tụng ít khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà chủ yếu thực hiện quyền kháng cáo khi có bản án. Về mặt tâm lý, những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường lo sợ, không dám thực hiện các quyền khiếu nại, tố cáo của mình vì cho rằng việc khiếu nại, tố cáo có thể làm cho tình trạng thân phận của mình gặp nhiều rắc rối hơn, thậm chí trong trường hợp họ có khiếu nại, tố cáo thì quyền của họ cũng chưa thực sự được tôn trọng, không được các cơ quan, người tiến hành tố tụng quan tâm giải quyết đúng pháp luật; nếu có được xem xét thì chủ yếu là sự đối phó chứ chưa phải là trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng; có trường hợp việc khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn bị gây khó dễ, trù dập. Trong trường hợp kháng cáo bản án, quyết định của Toà án, nếu không có luật sư hay những người bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người thân thì hầu hết các trường hợp bị cáo chỉ viết đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, kêu oan mà không nêu ra được những cơ sở pháp lý hay những tình tiết cụ thể, bởi vì như trình bày ở trên, việc cấp bản án, quyết định cho người bị kết án thường chậm, bị cáo đang bị tạm giam phần nhiều không biết đến các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, ngoài bản án được nhận và không có những tài liệu khác và không có thời gian để nghiên cứu kỹ bản án nên khó có thể thực hiện tốt quyền kháng cáo của mình. Ngoài ra, những quy định về việc giao bản án đã hạn chế quyền kháng cáo của người bị kết án, bởi vì theo quy định của Điều 239 BLTTHS thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, trong khi đó theo quy định tại Điều 239 thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án nên đã hạn chế quyền kháng cáo của bị cáo. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 239 BLTTHS thì giữa những người tham gia tố tụng cũng không có sự bình đẳng về quyền kháng cáo. Bên cạnh đó, quyền khiếu nại, tố cáo, kháng cáo của một số người tham gia tố tụng cũng chưa được pháp luật quy định một cách bình đẳng. Ví dụ, theo quy định của Điều 231 BLTTHS thì hầu như những người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo nhưng người phiên dịch, người giám định, người làm chứng không có quyền này mặc dù trên thực tế họ hoàn toàn có quyền kháng cáo đối với phần nhận định về kết luận giám định, lời chứng hay lời phiên dịch của họ nếu có sự sai sót hay đánh giá không khách quan. Một minh chứng nữa cho sự chưa bình đẳng về quyền khiếu nại, tố cáo của những người tham gia tố tụng là theo quy định của Điều 55 BLTTHS thì người làm chứng không có quyền tố cáo.

1.2.8. Quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần

Trên thực tế đối với những người bị oan, việc yêu cầu bồi thường nếu không thương lượng được mà phải yêu cầu Toà án xét xử thì phải mất nhiều thời gian, công sức để có thể có được phán quyết về việc bồi thường và trên thực tế mức bồi thường theo quy định hiện nay chưa thực sự tương xứng với những tổn thất cả về vật chất và tinh thần của người bị oan…

II. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ THEO CÁC ĐỐI TƯỢNG TIẾP CẬN

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát việc tiếp cận, những người được hỏi trả lời các câu hỏi về việc họ tiếp cận thông tin pháp luật ở đâu và họ có sử dụng các thiết chế pháp luật hay không. Nhằm đảm bảo ý kiến của người dân về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận, những người được hỏi đã trả lời các câu hỏi về tầm quan trọng của một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định của họ có khởi kiện hoặc đưa vụ việc ra cơ quan có thẩm quyền giải quyết hay không và tầm quan trọng của một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ việc.

Kết quả khảo sát cho thấy, mức độ tiếp cận thông tin pháp luật và các thiết chế pháp luật là thấp và người dân cho rằng kết quả giải quyết vụ việc phụ thuộc chủ yếu vào tính minh bạch và sự công minh hơn là yếu tố chi phí cần thiết để giải quyết vụ việc.

2.1. Thực trạng khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật về tư pháp hình sự

60% số người được hỏi cho rằng các biện pháp phổ biến pháp luật là tốt. Sự khác biệt về địa lý có ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận thông tin pháp luật nói chung và pháp luật về TPHS nói riêng. Những người sống ở thành thị tiếp cận thông tin pháp luật nhiều hơn so với những người sống ở nông thôn và ở miền núi.

Ngoài ra, mức độ tiếp cận thông tin có mối liên hệ qua lại với mức thu nhập của người dân. Kết quả khảo sát cho thấy những người có thu nhập cao hơn thường tiếp cận những nguồn thông tin kể trên nhiều hơn.

Khoảng 71% số người được hỏi không trả lời được câu hỏi về việc họ có thể tìm kiếm thông tin pháp luật ở đâu. Do vậy, mặc dù có những nỗ lực tốt nhất đã được thực hiện và sự đánh giá khá tích cực về công tác phổ biến pháp luật nhưng kết quả khảo sát đã cho thấy việc tiếp cận thông tin pháp luật của người dân là rất hạn chế.

2.2. Thực trạng khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng

Chỉ có 14% số người được hỏi trả lời họ hiểu biết nhiều về Tòa án và 29% số người được hỏi trả lời họ không biết đến Tòa án. Chỉ có 10% số người được hỏi trả lời họ biết nhiều về cơ quan kiểm sát và 46% số người được hỏi cho rằng họ không biết gì về cơ quan kiểm sát.

Mức độ hiểu biết về Tòa án và cơ quan kiểm sát giảm tương ứng với mức giảm thu nhập của người được phỏng vấn. 42% số người có thu nhập thấp trả lời là họ không biết Tòa án, trong khi chỉ có 9% số người có thu nhập cao không biết Tòa án. Tương tự, 60% số người có thu nhập thấp trả lời là họ không biết cơ quan kiểm sát, trong khi chỉ có 28% số người có thu nhập cao không biết cơ quan kiểm sát.

Nếu so sánh mối tương quan giữa sự hiểu biết với yếu tố địa lý thì thấy rằng những người sống ở nông thôn, đặc biệt là ở miền núi có vẻ biết đến Tòa án và cơ quan kiểm sát ít hơn những người sống ở thành thị. Cụ thể, 51% số người sống ở miền núi, 36% số người sống ở nông thôn và 10% số người sống ở thành thị không biết về Tòa án. Tỷ lệ không biết về cơ quan kiểm sát của các đối tượng nêu trên tương ứng là 64%, 61% và 8%.

Mức độ hiểu biết về cơ quan Công an khá hơn nhiều, 34% số người được hỏi cho rằng họ hiểu biết nhiều về cơ quan Công an, và chỉ có 8% số người được hỏi không biết gì về cơ quan Công an.

2.3. Thực trạng khả năng tiếp cận của nhân dân đối với các thiết chế bổ trợ tư pháp

Khi xem xét các thiết chế bổ trợ, kết quả khảo sát cho thấy luật sư, trung tâm trợ giúp pháp lý và tổ hòa giải ở cơ sở đóng vai trò còn hạn chế khi chỉ một số ít người dân đã tiếp cận với chúng.

Những kết quả nêu trên có lẽ cho thấy rằng hệ thống tư pháp cũng như các thiết chế bổ trợ, bao gồm trung tâm trợ giúp pháp lý, tổ hoà giải ở cơ sở và luật sư, được coi là bước trông cậy cuối cùng. Có thể có nhiều nguyên nhân lý giải tại sao hệ thống tư pháp mà cụ thể là Tòa án lại ít được lựa chọn bởi người dân, nhất là những người sống ở nông thôn và những người sống ở miền núi. Thiếu hiểu biết về Tòa án có thể là một trong số các nguyên nhân. Người dân nhờ nhiều vào cơ quan Công an và Uỷ ban nhân dân có lẽ là bởi vì các cơ quan này giải quyết trực tiếp những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày của người dân. Hơn nữa, các cán bộ, viên chức của các cơ quan này thường sống cùng với dân trong địa bàn quản lý của họ và do đó, họ có thể hiểu những vấn đề mà người dân hàng ngày đang phải đối mặt.

III. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA CÁC NHÓM NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

3.1. Thực trạng khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự của nhóm nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế về mặt bằng dân trí, khó khăn về đời sống kinh tế - xã hội, gắn đậm với những phong tục tập quán truyền thống - đặt ra yêu cầu cần có phương pháp, cách làm phù hợp với đặc điểm, đặc thù của từng vùng, từng đối tượng cụ thể. Do đó cách thức tiếp cận của nhân dân các vùng này về hệ thống TPHS của từng nơi cũng khác nhau.

Vấn đề phổ biến hệ thống TPHS để cho nhân dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hiện nay chưa mang tính hệ thống mà việc phổ biến chủ yếu vẫn dựa vào các điều kiện kinh tế, xã hội, đặc điểm về vùng miền; chưa có những chương trình phổ biến pháp luật theo một hệ thống riêng biệt giữa các ngành luật với nhau để nhân dân ở những vùng này được tiếp cận theo hướng hoàn thiện bởi vì khi Nhà nước ban hành một văn bản luật thì để tuyên truyền, phổ biến được thì phải chờ văn bản dưới luật hướng dẫn văn bản đó nên các địa phương vẫn mang tính thụ động, mà chủ yếu tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hệ thống TPHS thông qua các hình thức sau:

Một là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hình thức truyền thanh là đọc các văn bản pháp luật trong Công báo được phát hoặc đăng tải các văn bản lên các trang báo của địa phương;

Hai là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các tờ rơi, in hình các phiên Toà xét xử, băng rôn, khẩu hiệu hoặc các hành vi vi phạm pháp luật thường gặp đối với nhân dân ở vùng núi, vùng sâu và vùng xa;

Ba là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các buổi họp dân do già làng, trưởng bản triệu tập (những buổi triệu tập này có thể lồng ghép với các chương trình khác của làng, bản như vấn đề xoá đói, giảm nghèo, tư vấn hoặc khám sức khoẻ miễn phí cho đồng bào...) để già làng, trưởng bản hoặc cán bộ Tư pháp tuyên truyền các vấn đề liên quan đến hệ thống TPHS;

Bốn là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các buổi xét xử lưu động đối với các đối tượng vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh trật tự, vấn đề khủng bố và xâm phạm an ninh quốc gia... nhằm răn đe các phần tử vi phạm an ninh trật tự, có ý định chống phá, chia rẽ dân tộc. Hình thức tuyên truyền này có hiệu quả vì đối tượng vi phạm pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người dân, gia đình người vi phạm pháp luật sẽ nắm được tội danh của người vi phạm và chế tài mà điều luật quy định.

Tuy nhiên, các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục người dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa về hệ thống TPHS nước ta còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chính là do:

Thứ nhất, Các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở vùng núi, vùng sâu, vùng xa đã buông lỏng công tác nắm tình hình cơ sở, không sát dân, quan liêu, xa rời quần chúng. Có nơi cả năm không tổ chức họp tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên không nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người dân cho nên nhân dân không hiểu biết nhiều về pháp luật;

Thứ hai, năng lực của đội ngũ cán bộ vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn yếu kém. Tỷ lệ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên thấp hơn nhiều so với các khu vực khác. Nhiều cán bộ không biết tiếng dân tộc, thiếu am hiểu phong tục tập quán của đồng bào nên không yên tâm gắn bó với đồng bào, với địa phương nơi công tác.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số vừa thiếu lại vừa yếu. Trình độ cán bộ là người dân tộc cũng không đồng đều và còn nhiều hạn chế, khả năng thuyết phục, tập hợp quần chúng yếu. Do đó, khi gặp phải những vấn đề mới, phức tạp thì tỏ ra lúng túng. Một số cán bộ, đảng viên ở những điểm nóng đã từng bị khống chế, tránh va chạm, hoạt động cầm chừng, bản lĩnh chính trị, lòng trung thành bị lu mờ. Vai trò cán bộ tự quản ở buôn, làng còn yếu, có một số bị lũng đoạn, hoạt động hai mặt. Một số cán bộ ở với dân, hằng ngày gần dân nhưng không nắm được hoặc không chịu phản ánh với cấp trên về hoạt động tiêu cực của bọn xấu, bọn phản động.

Thứ tư, ngoài việc đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào vùng núi, vùng sâu, vùng xa thì hàng năm Nhà nước cần phải dành một phần kinh phí cho việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân hiểu, biết các văn bản Nhà nước đã ban hành để chấp hành.

Thứ năm, hình thức tổ chức tuyên truyền, phổ biến còn nghèo nàn, không có tính sáng tạo do năng lực cán bộ cơ sở yếu. Do trình độ học vấn, có nhiều nơi người dân chưa biết tiếng phổ thông; mức thụ hưởng thông tin (báo, đài, ấn phẩm và các phương tiện truyền thông đại chúng) còn thấp, ít ỏi và chậm; lực lượng cán bộ làm công tác truyền thông còn rất thiếu và yếu. Bên cạnh đó các thế lực thù địch lợi dụng, kích động, xuyên tạc, chống phá ta bằng cách len lỏi vào các vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh. Cho nên cần nhận thức đúng và có biện pháp kịp thời, đủ sức, đủ lực cho cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên mặt trận giáo dục chính trị tư tưởng nói chung và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng cho nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa.

3.2. Thực trạng khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự của nhóm doanh nhân

3.2.1. Sự nhận thức của doanh nhân về lĩnh vực tư pháp hình sự liên quan đến hoạt động kinh doanh

Tình hình thực tế cho thấy số lượng doanh nghiệp hiện đang hoạt động tại Việt Nam là rất lớn nhưng số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ pháp lý và có hệ thống tư vấn pháp lý riêng còn rất ít. Hơn nữa, hệ thống tư vấn này cũng chỉ tập trung hoạt động trong lĩnh vực tư vấn về hợp đồng, đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng đúng pháp luật, mục đích thu được lợi nhuận cao nhất… tức là chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế. Nhưng trên thực tế, cùng với quá trình hoạt động kinh doanh thì những việc làm của họ lại luôn đi song song và thậm chí đã bị hệ thống TPHS điều chỉnh nhưng chính bản thân họ lại không hề biết điều này. Như vậy thì chúng ta cần phải đánh giá sự hiểu biết của họ đối với hệ thống TPHS này như thế nào?

Nhìn thẳng vào thực tế cho thấy, sự hiểu biết của giới thương nhân về pháp luật hình sự là rất thấp. Một ví dụ rất đơn giản như việc doanh nghiệp trốn thuế; hoặc ở một số doanh nghiệp, giám đốc và kế toán trưởng thường liên kết với nhau làm trái với nguyên tắc quản lý kinh tế và nguyên tắc kế toán với mục đích cá nhân hoặc làm lợi cho công ty. Tuy nhiên, do chỉ khi ở một giới hạn nhất định nào đó thì những hoạt động này mới bị hệ thống pháp luật hình sự điều chỉnh nên đã làm cho các thương nhân khó có thể nhận biết được mình phạm tội từ lúc nào, tức là đến khi nào mình bị hệ thống pháp luật hình sự điều chỉnh.

Trên thực tế, thi hành pháp luật cũng như áp dụng pháp luật nhiều khi chính các nhà làm luật cũng chưa đồng nhất quan điểm trong việc phân biệt tranh chấp kinh tế với tội phạm về kinh tế ở một số tội danh cụ thể. Tức là họ chưa xác định được một cách rõ ràng hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi vi phạm của các chủ thể.

Chỉ có một số ít doanh nghiệp lớn như Tổng Công ty, các Công ty lớn có Phòng Pháp chế hoặc có luật sư tư vấn thường xuyên, còn lại họ chỉ thuê luật sư khi cần thiết. Tuy nhiên, hoạt động của Phòng Pháp chế hay các luật sư tư vấn cho các thương nhân này vẫn chủ yếu là tập trung vào việc hỗ trợ hoạt động kinh doanh cho các thương nhân. Phần lớn các doanh nghiệp còn lại họ thường tinh giảm bộ máy quản lý đến mức tối thiểu nhằm hạn chế chi phí đến mức tối đa. Đối với các doanh nghiệp nhỏ hoặc các cá nhân kinh doanh thì hoạt động hỗ trợ pháp luật của luật sư hầu như là không có. Trên thực tế, số lượng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ pháp lý chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh... Còn lại các doanh nghiệp ở các tỉnh và thành phố khác họ đã ít có điều kiện tiếp xúc với các thông tin văn hoá, chính trị, pháp luật... lại ít sử dụng dịch vụ pháp lý thì khả năng vi phạm pháp luật trong quá trình kinh doanh của họ là rất cao và không thể tránh khỏi. Các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp được ban hành thường xuyên nhưng lại không được các doanh nghiệp cập nhật, chỉ các nhà làm luật và những người hành nghề tư vấn pháp luật cập nhật và nắm bắt trọn vẹn những nội dung này, còn các doanh nghiệp thậm chí có cập nhật, trong nhiều trường hợp cũng không hiểu và không nắm bắt được nội dung một cách trọn vẹn. Như vậy, việc vận dụng các văn bản này vào thực tế hoạt động kinh doanh là rất ít và có nhiều khi các văn bản này lại được vận dụng không đúng tinh thần của nó do bị hiểu sai hoặc thậm chí là cố tình hiểu sai.

Ngoài ra, việc thương nhân ít quan tâm đến pháp luật hình sự và ít sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật của luật sư và các tổ chức tư vấn pháp lý khác còn có một nguyên nhân nữa rất quan trọng đó là: Thực trạng hiện nay ở nước ta, số lượng luật sư và các tổ chức hành nghề tư vấn pháp lý là rất đông nhưng chất lượng dịch vụ thì lại chưa thật đáng tin cậy. Có thể nói một cách cụ thể hơn: Chúng ta mới chỉ quan tâm đến mặt số lượng nhưng lại chưa củng cố và nâng cao được chất lượng của luật sư. Chính vì vậy, chất lượng của đội ngũ luật sư không đồng đều, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp. Điều này đã làm cho niềm tin vào đội ngũ luật sư và các dịch vụ tư vấn của luật sư trong các doanh nghiệp bị giảm sút và từ đó không tạo được một thói quen vô cùng cần thiết là sử dụng dịch vụ tư vấn của luật sư trong mọi hoạt động của thương nhân.

3.2.2. Sự vận dụng hệ thống tư pháp hình sự của thương nhân trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như vai trò chủ động phòng ngừa, phát hiện tội phạm, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp

Một thực trạng đặt ra là do bản thân không hiểu biết các quy định về pháp luật hình sự điều chỉnh hành vi của giới doanh nhân nên việc vận dụng pháp luật hình sự để tự bảo vệ mình, để phòng ngừa, phát hiện tội phạm và giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp là quá xa vời. Việc không biết vận dụng này thể hiện ở hai khía cạnh: hoặc là không biết hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với hành vi của mình có đúng đắn không hoặc là không biết hành vi của các đối tượng khác trong cạnh tranh với mình đã vi phạm pháp luật hình sự và những đối tượng đó phải chịu chế tài của pháp luật hình sự.

3.3. Thực trạng khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự của nhóm phụ nữ, trẻ em, đối tượng chính sách

3.3.1. Quyền tiếp cận hệ thống tư pháp của các đối tượng chính sách theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Nghiên cứu quyền tiếp cận tố tụng TPHS của các đối tượng chính sách cho thấy, pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam không quy định thủ tục, trình tự tố tụng đặc biệt để áp dụng riêng đối với các đối tượng chính sách (ngoại trừ là đối tượng trẻ em), có nghĩa là, về cơ bản các quyền của các đối tượng này không khác so với các công dân bình thường khác. Riêng đối với đối tượng là người chưa thành niên, BLTTHS có một số quy định để bảo đảm quyền tiếp cận của người chưa thành niên trong trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là nạn nhân hoặc nhân chứng. Đặc biệt, khi họ là bị can, bị cáo thì BLTTHS quy định hẳn một Chương riêng để đảm bảo các quyền và lợi ích của họ.

- Quyền tiếp cận của người chưa thành niên trong trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là nạn nhân hoặc nhân chứng

Theo nhóm nghiên cứu, các quy định về thủ tục xét xử các vụ án mà người chưa thành niên là nạn nhân hay là nhân chứng còn có những bất cập sau:

+ Nhìn chung, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam tương đối đầy đủ để đảm bảo cho nạn nhân nói chung, nạn nhân là người chưa thành niên nói riêng được quyền thông báo và tham gia vào quá trình tố tụng, được quyền bày tỏ quan điểm và những quan điểm này được xem là một nguồn chứng cứ. Việc tham gia vào quá trình tố tụng của người chưa thành niên do cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp thực hiện, trong trường hợp họ trực tiếp tham gia thì có sự trợ giúp từ phía những người này. Tuy nhiên, những quy định này còn hạn chế và chưa đầy đủ. Ví dụ: Tại khoản 2 Điều 52 BLTTHS quy định nạn nhân có quyền được thông báo về kết quả điều tra, tuy nhiên, tại các quy định chi tiết về điều tra thì chỉ quy định việc gửi quyết định tạm đình chỉ điều tra cho nạn nhân (Điều 160), còn trong trường hợp Cơ quan điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra thì luật lại không quy định phải thông báo cho nạn nhân (Điều 162).

+ Mặc dù BLTTHS có các quy định nhằm bảo đảm việc bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng của nạn nhân là trẻ em, nhưng theo chúng tôi các quy định này vẫn chưa đủ bởi các lý do sau:

Thứ nhất, pháp luật mới chỉ quy định việc bảo vệ bí mật do yêu cầu của hoạt động tố tụng mà chưa quy định việc bảo vệ bí mật vì lợi ích của nạn nhân, do đó mới chỉ giới hạn ở những trường hợp cần giữ bí mật điều tra.

Thứ hai, trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ vì thế việc bảo vệ bí mật đời tư của trẻ em là nạn nhân rất quan trọng. Nhưng hiện nay pháp luật chưa ghi nhận quyền của nạn nhân là trẻ em bị lạm dụng được yêu cầu cơ quan điều tra giữ bí mật đời tư của mình thông qua người đại diện hợp pháp.

Trong giai đoạn xét xử, Điều 18 BLTTHS quy định: “trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai”. Như vậy, trẻ em bị lạm dụng với tư cách là đương sự của vụ án có thể thông qua người đại diện hợp pháp yêu cầu Toà án xét xử kín với lý do bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng. Mặc dù vậy, việc Toà án có chấp nhận yêu cầu xét xử kín của đương sự hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào việc Toà án có cho rằng yêu cầu đó là chính đáng hay không. Hơn nữa, việc tuyên án vẫn được tiến hành công khai đã dẫn đến việc bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng của trẻ em bị lạm dụng không được toàn diện và triệt để.

Điều 7 Luật Báo chí có quy định: "đối với vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền không cung cấp thông tin cho báo chí, nhưng báo chí có quyền thông tin theo các nguồn tài liệu của mình". Như vậy, trong quá trình điều tra hoặc chưa xét xử những vụ án có nạn nhân bị lạm dụng là trẻ em thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể không cung cấp thông tin cho báo chí. Nhưng như vậy cũng không có nghĩa là bí mật đời tư và nhận dạng của nạn nhân bị lạm dụng là trẻ em được bảo vệ vì báo chí vẫn có quyền thông tin về vụ án đó theo kênh điều tra riêng của họ.

Ngoài ra, Điều 7 Luật Báo chí cũng có quy định: "báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ tên người cung cấp thông tin nếu có hại cho người đó, trừ trường hợp có yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hoặc Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm nghiêm trọng". Theo quy định này, trong trường hợp người cung cấp thông tin là trẻ em bị lạm dụng thì báo chí không được cung cấp tên của các em. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đủ để bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng trẻ em là nạn nhân bị lạm dụng vì ngoài tên ra thì còn rất nhiều thông tin khác có thể cho phép xác định nhận dạng của trẻ em. Thêm vào đó, Luật chỉ giới hạn việc tiết lộ tên của trẻ em với tư cách là người cung cấp thông tin chứ không phải với tư cách là nạn nhân.

+ Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng khẳng định quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của mỗi cá nhân. BLTTHS mới bổ sung một số quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo vệ nạn nhân, nhân chứng, những người tham gia tố tụng khác, quyền của nhân chứng được yêu cầu bảo vệ, việc bảo vệ nhân chứng tại phiên toà. Có thể cho rằng việc bổ sung những quy định này vào BLTTHS là một điểm tiến bộ của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn một số thiếu sót khiến cho khó có thể bảo đảm việc bảo vệ an toàn cho nạn nhân, nhân chứng trong vụ án hình sự nói chung và cho nạn nhân bị lạm dụng, xâm hại là trẻ em, người thân trong gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của các em đó nói riêng một cách đầy đủ và toàn diện. Trước hết, những quy định trên mới chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung mà chưa có những hướng dẫn cụ thể, do vậy chỉ có thể được thực hiện khi có văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết về đối tượng được bảo vệ (trong đó cần giải thích rõ khái niệm người thân thích của nạn nhân, người làm chứng), các biện pháp bảo vệ cụ thể (thay đổi tên tuổi, nhận dạng, chỗ ở, các thủ tục thu thập chứng cứ đặc biệt như lấy lời khai thông qua kết nối video...), thủ tục yêu cầu được bảo vệ, kinh phí thực hiện những quy định này. Thứ hai, BLTTHS không quy định quyền của nạn nhân của tội phạm nói chung và trẻ em bị lạm dụng nói riêng được yêu cầu bảo vệ khi bị xâm hại hoặc bị đe doạ xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm. BLTTHS cũng mới chỉ quy định  việc bảo vệ nhân chứng tại phiên toà mà chưa đặt ra vấn đề cần phải bảo vệ nạn nhân của vụ án nói chung và nạn nhân bị lạm dụng là trẻ em nói riêng tại phiên toà. Ngoài ra, bản thân những quy định trên cũng còn có mâu thuẫn, chưa hợp lý, cụ thể là theo quy định tại Điều 7 BLTTHS thì đối tượng được bảo vệ bao gồm không chỉ nhân chứng mà cả người thân của họ, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 55 thì nhân chứng chỉ có quyền yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm cho chính bản thân mình mà thôi.

+ Trẻ em là những người chưa phát triển một cách toàn diện và đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần, chính vì vậy các em là những đối tượng dễ bị tổn thương. Bất kỳ hành vi lạm dụng nào đối với trẻ em đều có nguy cơ gây hại cho sức khoẻ, sự phát triển về đạo đức, tinh thần, trí tuệ, thể chất và tâm lý xã hội của trẻ. Do vậy, việc đào tạo chuyên biệt cho những cán bộ làm công tác tư pháp và công tác xã hội như điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư, thẩm phán, các nhân viên cảnh sát, nhân viên dịch vụ y tế, xã hội để có khả năng nắm bắt một cách tinh tế, nhạy cảm những nhu cầu của trẻ em để có những hướng dẫn có thể trợ giúp các em một cách thích hợp có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giải quyết các vụ án mà trẻ em là nạn nhân bị lạm dụng như giúp các em xoá bỏ mặc cảm, tự ti trong cuộc sống để phát triển một cách lành mạnh và toàn diện về xã hội, đạo đức, tinh thần, trí tuệ, thể chất và tâm lý xã hội, hoà nhập với cộng đồng.

Tuy nhiên, BLTTHS  năm 2003 (Điều 302) mới chỉ quy định trong quá trình tiến hành tố tụng đối với người phạm tội là người chưa thành niên, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng phải là những người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên mà không có yêu cầu tương tự đối với những người tiến hành tố tụng trong các vụ án có nạn nhân là trẻ em. Đồng thời, trên thực tế việc đào tạo chuyên biệt cho điều tra viên, luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán, và các hội thẩm toà án trong việc giải quyết các vụ án có người chưa thành niên nói chung cũng chưa được chú trọng. Chính vì vậy, việc bảo đảm quyền tiếp cận của các đối tượng này đối với hệ thống tư pháp vẫn còn có một khoảng cách nhất định so với những tư tưởng nhân văn của Nhà nước dành cho đối tượng này.

- Quyền tiếp cận của người chưa thành niên trong trường hợp họ là bị can, bị cáo

Nhận thức rõ những đặc điểm hết sức riêng biệt của người chưa thành niên phạm tội, BLTTHS đã dành riêng Chương XXXII quy định về thủ tục đặc biệt đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, ngoài những quy định đặc biệt tại Chương XXXII, các cơ quan tiến hành tố tụng còn có thể vận dụng những quy định chung khác của BLTTHS để áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Những quy định này phải không trái với những quy định tại chương XXXII BLTTHS.

Phân tích các quy định của BLTTHS đối với người chưa thành niên phạm tội, nhóm nghiên cứu nhận định, quyền tiếp cận hệ thống TPHS của người chưa thành niên phạm tội đã được pháp luật quy định khá rõ ràng và đầy đủ. Các ý kiến và quyền tham gia của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự được tôn trọng và là thủ tục bắt buộc trong quá trình tố tụng. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản cho người chưa thành niên tham gia vào quá trình xử lý và quyền phát biểu thôi thì chưa đủ - Toà án và các cơ quan tố tụng khác phải tạo một không khí để người chưa thành niên cảm thấy thoải mái và có thể tham gia. Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành mặc dù có một chương riêng quy định thủ tục áp dụng đối với người chưa thành niên, tuy nhiên, cách thức và phương pháp tiến hành tố tụng vẫn như đối với người đã thành niên. Hơn nữa, những người tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra và truy tố đối với người chưa thành niên phạm tội không bắt buộc phải có trình độ cần thiết về tâm lý học, giáo dục học và phải có các kỹ năng khác trong quá trình làm việc với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Do vậy, người chưa thành niên là bị can, bị cáo không có tâm lý thoải mái để có thể tham gia, đưa ra ý kiến để bảo vệ quyền của mình trong quá trình tố tụng.

3.3.2. Chính sách trợ giúp của nhà nước nhằm bảo đảm cho các đối tượng chính sách tiếp cận với hệ thống tư pháp hình sự

Theo các quy định hiện hành và tuỳ từng nội dung vụ việc, người được trợ giúp pháp lý được hưởng các dịch vụ sau: Tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; các hình thức trợ giúp pháp lý khác.

Thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho thấy việc thành lập hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách là sự kiện pháp luật quan trọng, mở đầu cho hướng đi rất tích cực và thiết thực của công tác tư pháp, gắn với đời sống pháp luật của nhân dân đã đáp ứng kịp thời nhu cầu khách quan của nhân dân và thiết thực đưa pháp luật vào cuộc sống, trong đó có pháp luật về TPHS.

Hiện nay, mặc dù Luật Trợ giúp pháp lý đã có hiệu lực thi hành, các văn bản hướng dẫn có liên quan đã được ban hành. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số bất cập: vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 05/2008/TT-BTP, việc các đối tượng muốn trợ giúp pháp lý không cung cấp tài liệu có liên quan hoặc cung cấp những tài liệu, văn bản có lợi cho mình, thủ tục thực hiện đại diện, bào chữa... Để khắc phục những bất cập trên, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính xây dựng Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

Theo quy định của pháp luật, các cơ quan, tổ chức tạo điều kiện cho tổ chức trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý xác minh, tìm hiểu vụ việc hoặc thu thập tài liệu có liên quan. Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện quy định này còn có một số bất cập: đối với cộng tác viên trợ giúp pháp lý khi nhận được vụ việc cần phải xác minh, trao đổi, tham khảo ý kiến với các cơ quan, ban, ngành có liên quan hoặc muốn nghiên cứu hồ sơ lưu trữ tại các cơ quan này nhưng nhiều khi chưa được tạo điều kiện giúp đỡ. Luật sư, cộng tác viên thực hiện đại diện, bào chữa xong muốn xin xác nhận bảng kê về thời gian làm việc tại cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp bị từ chối với lý do bận nên không xác nhận... Cơ quan điều tra chưa tạo điều kiện cho luật sư tham gia đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng. Trong một số trường hợp, điều tra viên không muốn có mặt luật sư tham gia hỏi cung vì cho rằng luật sư tham gia chỉ làm cho vụ việc phức tạp thêm... Thực tế cho thấy nếu có luật sư tham gia hỏi cung và tham gia vào các giai đoạn tố tụng sẽ giúp cho việc xét xử tránh được oan sai, bảo đảm cho Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG III

THAM KHẢO KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

Qua tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Canada, Anh trong việc tăng cường năng lực tiếp cận của người dân đối với hệ thống TPHS, nhóm nghiên cứu đã rút ra một số kết luận sau:

- Tiếp cận với công lý được hiểu là hệ thống các bảo đảm mà nhà nước cung cấp cho người dân có vấn đề về pháp luật (khi quyền lợi bị xâm phạm, khi tham gia các tranh chấp hoặc khi vướng vào các vấn đề pháp luật khác) có thể thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách công bằng.

- Trong thực tiễn lịch sử, các loại bảo đảm tương tự đã từng tồn tại, nhất là trong các phường hội thời trung cổ. Tuy nhiên, bảo đảm bởi nhà nước về việc tiếp cận công lý đó chỉ thực sự ra đời cùng với thực tiễn áp dụng mô hình nhà nước phúc lợi (welfare state) ở các quốc gia phát triển[3]. Tiếp cận với công lý thường được hiểu là tiếp cận với Toà án và cách thức tiếp cận chính là đảm bảo cho người có nhu cầu tiếp cận được hưởng dịch vụ luật sư (dịch vụ đại diện, dịch vụ bào chữa...) một cách cơ bản nhất[4]. Trong khi đối với lĩnh vực dân sự, thương mại, các tranh chấp được giải quyết ngày càng nhiều bằng con đường ngoài Toà án, việc hỗ trợ tiếp cận Toà án với ý nghĩa là cách thức tiếp cận công lý rõ ràng sẽ là không đầy đủ.

- Trợ giúp pháp lý là một phương thức quan trọng đảm bảo sự tiếp cận của người dân đối với hệ thống TPHS. Trong lịch sử tiếp cận hệ thống TPHS của các nước trên thế giới, phương thức này được coi là phương thức có lịch sử sớm nhất, được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những phương thức tiếp cận hệ thống TPHS cho người dân. Chỉ dựa vào phương thức này sẽ không đảm bảo được năng lực tiếp cận hệ thống TPHS của người dân một cách đầy đủ nhất.

- Các phương thức tiếp cận hệ thống TPHS khác: Phương thức phòng ngừa: thiết lập hệ thống thông tin cảnh báo về tội phạm (những chỉ dẫn khu vực có thể gặp nguy hiểm vì bị tội phạm tấn công), các chương trình giúp đỡ nạn nhân (chương trình chống bạo hành trong gia đình chẳng hạn), việc thiết lập các trạm điện thoại công cộng có thể liên lạc trực tiếp với lực lượng công an...

CHƯƠNG IV

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

I. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

Các quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo đảm sự tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS được đề cập ngay sau ngày đất nước giành được độc lập, đầu tiên nó được thể chế hoá và ghi nhận trong bản Hiến pháp năm 1946 như: "Tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 7); "Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam. Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật" (Điều 11); "Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để tham gia ý kiến" (Điều 65); "Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếng nói của mình trước Toà án" (Điều 66); "Các phiên Toà án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt. Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư" (Điều 67).

Theo tiến trình phát triển của lịch sử thì các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về tạo điều kiện cho công dân tiếp cận hệ thống TPHS ngày càng phát triển. Hiến pháp năm 1959 đã thể chế hoá và tiếp tục ghi nhận các quan điểm trên tại rất nhiều điều như: "Các Toà án nhân dân thực hành chế độ thẩm phán bầu theo quy định của pháp luật" (Điều 198); "Việc xét xử ở các Toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật" (Điều 99); "Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm" (Điều 101).

Tiếp theo Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 cũng đã có nhiều quy định tạo cơ sở pháp lý để cho công dân được tiếp cận hệ thống TPHS như: Chế độ bầu cử thẩm phán và hội thẩm nhân dân được thực hiện ở Toà án nhân dân các cấp (Điều 129 và Điều 130); hay "Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 131); Công dân các dân tộc có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của mình trước toà án (Điều 134).

Khi bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có những chính sách nhằm tạo điều kiện cho công dân tiếp cận hệ thống TPHS, các chính sách đó được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 1985, điều này đã được thể hiện rất rõ trong lời nói đầu của Bộ luật này: "Luật hình sự bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân...; thấu suốt quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân... Để nhân dân tiếp cận và trở thành chủ thể đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tại Điều 1 của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã ghi rõ: Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ "giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm".

Đặc biệt, trong những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để nâng cao năng lực tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS. Các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã được thể chế hoá trở thành những quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 bảo đảm cho công dân hoạt động ở các hình thức khác nhau, như dân sự hoặc quân sự đều có quyền tiếp cận các hoạt động tư pháp: "Việc xét xử của Toà án nhân dân có hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia" (Điều 129); hay "Toà án nhân dân xét xử công khai" (Điều 131); hoặc "Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình" (Điều 132). Để tạo thuận lợi cho công dân tiếp cận và kiểm tra, giám sát các hoạt động tư pháp, Điều 135 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Chánh án Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân địa phương. Còn đối với Viện kiểm sát nhân dân thì Hiến pháp năm 1992 cũng quy định: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân địa phương (Điều 139 và Điều 140).

Tiếp theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII nêu lên một số quan điểm về bảo vệ quyền con người trong đó nhấn mạnh vấn đề tiếp cận của công dân đối với hệ thống tư pháp bằng cách hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật để làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp và bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Nghị quyết khẳng định: "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật"[5]. Để công dân tiếp cận được hệ thống tư pháp, có thể tham gia vào một số hoạt động tư pháp, Nghị quyết chỉ rõ: "Củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp...; xây dựng đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án..., công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch vững mạnh"[6].

Dựa trên cơ sở các chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999. Bộ luật có 24 chương với 344 điều. Trong đó, tại Điều 1 Bộ luật Hình sự đã khẳng định rõ công dân có nhiệm vụ đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tức là đã cho phép công dân có quyền tiếp cận với hệ thống TPHS, hoặc quy định các cơ quan công an, viện kiểm sát, toà án có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn công dân nhằm tăng cường sự tiếp cận của công dân trong hoạt động tư pháp như đấu tranh phòng, chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng. Vấn đề này được nêu rõ tại Điều 4 của Bộ luật: Các cơ quan công an, viện kiểm sát, toà án, tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn giúp đỡ "công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng".

Để bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan cho người vô tội, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ đạo cải cách tư pháp để nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan công an, toà án, viện kiểm sát "cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp... Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống Toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của Toà án nhân dân các cấp"[7].

Trong những năm gần đây, Đảng ta luôn luôn chú trọng tới vấn đề cải cách tư pháp để đảm bảo các quyền của công dân khi tham gia hoạt động tố tụng hình sự. Đảng đã chỉ đạo xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó chú trọng đổi mới hoạt động xét xử, kiểm sát và điều tra. Nghị quyết nhấn mạnh: "Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Cải cách tư pháp khẩn trương đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra"[8].

Với quan điểm xây dựng hệ thống tư pháp "dân chủ", bảo vệ "công lý và quyền con người" chính là những chủ trương lớn của Đảng nhằm tăng cường sự tiếp cận của công dân đối với hệ thống tư pháp nói chung và TPHS nói riêng.

Hiện nay, vấn đề tham nhũng đang trở thành "quốc nạn". Các tội phạm tham nhũng phát triển mạnh đã ảnh hưởng lớn tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và gây mất lòng tin của nhân dân. Chính vì vậy, trong 20 năm đổi mới vừa qua văn kiện Đại hội Đảng khoá nào cũng nhấn mạnh tới vấn đề phòng, chống tham nhũng. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X không chỉ nhấn mạnh vấn đề đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, mà còn nhấn mạnh xây dựng cơ chế để tăng cường sự tiếp cận của công dân đấu tranh phòng, chống loại tội này, đồng thời phải có biện pháp bảo vệ các công dân đã phát hiện, tố cáo các hành vi tham nhũng. Nghị quyết nêu rõ: "Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai những người tham nhũng... Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ..."[9].

Thể chế các quan điểm, chủ trương của Đảng, năm 2003, Nhà nước ta đã ban hành BLTTHS với các quy định và chính sách nhằm tăng cường sự tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS. BLTTHS đã quy định việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội (Điều 5). Tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 của Bộ luật đã quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể và quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân. Thực hiện sự tiếp cận của công dân đối với hệ thống tư pháp dưới hình thức đại diện, BLTTHS đã quy định sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong xét xử (Điều 15). Hội thẩm nhân dân chính là người đại diện cho nhân dân tham gia tiến hành xét xử các vụ án hình sự, ngang quyền với thẩm phán: "Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" (Điều 16). Để mọi người dân đều có thể tiếp cận với hệ thống TPHS, BLTTHS đã khẳng định: "Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ những trường hợp do Bộ luật này quy định" (Điều 18).

BLTTHS đã có những quy định ưu việt để công dân khi tham gia tố tụng hình sự được quyền bình đẳng đưa ra chứng cứ, tài liệu và tranh luận dân chủ trước phiên toà: "bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án" (Điều 19).

Điều 25 của BLTTHS đã quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, như có quyền và nghĩa vụ phát hiện và tố giác hành vi phạm tội, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều luật cũng đã khẳng định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để công dân tham gia các hoạt động tố tụng hình sự, phải trả lời về việc giải quyết các tin báo, tố giác tội phạm cho người đã tố giác. Với những quy định này cho thấy Nhà nước ta đã có nhiều quy định, nhiều chính sách để tạo điều kiện cho công dân tiếp cận hệ thống TPHS.

BLTTHS cũng quy định rất cụ thể về cho phép công dân có quyền khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Các cơ quan có thẩm quyền phải xem xét trả lời kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 31). Công dân có quyền giám sát gián tiếp các hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan tố tụng bằng cách thông qua Mặt trận Tổ quốc, các thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đại biểu dân cử. Nếu phát hiện có sai trái thì cơ quan tố tụng phải trả lời những yêu cầu của các cơ quan là thành viên của Mặt trận Tổ quốc hoặc đại biểu dân cử. Ngoài những quy định trên, BLTTHS còn có những quy định rất cụ thể như trong trường hợp phạm tội quả tang thì mọi công dân đều có quyền bắt giữ hoặc người làm chứng được mời tham gia hoạt động điều tra, người chứng kiến có quyền nêu ý kiến của mình trong hoạt động tố tụng hình sự.

Có thể nói, BLTTHS đã có nhiều quy định nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của công dân trong hệ thống TPHS, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để cho việc tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS được triển khai trên thực tế.

Thực hiện chủ trương chung của Đảng về quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật, ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đề cập nhiều vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhưng trong đó, Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh phải cải cách hệ thống tố tụng tư pháp để đảm bảo sự giám sát của công dân. Đối với hoạt động tư pháp, đảm bảo dân chủ, công khai minh bạch trong tố tụng tư pháp, Nghị quyết số 48-NQ/TW khẳng định: "Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án".

Để bảo vệ quyền con người, nâng cao khả năng tiếp cận của công dân đối với các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng, khắc phục những oan sai trong việc xét xử, xử lý những hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân. Nghị quyết số 48-NQ/TW nói trên đã nhấn mạnh: “Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là Toà án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử lý oan sai; khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước”.

Có thể nói chưa lúc nào Đảng quan tâm tới quyền tiếp cận của công dân với các cơ quan nhà nước nói chung cũng như hệ thống cơ quan TPHS như trong giai đoạn vừa qua. Điều này được thể hiện qua quan điểm: "Hoàn thiện pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức; mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước" (Nghị quyết số 48-NQ/TW).

Khi nghiên cứu các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về năng lực tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS thì cần đặc biệt chú ý Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Trong Nghị quyết đã nhấn mạnh phải có chính sách hình sự thích hợp để đề cao tính phòng ngừa, tính tự cải tạo và tính hoàn lương trong việc giải quyết các vụ án hình sự: "Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội". Nghị quyết chỉ rõ là phải có cơ chế để công dân có thể tố giác tội phạm, nhất là tội phạm tham nhũng, có biện pháp bảo vệ và các hình thức khen thưởng đối với những công dân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và tham nhũng: "Xây dựng cơ chế phát huy sức mạnh của nhân dân, cơ quan, các tổ chức quần chúng trong phát hiện, phòng ngừa tham nhũng; bảo vệ người trung thực phát hiện, tố cáo, người điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng; khen thưởng người có công trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng". Nghị quyết luôn luôn nhấn mạnh vấn đề "công khai dân chủ" trong hoạt động tố tụng tại các phiên toà nói chung và trong các phiên toà hình sự nói riêng.

Để tăng cường sự tiếp cận của công dân đối với cơ quan tư pháp, Nghị quyết đã chỉ rõ phải tăng cường sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với cơ quan tư pháp bằng nhiều hình thức như thông qua hoạt động chất vấn tại các kỳ họp, thông qua hoạt động của đoàn đại biểu với hoạt động tiếp xúc cử tri. "Đổi mới nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp tại kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Quốc hội và Hội đồng nhân dân nên có Nghị quyết riêng về hoạt động tư pháp sau khi nghe báo cáo và trả lời chất vấn" (Nghị quyết số 49-NQ/TW).

Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa tăng cường khả năng tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS và hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp. Nghị quyết nêu rõ: "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; không ngừng nâng cao trình độ dân trí pháp lý, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân...".

Có thể nói trong 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách về hình sự về tố tụng hình sự nhằm tăng cường sự tiếp cận của công dân đối với hệ thống TPHS. Những quan điểm, những chính sách của Đảng và Nhà nước nêu trên là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình tổ chức và hoạt động của hệ thống TPHS.

II. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

2.1. Những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tư pháp hình sự

Một là, tiếp tục xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượng tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS.

Hai là, đa dạng hoá các hình thức thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS theo hướng kịp thời, thuận tiện cho các đối tượng.

Ba là, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập pháp luật TPHS trong nhà trường ở các cấp học, bậc học.

Bốn là, mở rộng và nâng cao chất lượng các loại hình tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý.

Năm là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS.

Sáu là, phân loại cụ thể các đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS căn cứ vào lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, trên cơ sở đó xây dựng nội dung và sử dụng các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục phù hợp.

Bảy là, tăng cường sự đầu tư của Nhà nước cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS.

Tám là, xã hội cần hỗ trợ đắc lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS theo hướng xã hội hóa công tác này.

Chín là, cần thường xuyên tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS cho cán bộ và nhân dân và có chế độ khen thưởng kịp thời, hợp lý, thoả đáng cho cá nhân, tổ chức có nhiều đóng góp vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS.

2.2. Giải thích pháp luật tư pháp hình sự

Năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống TPHS ở nước ta còn phụ thuộc rất lớn vào tính đúng đắn và tính thống nhất trong nhận thức của nhân dân về pháp luật TPHS. Điều này có ý nghĩa đặc biệt lớn lao đối với cán bộ các cơ quan TPHS và các cơ quan, tổ chức bổ trợ TPHS. Trong thời gian qua, sở dĩ còn không ít hiện tượng vận dụng sai hoặc chưa thống nhất pháp luật TPHS trong hoạt động của các cơ quan tố tụng hình sự, một phần là do sự nhận thức chưa đúng hoặc chưa thống nhất của cán bộ làm việc trong các cơ quan này. Ngoài ra, cũng còn khá nhiều người dân chưa hiểu đúng và hiểu không thống nhất pháp luật TPHS, dẫn đến việc thực hiện pháp luật TPHS không thống nhất.

Trước tình hình đó, để cho cán bộ và nhân dân nhận thức pháp luật TPHS một cách đúng đắn và thống nhất thì cần đẩy mạnh hơn nữa việc giải thích pháp luật TPHS. Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của công tác giải thích pháp luật TPHS cho cán bộ và nhân dân, theo chúng tôi, cần thực hiện tốt các biện pháp sau đây:

Một là, nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giải thích pháp luật TPHS cho cán bộ và nhân dân, nhất là đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích pháp luật chính thức và các nhà chuyên môn về pháp luật.

Hai là, tăng cường hơn nữa công tác giải thích chính thức pháp luật TPHS, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích pháp luật TPHS chính thức.

Ba là, đẩy mạnh hơn nữa công tác giải thích không chính thức pháp luật TPHS của các nhà khoa học, các nhà giáo, các nhà thực tiễn áp dụng pháp luật TPHS và các cá nhân, tổ chức khác với sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo và có hiệu quả cao các phương pháp giải thích pháp luật.

2.3. Những giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận của người tham gia tố tụng đối với các cơ quan tố tụng hình sự

Mục tiêu của việc nâng cao khả năng tiếp cận của những người tham gia tố tụng đối với các cơ quan tố tụng hình sự là hướng đến sự phán quyết công bằng, gia tăng quyền tiếp cận một cách bình đẳng đối với các cơ quan tố tụng hình sự. Các giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu trên là:

Thứ nhất, khẩn trương tạo cơ sở pháp lý để thực hiện cơ chế tiếp cận thông tin cởi mở và minh bạch, chính xác, thuận lợi và rõ ràng cho quần chúng nhân dân, nhất là đối tượng tham gia tố tụng; mở rộng quyền của những người tham gia tố tụng trong việc tiếp cận các cơ quan tố tụng hình sự trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật tư tín, điện thoại, điện tín của công dân, đảm bảo quyền bào chữa, quyền tố cáo đối với những hành vi trái pháp luật.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo cho những người tham gia tố tụng thực hiện tốt nhất các quyền tiếp cận theo quy định của pháp luật, góp phần hạn chế oan, sai trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

2.4. Các kiến nghị nhằm tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống tư pháp hình sự

Nghiên cứu những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về khả năng tiếp cận hệ thống TPHS là rất quan trọng, nhưng vấn đề là làm sao để những quan điểm, chính sách đó trở thành hiện thực lại càng quan trọng hơn, vì vậy chúng tôi muốn đưa ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, phải nâng cao trình độ năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức và những người làm việc trong hệ thống TPHS.

Thứ hai, phải tiếp tục hoàn thiện các quan điểm, các chủ trương, chính sách để làm sao các quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường năng lực tiếp cận hệ thống TPHS phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu thì mới dễ đi vào lòng người dân.

Thứ ba, cần tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan trong hệ thống TPHS, như hội trường, phòng làm việc, các máy móc, thiết bị như máy tính, máy phôtô, màn hình... để tạo điều kiện trong việc tiếp xúc, làm việc hay tuyên truyền, phổ biến các chính sách, quan điểm của Đảng về khả năng tiếp cận hệ thống TPHS cho công dân.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TIẾP CẬN CỦA CÁC NHÓM NHÂN DÂN ĐẶC THÙ ĐỐI VỚI HỆ THỐNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ

3.1. Nhóm doanh nghiệp

Các hình thức nâng cao sự hiểu biết của giới thương nhân về pháp luật hình sự:

- Phổ cập giáo dục pháp luật về hình sự cho giới thương nhân trong các nhóm tội mà thương nhân thường mắc phải như đã trình bày trong đề tài.

- Các cơ quan tiến hành tố tụng cần hết sức thận trọng khi tiến hành các hoạt động nghiệp vụ đối với các vụ án điển hình về kinh tế trong giới thương nhân.

- Huy động sự tham gia tích cực của các thương nhân vào quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

3.2. Nhóm trẻ em và đối tượng chính sách

3.2.1. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự bảo đảm quyền tiếp cận tư pháp hình sự đối với các đối tượng chính sách

Như đã nêu ở trên, BLTTHS không có các quy định áp dụng riêng đối với các đối tượng chính sách, ngoại trừ đối với đối tượng là người chưa thành niên. Chính vì vậy, trong phần này, nhóm nghiên cứu đưa ra những kiến nghị đảm bảo quyền tiếp cận TPHS đối với người chưa thành niên như sau:

- Về lâu dài, pháp luật tố tụng hình sự nên có phần, mục riêng dành cho đối tượng là người chưa thành niên trong đó quy định rõ những vấn đề liên quan đến họ, quyền và lợi ích, nghĩa vụ của họ trong quá trình tố tụng bao gồm cả việc thông báo về các quyền và vai trò của họ, phạm vi, thời gian và tiến trình của các thủ tục tố tụng.

- Trong tương lai BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng cường hơn nữa việc bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng của trẻ em là nạn nhân trong quá trình tố tụng, mà cụ thể là cần quy định rõ việc bảo vệ bí mật đời tư và nhận dạng của trẻ em là nạn nhân là bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng, từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử, tuyên án.

- Để bảo đảm việc bảo vệ an toàn cho nạn nhân, nhân chứng trong vụ án hình sự nói chung và nạn nhân bị lạm dụng, xâm hại là trẻ em nói riêng, cũng như thân nhân của họ, trước mắt cần phải ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn thi hành BLTTHS trong đó quy định cụ thể về việc bảo vệ nạn nhân trong vụ án hình sự, trong đó có nạn nhân là trẻ em bị lạm dụng, xâm hại nhân chứng và những người thân thích của họ.

- Các cơ quan có chức năng cần đưa chương trình đào tạo chuyên biệt cho các cán bộ làm công tác tư pháp như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, luật sư và các nhân viên cảnh sát trong việc giải quyết các vụ án có nạn nhân bị lạm dụng là trẻ em vào chương trình đào tạo chuyên ngành.

Về lâu dài, việc tiến hành các hoạt động tố tụng đối với các vụ án có người chưa thành niên là nạn nhân cần được BLTTHS xây dựng thành một Chương riêng, bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự cũng phải có quy định về việc ưu tiên xử lý các vụ án có liên quan đến trẻ em là nạn nhân, để bảo đảm cho các vụ án đó được giải quyết nhanh chóng, tránh trì hoãn không cần thiết trong tất cả các giai đoạn của quá trình truy tố.

- Để tăng cường trợ giúp nạn nhân của tội phạm là người chưa thành niên, cần cân nhắc để đưa các đối tượng này vào diện được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí.

Pháp luật cũng chưa có những quy định đặc biệt để bảo đảm tính riêng tư của việc thẩm vấn trẻ em và tạo cho trẻ em môi trường thoải mái khi được thẩm vấn, chẳng hạn như quy định về địa điểm thẩm vấn, cách bài trí của phòng thẩm vấn. Trong tương lai, những khiếm khuyết trên cần nhanh chóng được khắc phục để tạo ra một thủ tục điều tra và xét xử phù hợp đối với những trẻ em là nạn nhân hoặc nhân chứng trong vụ án hình sự, tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích của các em này trong tố tụng hình sự

3.2.2. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách trợ giúp của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách nhằm bảo đảm quyền tiếp cận hệ thống tư pháp hình sự

- Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần nhanh chóng ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng.

- Đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có cơ chế quy định thống nhất việc cấp Sổ hộ nghèo trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo không chỉ thuận lợi khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý mà còn thuận lợi trong việc vay vốn, khám chữa bệnh…

- Có cơ chế quy định các cơ quan nhận được kiến nghị của tổ chức trợ giúp pháp lý phải trả lời đúng thời gian quy định (trong thời hạn 30 ngày) để tổ chức trợ giúp pháp lý có cơ sở trả lời cho đối tượng trợ giúp pháp lý…

3.2.3. Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa

Thứ nhất, cần phải nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, miền.

Thứ hai, xây dựng lực lượng cán bộ làm công tác truyền thông ở cơ sở, đội ngũ báo cáo viên trực tiếp phổ biến đến bà con dân tộc, tốt nhất nên là người địa phương, tại chỗ.

 Thứ ba, phối hợp lồng ghép công tác phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS với các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể thao trong các dịp lễ hội, phiên chợ vùng cao, sinh hoạt văn hoá nhà Rông Tây Nguyên, văn hoá Nhà Chùa ở vùng đồng bào dân tộc Khmer...

Thứ tư, phối hợp các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật TPHS với việc thực hiện cuộc vận động: “Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá”, thực hiện “Quy chế dân chủ ở cơ sở”“Xây dựng xã hội học tập”.

 Thứ năm, thực hiện có hiệu quả việc “Nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào vùng biên giới” với 7 nội dung chính: (1) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào các dân tộc thiểu số; (2) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đồng bào vùng biên giới; (3) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ chính quyền cơ sở vùng dân tộc và biên giới; (4) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các tổ chức xã hội vùng dân tộc và biên giới; (5) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh thiếu niên vùng dân tộc và biên giới; (6) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc và biên giới; (7) Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với các tổ chức Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ ở vùng dân tộc và biên giới.

Thứ sáu, tăng cường kinh phí cho việc thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình và làm băng hình tiếng dân tộc ở địa phương đưa xuống tận xã, làng.

Thứ bảy, tăng thời lượng phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc trong vùng; hỗ trợ kinh phí để tăng cường các đoàn nghệ thuật, các đội xung kích điện ảnh phục vụ cho đồng bào dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng cao, vùng biên giới.



[1]  Bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có ng­ười bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa. Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và ngư­ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc ng­ười đại diện hợp pháp của họ đ­ược trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có ng­ười bảo vệ quyền lợi cho họ thì ng­ười này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.

[2] Nguyễn Thị Minh, Vì sao luật sư chưa phát huy hết vai trò của mình trong hoạt động tố tụng hình sự, Tạp chí Pháp luật và phát triển, số 1/2006.

[3] Steve Orchard and Aoife O’ Grady, “Development of legal services policies in England and Wales, 1989-2002”, in Julia Bass, W.A. Bogart, and Frederick H. Zemans (ed.), Access to Justice for a new century – the way forward, The Law Society of Upper Canada, 2005, p.177-196.

[4] Albert Currie, Principal Researcher for Access to Justice and Legal Aid: Rethinking Criminal Legal Aid within an Access to Justice Framework (Suy nghĩ lại vấn đề trợ giúp pháp lý hình sự trong khuôn khổ tiếp cận công lý) - đăng trên website của Bộ Tư pháp Canada: http://www.justice.gc.ca/en/ps/rs/rep/2003/rr03-5/rr03-5_01.html.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 132.

[6] Sách đd, tr. 132 - 133.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.49.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 127.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 256 - 257.

 

Nội dung toàn văn
File đính kèm downloadTải về