• Thuộc tính
Tên đề tài Đánh giá thực trạng đào tạo, sử cán bộ pháp lý và những giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng cán bộ pháp lý hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI
Nội dung tóm tắt
Nội dung toàn văn

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

 

 

 

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DỰ ÁN 877 – 2000

 

 

“ĐIỀU TRA CƠ BẢN ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG

ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG CÁN BỘ PHÁP LÝ VÀ

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ, CHẤT

LƯỢNG CÁN BỘ PHÁP LÝ HƯỚNG TỚI SỰ PHÁT

TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC THẾ KỶ XXI”

 

 

 

 

CHỦ NHIỆM DỰ ÁN: PGS.TS. LÊ MINH TÂM

 

 

 

 

 

 

HÀ NỘI – 2003

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN THỨ NHẤT

 

BÁO CÁO TỔNG QUAN

 

 


 

A. TỔNG QUAN CHUNG VỀ

KẾT QUẢ THƯC HIÊN DỰ ÁN

 

I.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 877/2000

Bước vào thế kỷ XXI, bối cảnh quốc tế và trong nước có thuận lợi, nhưng cũng có nhiều khó khăn và thách thức mới. Đó là khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá kinh tế diễn ra như một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các nước mới có thể giải quyết được. Trong nước, bên cạnh những thành tựu to lớn đã giành được trên tất cả các lĩnh vực, chúng ta cũng còn nhiều yếu kém, tồn tại. Trước tình hình đó, việc xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, tích cực và đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước là một yêu cầu cấp thiết.

Có thể nói, trong những năm đổi mới vừa qua công tác đào tạo cán bộ pháp lý có trình độ đại học và sau đại học ở nước ta đã có những bước tiến đáng phấn khởi. Năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo luật đã được tăng cường nhiều so với trước, quy mô đào tạo mở rộng hơn, các loại hình đào tạo đã được đa dạng hoá, chương trình đào tạo đã được đổi mới và cải tiến nhiều, chất lượng đào tạo đã được chú trọng và nâng cao một bước. Sự tiến bộ trong công tác đào tạo luật đã góp phần quan trọng vào việc cung cấp cán bộ pháp lý có trình độ cao cho các cơ quan, ban, ngành, tổ chức; đáp ứng được yêu cầu đổi mới; góp phần làm thay đổi tư duy pháp lý trong cán bộ và nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích nói trên, có những vấn đề đặt ra khiến chúng ta phải suy nghĩ và đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để tìm ra lời giải có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Công tác đào tạo luật ở nước ta có sự chậm trễ lớn, số lượng người có trình độ đại học luật trở lên mới khoảng gần 40.000 người/80.000.000 dân, chiếm xấp xỉ 0,05%. Đây là một tỷ lệ còn quá nhỏ. Đối với các nước phát triển tỷ lệ này thường lớn gấp khoảng 10 lần. Với số lượng còn ít như vậy, nhưng cũng có ý kiến cho là cán bộ pháp lý dường như đã “bão hoà”. Hơn nữa thực tế cũng cho thấy, có nhiều cử nhân luật ra trường khó tìm việc làm. Vậy phải chăng nhu cầu về cán bộ pháp lý ở nước ta còn hạn chế hay còn có lý do gì khác nữa? Cần phải có lời giải đáp vấn đề này từ thực tiễn.

2. Chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo luật đã có nhiều đổi mới. Nhiều người cho rằng chương trình đào tạo đó khá phù hợp với điều kiện ở nước ta hiện nay và có tính hiện đại, đã khác rất xa so với thời kỳ trước đổi mới. Từ đây, một hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo ngày càng phong phú và được hoàn thiện hơn. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ giảng dạy đã có sự trưởng thành cả về lượng và chất; quy chế đào tạo cũng chặt chẽ hơn trước. Những yếu tố trên cho phép khẳng định rằng chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý ở nước ta cao hơn trước. Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng, cử nhân luật ra trường chất lượng đào tạo còn kém nên không phát huy được khả năng trong thực tiễn, hiệu quả công việc mà họ đảm nhận còn thấp. Thực sự có phải như vậy không hay còn có những nguyên nhân nào khác?

3. Chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang đặt ra cho công tác đào tạo nói chung và đào tạo luật nói riêng những yêu cầu mới hết sức bức xúc. Trong khi đó, mặc dù công tác đào tạo luật ở nước ta có sự chậm trễ lớn so với các ngành đào tạo khác, tỉ lệ cán bộ pháp lý còn rất thấp, nhưng mấy năm gần đây quy mô đào tạo lại có xu hướng “chững lại” và có phần suy giảm nhất định. Điểu này có phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn không, hay do chúng ta chưa có sự khảo sát, nghiên cứu kỹ nên chưa xác định đúng nhu cầu và đặc biệt là chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn để đưa ra những dự báo khoa học cho công tác đào tạo cử nhân luật. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự khảo sát, điều tra để đánh giá đúng thực chất của vấn đề này.

4. Đào tạo tại chức là hình thức đào tạo đã thực hiện từ nhiều năm qua và đến nay vẫn là hình thức đào tạo đang được áp dụng rộng rãi. Mặc dù vậy, có nhiều ý kiến cho rằng cẩn phải xem xét lại loại hình đào tạo này cả về quy mô, phương pháp và chất lượng đào tạo; rằng chính đào tạo tại chức trong những năm qua đã dẫn đến quan niệm về sự “dễ dãi” trong đào tạo đại học tại chức nói chung và đào tạo cử nhân luật hệ tại chức nói riêng và là một trong những nguyên nhân làm cho sinh viên chính quy ra trường khó xin việc làm. Sự đánh giá này có đúng không? Vấn đề này cũng cần có lời giải đáp.

5. Về mối liên quan giữa công tác đào tạo cử nhân luật với việc quy hoạch, sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Có ý kiến cho rằng hai lĩnh vực này chưa có sự gắn kết với nhau, các trường cứ đào tạo mà không quan tâm đến thực tế nhu cầu sử dụng của xã hội; còn các cơ quan, tổ chức khi tuyển dụng, sắp xếp cán bộ pháp lý thì tự mình làm, không có sự liên hệ với các cơ sở đào tạo hoặc không nắm rõ thực trạng về số lượng và chất lượng cán bộ pháp lý đã được đào tạo để chọn lựa và bố trí phù hợp với yêu cầu. Vậy có thể, không phải do chất lượng đào tạo thấp, không phải do quy mô đào tạo nhiều, không phải do nhu cầu sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật ít mà sinh viên ra trường không tìm được việc làm. Đâu là nguyên nhân thực chất của vấn để; cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những tổn tại và phát huy các thế mạnh trong công tác đào taọ luật và nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật? Đó cũng là một trong những vấn đề bức xúc đặt ra đối với Dự án này.

6. Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, để thực hiện chủ trương “phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” trong lĩnh vực pháp luật phải có sự chuẩn bị trước một bước. Vì vậy, việc đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ và năng lực để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI, đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi các cơ sở đào tạo luật phải suy nghĩ giải quyết.

Từ những vấn đề có tính bức xúc nêu trên, Dự án 877/2000: “Điều tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp lý và những giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng cán bộ pháp lý hưởng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI” đã được Nhà nước phê duyệt và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao cho Trường Đại học Luật Hà Nội chủ trì thực hiện.

II.MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ YÊU CẦU CỦA DỰ ÁN 877/2000

1. Mục đích, nhiệm vụ của dự án

Mục đích của Dự án 877/2000 là tiến hành điều tra xã hội học một cách cơ bản để có cơ sở phân tích, đánh giá và đưa ra những kết luận bước đầu nhằm giải đáp các vấn đề về thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp lý trong những năm qua ở nước ta và đưa ra những giải pháp nhầm nâng cao hiệu quả, chất lượng cán bộ pháp lý hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI. Để đạt được mục đích đặt ra, Dự án 877/2000 đã đưa ra và thực hiện một số nhiệm vụ như sau:

Thứ nhất, sử dụng các phương pháp xã hội học thu thập thông tin, số liệu phản ánh các mặt, các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu.

Thứ hai, trên cơ sở xử lý và phân tích thông tin, làm rõ cơ sở thực tiễn và những luận cứ khoa học cho việc khái quát, đánh giá đúng đắn về tình hình, thực trạng công tác đào tạo cử nhân luật; chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý trong những năm qua.

Thứ ba, tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật, nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý của đất nước trong những năm tới.

Thứ tư, trên cơ sở khảo sát nghiên cứu, Dự án đưa ra kiến nghị, dự báo có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm tư vấn cho Nhà nước nói chung, cho Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng trong việc hoạch định, xây dựng chính sách đào tạo, xác định quy mô đào tạo và nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới - thời kỳ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.

Cụ thể hoá những nhiệm vụ đặt ra trên đây, Dự án 877/2000 triển khai thành 8 tiểu dự án, bao gồm:

Một là: “Điều tra cơ bản để đánh giá tâm lý xã hội và dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý” do Bộ môn Mác - Lênin đảm nhiệm và Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường làm chủ nhiệm.

Hai là: “Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng đội ngũ cán bộ pháp lý đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp” do khoa Pháp luật Quốc tế đảm nhận và Thạc sỹ Nguyễn Văn Luận làm chủ nhiệm.

Ba là: “Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng cán bộ cử nhân luật tại cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan thanh tra” do khoa Pháp luật Hành chính - Nhà nước đảm nhận và Thạc sĩ Hoàng Văn Sao làm chủ nhiệm.

Bốn là: “Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng cán bộ pháp lý tại các ngành Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan” do khoa Tư pháp đảm nhận và Tiến sĩ Ngô Ngọc Thuỷ làm chủ nhiệm.

Năm là: “Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng cán bộ pháp lý tại các cơ quan cấp bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp” do khoa Pháp luật Kinh tế đảm nhận và Tiến sĩ Bùi Ngọc Cường làm chủ nhiệm.

Sáu là: “Điều tra thực trạng kết quả cán bộ pháp lý đã được đào tạo tại Việt Nam (các cấp học: Sau đại học, Đại học, Cao đẳng; các hệ đào tạo: Chính quy, Mở rộng, Chuyên tu, Tại chức và Đào tạo từ xa)” do Phòng Đào tạo đảm nhận và Phó hiệu trưởng Thạc sĩ Trần Đức Thìn làm chủ nhiệm.

Bảy là: “Điều tra thực trạng các yếu tố đảm bảo năng lực đào tạo cán bộ pháp lý của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay” do Trung tâm nghiên cứu bộ máy Nhà nước Khoa Hành chính - Nhà nước đảm nhận và Tiến sĩ Thái Vĩnh Thắng làm chủ nhiệm.

Tám là: “So sánh thực trạng đào tạo và sử dụng cán bộ pháp lý của Việt Nam với một số nước trong khu vực và trên thế giới” do Phòng Quản lý khoa học đảm nhiệm và Tiến sĩ Đinh Văn Thanh làm chủ nhiệm.

2. Yêu cầu của dự án

Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ trên, Dự án: “Điều tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp lý và những giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng cán bộ pháp lý hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI” chủ yếu tập trung khảo sát, tìm hiểu:

a) Dư luận xã hội và tâm lý xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý trong một số đối tượng xã hội như: cán bộ quản lý cấp xã, phường; sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường đại học luật (khoa luật); học sinh trung học phổ thông (lớp 12).

b) Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ pháp lý đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thông qua phương pháp phỏng vấn, sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến đối với những cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác trong các tổ chức nói trên.

c) Thực trạng sử dụng cán bộ cử nhân luật tại cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan Thanh tra thông qua phương pháp phỏng vấn, phát - thu phiếu trưng cầu ý kiến đối với những cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác trong các cơ quan nói trên.

d) Đánh giá hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý tại các ngành Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan bằng phương pháp phỏng vấn, phát - thu phiếu trưng cầu ý kiến đối với những cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác tại các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan.

e) Đánh giá chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý tại các cơ quan cấp bộ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn, phát - thu phiếu trưng cầu ý kiến đối với những cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác tại các cơ quan nói trên.

g) Đánh giá tổng thể kết quả về số lượng và chất lượng cán bộ pháp lý đã được đào tạo tại Việt Nam (các cấp học: Sau đại học, Đại học, Cao đẳng; các hệ đào tạo: Chính quy, Mở rộng, Chuyên tu, Tại chức và Đào tạo từ xa)

h) Đánh giá các yếu tố đảm bảo năng lực đào tạo cán bộ pháp lý của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay.

i) So sánh hoạt động đào tạo và nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý giữa Việt Nam với một số nước ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.

Mỗi nhóm đối tượng xã hội trong diện điều tra của Dự án đều có những đặc điểm xã hội riêng. Cán bộ quản lý cấp xã, phường là những người gần gũi, tiếp xúc nhiều với các tầng lớp nhân dân nên biết được nhiều thông tin về chất lượng đào tạo cử nhân luật và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý nên sự đánh giá của họ tương đối khách quan. Sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường đại học luật (khoa luật) là những người đang trực tiếp theo học, họ được coi là “người trong cuộc”, do đó, những thông tin, ý kiến mà họ cung cấp có nhiều cơ sở thực tiễn. Học sinh trung học phổ thông (lớp 12) là những người sắp tốt nghiệp tú tài và đang lựa chọn trường đại học để thi vào. Để chọn thi vào một trường đại học nào đó thì ít hay nhiều họ đều cần tìm hiểu về trường, về ngành mà mình sẽ học trong tương lai. Như vậy dư luận xã hội trong giới học sinh lớp 12 cũng là những ý kiến mà chúng ta cần phải lắng nghe.

Những người đang công tác trong các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan là những người đang trực tiếp áp dụng pháp luật vào những lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Họ là những cán bộ hiểu rất rõ vai trò của kiến thức pháp lý, hiểu rõ về hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các cơ quan đó. Đồng thời, đã từng học qua các cơ sở đào tạo luật nên họ ít nhiều đánh giá được chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay. Do đó, trưng cầu ý kiến cán bộ đang làm việc trong các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan cho phép thu thập được những thông tin có độ tin cậy cao.

Xuất phát từ những đặc thù của các đối tượng cung cấp thông tin nói trên nên chúng tôi xác định Dự án: “Điều tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dụng cán bộ pháp lý và những giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng cán bộ pháp lý hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI” phải đạt được một số các yêu cầu cơ bản sau:

- Phải xây dựng được các mẫu phiếu thăm dò dư luận xã hội, phiếu trưng cầu ý kiến và mẫu phiếu phỏng vấn cá nhân phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng trả lời.

- Phải đảm bảo tính thuần nhất và tính đại diện của các đối tượng trả lời phiếu về giới tính, lứa tuổi, học vấn, địa bàn cư trú v.v...

- Phải bảo đảm chất lượng của các thông tin thu thập được là:

+ Thông tin phải bảo đảm tính chân thực.

+ Thông tin phải bảo đảm tính khách quan.

Có như vậy mới đảm bảo độ tin cậy của các đánh giá, kết luận sau này cùng những kiến nghị từ quá trình thực hiện Dự án.

III.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu là những giả định có căn cứ khoa học, là những nhận định sơ bộ ban đầu về tình hình, thực trạng hay bản chất của vấn đề nghiên cứu mà chúng ta sẽ thu thập được qua quá trình điều tra.

Giả thuyết nghiên cứu mang lại cho nhà nghiên cứu một cái nhìn tổng quát về thực trạng của vấn đề nghiên cứu, từ đó mà chọn phương pháp điều tra cũng như xây dựng mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn cho phù hợp.

Xuất phát từ tình hình thực tế, Dự án nêu giả thuyết như sau:

Trong những năm qua công tác đào tạo cử nhân luật tại hầu hết các cơ sở đào tạo luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng được cơ bản nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý của đất nước. Mặc dù vậy, đứng trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, dư luận xã hội cũng đang đặt ra nhiều vấn đề có tính bức xúc: chất lượng đào tạo cử nhân luật còn chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng của xã hội; tâm lý của nhiều người còn băn khoăn khi lựa chọn theo học ngành luật; tình trạng cử nhân luật khó tìm việc làm, cán bộ pháp lý chưa được sử dụng một cách hiệu quả, làm trái ngành được đào tạo v.v... Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bao gồm cả những ngụyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.

IV.PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN ĐƯỢC SỬ DỤNG

Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của Dự án 877/2000 và của từng tiểu dự án, chúng tôi sử dụng kết hợp hai phương pháp thu thập thông tin được dùng phổ biến trong điều tra xã hội học là phương pháp Ankét và phương pháp phỏng vấn.

1. Phương pháp Ankét

Trong điều tra xã hội học, Ankét là hình thức hỏi - đáp gián tiếp dựa trên cơ sở bảng hỏi (phiếu điều tra) được soạn thảo, chuẩn bị từ trước nhằm thu thập các thông tin cần thiết về đề tài nghiên cứu. Điều tra viên phát phiếu điều tra, hướng dẫn cách trả lời; người trả lời tự đọc câu hỏi, tự ghi ý kiến của mình vào phiếu rồi nộp lại cho điều tra viên.

Phương pháp Ankét được coi là phương pháp chủ đạo để thu thập thông tin vì phương pháp này có các ưu điểm sau:

- Cho phép triển khai trên quy mô rộng, thu thập được thông tin của nhiều người tại nhiều nơi.

- Phù hợp với điểu kiện thực tế về nhân công, kinh phí của tiểu dự án.

- Thông tin thực nghiêm thu được đa dạng, phong phú và có chất lượng cao.

Bên cạnh đó phương pháp này cũng có thể có nhược điểm là: vì quen với cách trả lời của đối tượng được hỏi, nên điểu tra viên dễ chủ quan có thể tự mình trả lời thay cho người được hỏi, do đó dễ dẫn đến kết quả phản ánh sai thực tế. Để khắc phục nhược điểm này, trong quá trình thực hiện phương pháp Ankét, Ban chủ nhiệm Dự án và Ban chủ nhiệm các Tiểu dự án đã quán triệt, tổ chức tập huấn và có các biện pháp tích cực để bảo đảm tính trung thực của các kết quả thu thập được, đồng thời đã sử dụng thêm phương pháp phỏng vấn.

2. Phương pháp phỏng vấn

Trong điều tra xã hội học, phỏng vấn là hình thức hỏi - đáp trực tiếp giữa người phỏng vấn và người cung cấp thông tin dựa trên cơ sở bảng hỏi (phiếu điều tra) được chuẩn bị trước. Người phỏng vấn nêu lên các câu hỏi, lắng nghe ý kiến trả lời và ghi nhận kết quả vào phiếu điều tra.

Sử dụng phương pháp phỏng vấn cho phép thu thập được thông tin nhiều chiều và kiểm tra được độ tin cậy của thông tin, đi sâu tìm hiểu về một vấn để chuyên sâu cần thiết.

Việc sử dụng kết hợp phương pháp phỏng vấn với phương pháp Ankét vừa có thể khắc phục được nhược điểm của Ankét vừa đảm bảo cho thông tin thu được có chất lượng và độ tin cậy cao.

V.CÁC LOẠI MẪU PHIẾU

Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của dự án tổng thể và của từng tiểu dự án, Ban thư ký Dự án 877/2000 đã soạn thảo các loại mẫu phiếu và chuyển giao cho các tiểu dự án các mẫu phiếu sau:

1. Phiếu thăm dò dư luận xã hội (Dùng cho cán bộ quản lý cấp xã, phường; học sinh PTTH lớp 12; sinh viên chính quy; học viên tại chức).

2. Phiếu phỏng vấn cá nhân (Dùng cho cán bộ quản lý cấp xã, phường, học sinh PTTH lớp 12; sinh viên chính quy; học viên tại chức).

3. Phiếu trưng cầu ý kiến (Dùng cho cán bộ đang làm việc trong các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hải quan; cán bộ đang làm việc tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cán bộ đang làm việc tại các cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan Thanh tra; tại các cơ quan cấp bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp).

4. Phiếu phỏng vấn cá nhân (Dùng cho cán bộ đang làm việc trong các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hải quan; cán bộ đang làm việc tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cán bộ đang làm việc tại các cơ quan quyền lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan Thanh tra; tại các cơ quan cấp bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp).

5. Phiếu thu thập thông tin (Dùng cho các cán bộ quản lý, giảng dạy đang công tác tại các cơ sở đào tạo luật) nhằm tìm hiểu về các yếu tố đảm bảo năng lực đào tạo cán bộ pháp lý.

6. Phiếu thu thập thông tin (Dùng cho các cán bộ quản lý Khoa sau đại học, Phòng công tác chính trị và quản lý sinh viên, Khoa tại chức thuộc các cơ sở đào tạo: Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ sở khác) nhằm đánh giá tổng thể kết quả về số lượng và chất lượng cán bộ pháp lý đã được đào tạo tại Việt Nam (các cấp học: Sau đại học, Đại học, Cao đẳng; các hệ đào tạo: Chính quy, Mở rộng, Chuyên tu, Tại chức và Đào tạo từ xa).

VI.CHỌN MẪU ĐIỀU TRA

1. Mẫu điều tra (đối tượng trả lời phiếu)

Trong điều tra xã hội học, mẫu điều tra là bộ phận có thể đại diện được cho toàn bộ khách thể nghiên cứu, nói cách khác là những con người cụ thể (cá nhân hoặc nhóm xã hội) tham gia trả lời bảng hỏi, cung cấp thông tin cho nhà nghiên cứu.

2. Cách thức chọn mẫu

Đối tượng cung cấp thông tin đa dạng và phong phú, phân bố trên phạm vi cả nước; hoạt động trên nhiều lĩnh vực; tại nhiều Cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể... nên chúng tôi chọn người trả lời các phiếu thăm dò dư luận xã hội, phiếu trưng cầu ý kiến và các phiếu phỏng vấn cá nhân theo cách thức sau:

- Xác định trước địa chỉ, tên cơ quan, ban ngành mà chúng tôi sẽ đến để thu thập thông tin theo kế hoạch của Dự án 877/2000 và từng tiểu dự án.

- Sử dụng giấy giới thiệu để đến liên hệ với cơ sở có người cung cấp thông tin.

- Chọn ngẫu nhiên bất kỳ những người đang làm việc tại cơ quan đó để phát phiếu trưng cầu ý kiến hoặc thực hiện các cuộc phỏng vấn, nghĩa là chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên.

3. Địa bàn phân bố của mẫu

Để đảm bảo tính khái quát cửa thông tin thực nghiệm thu được sau này thì việc chọn mẫu điểu tra cũng phải đảm bảo tính khái quát và tính đại điện.

Địa bàn phân bố mẫu của Dự án và từng tiểu dự án được phân bố địa bàn và đối tượng trả lời tương ứng như sau:

3.l. Đối với tiểu dự án 1 (do Khoa Pháp luật Quốc tế thực hiện):

Phiếu trưng cầu ý kiến và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ công chức trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính tri - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp) đã được phát tới người trả lời trên các địa bàn: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Lào Cai, Thanh Hoá, Lâm Đồng, Cần Thơ và An Giang.

3.2. Đối với tiểu dự án 2 (do Bộ môn Mác - Lênin thực hiện):

a) Phiếu thăm dò dư luận xã hội và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho sinh viên chính quy và học viên tại chức) đã được phát tới sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường: Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ở các địa phương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Lâm Đồng, Long An, Sóc Trăng, Bình Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nam Định và Hà Nam.

b) Phiếu thăm dò dư luận xã hội và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ quản lý cấp xã, phường và học sinh PTTH lớp 12) đã được phát tới các trường PTTH và các xã phường trên các địa bàn: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, các tỉnh Lâm Đổng, Long An, Sóc Trăng, Bình Dương, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nam Định và Hà Nam.

3.3. Đối với tiểu dự án 3 (do Khoa Tư pháp thực hiện):

Phiếu trưng cầu ý kiến và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ công chức trong các ngành Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan) đã được phát tới người trả lời trên các địa bàn: Thành phố Hà Nội, các tỉnh Bắc Ninh, Khánh Hòa, Bến Tre, Sóc Trăng và Gia Lai.

3.4. Đối với tiểu dự án 4 (do Khoa Hành chính - Nhà nước thực hiện):

Phiếu trưng cầu ý kiến và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ công chức trong các cơ quan quyển lực Nhà nước, cơ quan hành chính Nhà nước và cơ quan Thanh tra) đã được phát tới người trả lời trên các địa bàn: Thành phố Hà Nội, các tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Giang, Lạng Sơn và Khánh Hoà.

3.5. Đối với tiểu dự án 5 (do Khoa Pháp luật Kinh tế thực hiện):

Phiếu trưng cầu ý kiến và Phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ công chức trong các cơ quan cấp bộ thưc hiên chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và các doanh nghiệp) đã được phát tới người trả lời trên các địa bàn: Thành phố Hà Nội, Thành phổ Hồ Chí Minh và các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Gia Lai, Kiên Giang, Nghệ An và Bà Rịa - Vũng Tàu.

3.6. Đối với tiểu dự án 6 (do Phòng đào tạo thực hiện):

Các mẫu phiếu thu thập thông tin và phiếu phỏng vấn cá nhân (dùng cho cán bộ quản lý, giảng dạy thuộc các cơ sở đào tạo luật) đã được gửi tới Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Khoa Luật (Đại học khoa học Huế) và trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

3.7. Đối với tiểu dự án 7 (do Trung tâm nghiên cứu Bộ máy Nhà nước thực hiện):

Các hợp đồng và các mẫu phiếu thu thập thông tin đã được gửi tới Khoa sau đại học, Phòng công tác chính trị và quản lý sinh viên, Khoa tại chức thuộc các cơ sở đào tạo: Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và một số cơ sở đào tạo khác.

3.8. Đối với tiểu dự án 8 (do phòng Quản lý khoa học thực hiện):

Các hợp đồng thu thập thông tin và dịch thuật đã được ký kết thực hiện với một số cơ quan chức năng để biết về thực trạng đào tạo và sử dụng sinh viên ngành luật của một số nước trong khu vực và thế giới.

4. Số lượng phiếu

Để tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch của tổng thể Dự án, Ban chủ nhiệm các Tiểu dự án đã phát ra và thu về tổng số phiếu của mỗi tiểu dự án cụ thể như sau:

a) Đối với tiểu dự án 1:

- Số phiếu đã phát ra là: 650 phiếu;

- Số phiếu thực tế thu về: 579 phiếu

b) Đối với tiểu dự án 2:

- Số phiếu đã phát ra là: 800 phiếu

- Số phiếu thực tế thu về: 685 phiếu

c) Đối với tiểu dự án 3:

- Số phiếu đã phát ra là: 700 phiếu

- Số phiếu thực tế thu về: 650 phiếu

d) Đối với tiểu dự án 4:

- Số phiếu đã phát ra là: 700 phiếu

- Số phiếu thực tế thu về: 606 phiếu

đ) Đối với tiểu dự án 5:

- Số phiếu đã phát ra là: 750 phiếu

- Số phiếu thực tế thu về: 720 phiếu

e) Đối với tiểu dự án 6:

- Số phiếu đã phát ra là: 400 phiếu      

- Số phiếu thực tế thu về: 310 phiếu

g) Đối với tiểu dự án 7:

Đây là tiểu dự án không sử dụng phiếu điều tra xã hội học mà chỉ sử dụng hợp đồng cung cấp thông tin, số liệu đối với một số cơ sở đào tạo luật trong cả nước.

h) Đối với tiểu dự án 8:

Đây cũng là tiểu dự án không sử dụng phiếu điều tra xã hội học mà chỉ sử dụng hợp đồng cung cấp thông tin và dịch thuật các tài liệu từ tiếng nước ngoài.

Tính chung của toàn Dự án:

- Số phiếu đã phát ra là: 4000 phiếu

- Số phiếu thực tế thu về: 3550 phiếu

- Đã ký kết và thực hiện 135 hợp đổng cung cấp thông tin, dịch thuật với những nơi cung cấp thông tin, dịch vụ.

VII.THỜI GIAN THỰC HIỆN

Quá trình thực hiện Dự án 877/2000 được chia làm 2 giai đoạn:

1. Giai đoạn điều tra thử:

- Từ tháng 9 năm 2000 đến tháng 12 năm 2000 phối hợp với các chuyên gia xã hội học tiến hành xây dựng các mẫu phiếu điều tra.

- Từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 5 năm 2001 tiến hành phát ra và thu về các loại phiếu điều tra thử.

- Trong tháng 6 năm 2001 tiến hành tập hợp, phân loại các loại phiếu và xử lý các thông tin thực nghiệm thu được bằng chương trình máy vi tính chuyên dùng, in kết quả xử lý số liệu.

- Trong tháng 8 năm 2001 tiến hành viết các báo cáo tổng thuật giai đoạn điều tra thử, nghiệm thu kết quả điều tra thử, chỉnh lý các câu hỏi trong bảng hỏi, chuẩn bị cho giai đoạn điều tra chính thức.

2. Giai đoạn điều tra chính thức:

Sau khi đã tiến hành điều tra thử và chỉnh lý các bảng hỏi, tất cả các tiểu dự án đã tiến hành các công việc như sau:

- Từ tháng 9 năm 2001 đến tháng 12 năm 2001 tiến hành phát ra và thu về các loại phiếu.

- Từ tháng 1 năm 2002 đến tháng 3 năm 2002 tiến hành tập hợp, phân loại các loại phiếu và xử lý các thông tin nghiệm thu được bằng chương trình máy vi tính chuyên dùng, in kết quả xử lý số liệu điều tra.

- Từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 8 năm 2002 tiến hành viết các báo cáo tổng thuật và các báo cáo phân tích chuyên đề.

- Từ tháng 9 năm 2002 tổ chức các toạ đàm, trao đổi hoàn thiện báo cáo và chuẩn bị cho công tác nghiệm thu.

 

 

 

 

 

B.    KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ CỦA DỰ ÁN

I. KẾT LUẬN

Trên cơ sở những kết quả điều tra, khảo sát cụ thể của các tiểu dự án thuộc Dự án 877/2000 được trình bày trong tập Báo cáo kết quả khảo sát, có thể rút ra một số kết luận như sau:

1. Việc lựa chọn các nhóm đối tượng để khảo sát là khá đa dạng, phong phú và thể hiện tính điển hình cao, bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức hiện đang công tác tại các cơ quan kinh tế nhà nước ở trung ương, địa phương và các công ty, doanh nghiệp tư nhân; các cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý hành chính nhà nước và cơ quan thanh tra; các cơ quan Công an, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Hải quan; các cán bộ quản lý, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật; các cán bộ quản lý cấp xã phường, học sinh lớp 12, sinh viên chính quy và học viên tại chức đang theo học tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay.

Phần lớn cán bộ, công chức tham gia trả lời phiếu thuộc nhóm lứa tuổi dưới 50 tuổi, trong đó nam chiếm khoảng 2/3 và nữ chiếm 1/3. Đại đa số họ có trình độ cử nhân luật, trong đó có một bộ phận đáng kể ở hệ đào tạo tại chức (khoảng 3/4) và hệ đào tạo chính quy (khoảng 1/4). Hầu hết những người trả lời phiếu được đào tạo cử nhân luật tại ba cơ sở đào tạo luật lớn ở nước ta, trong đó, chiếm tỷ lệ lớn nhất là số cán bộ được đào tạo tại Trường Đại học Luật Hà Nội, tiếp đến là Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Các cơ sở đào tạo khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Trong số cán bộ tham gia trả lời bảng câu hỏi có khoảng 80% là những người tốt nghiệp cử nhân luật sau năm 1990.

Như vậy, sự đa dạng, phong phú và tính điển hình cao về đối tượng khảo sát khảo sát, cho phép Dự án có được những thông tin nhiều chiều và bảo đảm được tính đại diện của mẫu điều tra, để từ đó có thể đánh giá được thực chất của các vấn đề cần khảo sát.

2. Về kiến thức cần trang bị cho cán bộ pháp lý: Kết quả khảo sát cho thấy thực trạng của việc vận dụng kiến thức pháp lý vào công việc chuyên môn của đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật là: khoảng 1/4 cán bộ pháp lý có thể sử dụng được ngay kiến thức đã được học vào công việc đang làm; khoảng 1/2 cán bô pháp lý để làm đươc công việc chuyên môn cần có thời gian để học hỏi kinh nghiệm những người đi trước và bộ phận còn lại thấy rằng để làm được việc cần phải phấn đấu tự học thêm, theo học các lớp bổ túc chuyên môn nghiệp vụ. Nguyên nhân chính yếu của tình hình này là do những người tốt nghiệp ngành luật còn thiếu kiến thức thực tiễn và kinh nghiệm nghề nghiệp. Vì vậy, để giúp các cán bộ pháp lý nhanh chóng bắt nhịp với thực tiễn, vận dụng có hiệu quả các kiến thức được học trong nhà trường vào công việc được giao thì các cơ sở đào tạo luật bên cạnh việc trang bị các kiến thức lý luận và kiến thức pháp luật cơ bản còn phải hết sức chú ý trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên.

3. Về phẩm chất nghề nghiệp của cán bộ pháp lý: Đa số người trả lời bảng hỏi của các tiểu dự án cho rằng, bên cạnh các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và thực tiễn thì phẩm chất nghề nghiệp cũng là một yếu tố rất quan trọng. Một cán bộ pháp lý tốt nghiệp ra trường không những phải nắm vững kiến thức pháp luật cơ bản, có kiến thức nghề nghiệp và thực tiễn nhất định, đồng thời cũng phải có các phẩm chất như năng động, nhạy bén, quyết đoán, tự tin trong giải quyết các công việc; có khả năng cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm. Thực tế cho thấy những phẩm chất trên đều rất cần thiết, chúng có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Có được những phẩm chất nghề nghiệp như thế, chắc chắn cán bộ tốt nghiệp ngành luật sẽ nâng cao được hiệu quả công việc mà họ đang đảm nhận. Vì vậy, bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, các cơ sở đào tạo luật cần quan tâm tới công tác quản lý toàn diện và rèn luyện phẩm chất cho sinh viên, học viên.

4. Về chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý ở nước ta hiện nay: Đa số người được hỏi có sự đánh giá tích cực, cho rằng việc đánh giá chất lượng đào tạo cần phải dựa vào nhiều yếu tố như: chương trình đào tạo, độỉ ngũ giáo viên, mức độ đầy đủ và chất lượng của các giáo trình, tài liệu phục vụ cho đào tạo và mức độ đầu tư cho đào tạo cán bộ pháp lý... Vì vậy, phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam để đánh giá về chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số người (khoảng 70%) tham gia trả lời các phiếu điều tra, khảo sát của Dự án cho rằng: chất lượng đào tạo luật ở nước ta những năm vừa qua đạt loại khá, tốt và rất tốt. Tiếp đến, có khoảng 20% người được hỏi cho rằng chất lượng đào tạo cử nhân luật chỉ đạt loại trung bình và khoảng 10% đánh giá chất lượng đào tạo còn yếu (chưa tốt). Con số này tuy chưa làm hài lòng các nhà quản lý đào tạo luật, nhưng đã phản ánh thái độ tích cực và quan điểm thực tiễn của dư luận xã hội; là sự gợi ý có nhiều ý nghĩa đối với việc phải phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo trong việc đào tạo cán bộ pháp lý ở Việt Nam.

Các cơ sở đào tạo luật phải không ngừng học hỏi những kinh nghiệm tốt trong đào tạo luật của các nước, nhưng đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp đào tạo cán bộ pháp lý trong tương lai, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta chủ trương đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế. 

5. Về nguyên nhân của chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý hiện nay: Đa số những người tham gia trả lời các câu hỏi khảo sát, điều tra cho rằng chất lượng đào tạo tốt là do nhiều nguyên nhân: một là, do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề; hai là, do sinh viên của trường có động cơ học, ý thức học tập và rèn luyện tốt; ba là, do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên và bốn là, do nhà trường có phương pháp đào tạo tốt đã kết hợp được việc đào tạo lý thuyết và thực tiễn, học đi đôi với hành. Bên cạnh đó còn 1/3 số người được hỏi đánh giá chất lượng đào tạo luật chỉ ở mức trung bình hoặc chưa tốt. Có nhiều nguyên nhân khiến cho những người đã tốt nghiệp cử nhân luật hiện nay đang làm việc trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể... có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, mà nguyên nhân cơ bản nhất là do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn, học chưa đi đôi với hành.

Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung, chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên chưa cao và ý thức học tập của sinh viên chưa tốt. Như vậy, để nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý, khắc phục những yếu kém hiện nay thì phải có những giải pháp đồng bộ, chứ không chỉ chủ yếu tập trung vào một hay một vài giải pháp.

6. Về các yếu tố bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý: Có nhiều yếu tố bảo đảm chất lượng đào tạo cử nhân luật, trong đó có sáu yếu tố cơ bản: Một là, đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số luợng, mạnh về chất lượng, trình độ và tâm huyết với công tác đào tạo; Hai là, chương trình đào tạo có kết cấu hợp lý, nội dung phong phú, hiện đại; phương pháp đào tạo phù hợp và không ngừng được hoàn thiện; Ba là, hệ thống gỉáo trình, tài liệu tham khảo phong phú, luôn được cập nhật, sửa đổi bổ sung, và hoàn thiện; Bốn là, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, gắn công tác nghiên cứu khoa học với đào tạo; Năm là, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học được đầu tư đúng mức; Sáu là, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên. Cả 6 yếu tố nêu trên đều được cán bô tốt nghiệp ngành luât đang công tác trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật đề cập tới nhưng tầm quan trọng của mỗi yếu tố thì được nhấn mạnh ở mức độ khác nhau. Rất ít người chỉ nêu một trong các yếu tố. Điều này cho thấy tư duy của họ hướng tới cái nhìn tổng thể về sự kết hợp đồng thời nhiều yếu tố. Có một số người chọn hai trong số sáu yếu tố; có người chọn đồng thời 3 hoặc 4 trong số sáu yếu tố; và có người nhấn mạnh đồng thời cả sáu yếu tố. Nói chung, cần kết hợp hài hoà các yếu tố khác nhau thì mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý.

7. Về khả năng thích ứng và điều kiện để cán bộ pháp lý làm việc có chất lượng và hiệu quả. Phần lớn cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang làm việc trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể tự đánh giá là có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu của công việc chuyên môn được giao. Nhưng cũng còn có một bộ phận đáng kể tự đánh giá khả năng thích ứng công việc của họ chỉ đạt mức trung bình so với yêu cầu công việc. Những người thích ứng công việc chậm chiếm một tỷ lệ không đáng kể. Có tình trạng trên đây là số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành luật được công tác trong nhiều cơ quan tổ chức khác nhau với những chức năng chuyên môn rất khác nhau. Đa phần những cán bộ pháp lý công tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật theo đúng chuyên môn đã được đào tạo là có khả năng thích ứng công việc nhanh. Một số cán bộ công tác tại các cơ quan, tổ chức khác, sự thích ứng có phần chậm hơn. Điều này có nguyên nhân như: Tự thân một số cán bộ chưa thực sự tâm huyết với công việc được giao; do quan niệm và cách bố trí sử dụng cán bộ của một số cơ quan tổ chức chưa hợp lý. Ngoài ra, còn có nguyên nhân là trong quá trình đào tạo việc trang bị những kiến thức nhằm giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật với các vấn đề xã hội khác còn hạn chế.

8. Về việc bố trí công việc cho cán bộ pháp lý: Qua thực tế điều tra cho thấy, chỉ có khoảng 20% cán bộ pháp lý đang làm việc trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể làm việc đạt hiệu quả cao, khoảng 60% đạt hiệu quả trung bình và khoảng 10% đạt hiệu quả công việc còn thấp. Như vậy, có tới 70% người được hỏi đã trả lời rằng hiệu quả công tác của họ chỉ đạt ở mức trung bình hoặc còn thấp. Có nhiều lý do dẫn tới thực trạng trên, trong đó 81,07% người được hỏi cho rằng việc sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện nay chưa tương xứng với chuyên môn mà họ được đào tạo. Thậm chí có người cho rằng, họ phải làm những công việc không liên quan gì tới kiến thức pháp luật đã được học trong nhà trường.

Như vậy, bên cạnh việc đào tạo của nhà trường thì việc sử dụng và bố trí cán bộ pháp lý vào những vị trí, công việc đúng với trình độ và khả năng của họ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Từ đây, đặt ra một vấn đề quan trọng là cần phải gắn việc đào tạo với quy hoạch và sử dụng hợp lý cán bộ pháp lý; cần có giải pháp để tạo lập mối quan hệ giữa người đào tạo và người sử dụng cán bộ pháp lý.

9. Về nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý còn thấp: Thực trạng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật cho thấy chỉ có 20% người trả lời đánh giá việc sử dụng cán bộ pháp lý đạt hiệu quả cao; khoảng 70% đánh giá đạt hiệu quả trung bình và 10% cho là hiệu quả thấp. Như vậy, có tới 80% cho rằng hiệu quả sử dụng cán bộ chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc còn thấp.

Theo kết quả điều tra thì tình hình này có các nguyên nhân sau: một là, do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng chưa cao; hai là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao; ba là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chậm thích ứng, chưa chuyển biến kịp với yêu cầu của công việc được giao; bốn là, do chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa thoả đáng và năm là, do việc bố trí, sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật không phù hợp với chuyên môn mà họ đã được đào tạo.

10. Về các yếu tố bảo đảm hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý: Để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp đang công tác tại các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật cần chú ý đến nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, cần chú trọng các yếu tố cơ bản bao gồm: một là, bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp; hai là, cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc; ba là, Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp; và bốn là, cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Điều quan trọng hơn là không phải chỉ tập trung vào một giải pháp, mà phải triển khai các giải pháp đó trong tính thống nhất và đồng bộ; kết hợp các giải pháp với nhau để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật.

II. KIẾN NGHỊ

Từ việc phân tích các thông tin thu được trong quá trình khảo sát điều tra, nhóm thực hiện Dự án 877/2000 xin đề xuất một số kiến nghị như sau:

1. Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy có chất lượng, trình độ cao và tâm huyết với sự nghiệp đào tạo luật.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy là yếu tố quan trọng bậc nhất trong đào tạo đại học. Kết quả khảo sát cho thấy, nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy luật ở nước ta hiện nay được coi là một trong những giải pháp đặc biệt quan trọng, thu hút sự chú ý của cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Trong những năm qua đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường có đào tạo luật đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhưng so với yêu cầu trước mắt và lâu dài thì sự phát triển đó còn chậm và chưa tương xứng.

Để nhanh chóng xây dựng được đội ngũ cán bộ giảng dạy luật đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo luật ở nước ta hiện nay cần phải có những giải pháp đồng bộ. Dự án khuyến nghị cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về số lượng, đạt tỷ lệ 1 giáo viên/ 20 - 25 sinh viên. Để thực hiện được nhiệm vụ này, một mặt, Nhà nước cần có sự ưu tiên cho các cơ sở đào tạo luật về biên chế; mặt khác, ngay trong quá trình đào tạo các trường đào tạo luật cần chủ động lựa chọn những sinh viên có kết quả học tập giỏi, có khả năng làm công tác giảng dạy đại học để đào tạo, bồi dưỡng và sau khi tốt nghiệp có thể tuyển thẳng số sinh viên này làm cán bộ giảng dạy không cần thi tuyển. Đồng thời, các cơ sở cũng nên có chính sách thu hút các cựu sinh viên có kết quả học tập giỏi, có học vị thạc sĩ và tiến sĩ hiện đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, tâm huyết với công tác đào tạo luật về làm cán bộ giảng dạy.

Thứ hai, chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy luật. Tăng tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học vị sau đại học: Đến năm 2005, các cơ sở đào tạo luật cần có ít nhất 50% cán bộ giảng dạy có trình độ sau đại học, trong đó có 30% có học vị tiến sĩ và đến năm 2010, tỷ lệ này là 80% và 50%. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo luật cũng cần có kế hoạch cử người đi học để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ cho cán bộ giảng dạy. Để thực hiện được nhiệm vụ này, một mặt các cơ sở đào tạo có kế hoạch và tạo điêu kiện về vật chất và tinh thần cho cán bộ giảng dạy; mặt khác, Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ GD&ĐT cũng cần dành sự ưu tiên đầu tư cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy luật, vì so với các lĩnh vực khác việc đào tạo luật ở nước ta có sự chậm trễ lớn.

Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ giảng dạy luật thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và tham gia vào giải quyết các vấn đề thực tiễn pháp lý. Đây là điều kiện quan trọng để đội ngũ cán bộ giảng dạy luật nhanh chóng trưởng thành và là một trong những điều kiện để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo luật ở nước ta, gắn lý luận với thực tiễn. Xuất phát từ tính đặc thù của công tác đào tạo luật, trong các cơ sở đào tạo luật cần có các trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh và những trung tâm tư vấn để tạo ra môi trường cho cán bộ giảng dạy phát huy vai trò, thế mạnh của mình vào việc giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn, đồng thờỉ cũng là môi trường cho sinh viên tiếp xúc với thực tiễn và tập nghiên cứu khoa học.

          Thứ tư, xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ giảng dạy luật. Xuất phát từ tính đặc thù của nghề nghiệp giảng dạy đại học nói chung và giảng đạy đại học luật nói riêng, để xây dựng và phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy đòi hỏi phải có một cơ chế hợp lý và có hiệu quả. Để có được cơ chế này, đòi hỏi phải có nhiều yếu tố như: xây dựng và hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy; quy định quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ giảng dạy; định mức giờ giảng và các hoạt động chuyên môn; chính sách động viên, khuyến khích, khen thưởng và kỷ luật... Điều này đòi hỏi Nhà nước, các cơ quan quản lý giáo dục nói chung và cơ quan quản lý đào tạo luật và các cơ sở đào tạo luật nói riêng phải có sự quan tâm đúng mức tới công tác này.

          Thứ năm, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trong đào tạo luật. Cần có chính sách để tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo luật thiết lập, mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ sở đào tạo luật ở nước ngoài; tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ giảng dạy luật Việt Nam đi giảng dạy, học tập, khảo sát về đào tạo và nghiên cứu luật ở nước ngoài cũng như cho các cán bộ giảng dạy luật ở nước ngoài đến Việt Nam để tham gia giảng dạy, trao đổi và hợp tác thực hiện các hoạt động nghiên cứu về luật học với đội ngũ cán bộ giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam.

2. Đổi mới nội dung chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế

Chương trình đào tạo là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo ra chất lượng đào tạo. Những năm đổi mới vừa qua, chương trình đào tạo cử nhân luật ở nước ta đã có những cải tiến đáng kể. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, chương trình đào tạo cử nhân luật ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng các yêu cầu mới đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, cần thiết phải có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung chương trình đào tạo theo hướng:

- Xác định rõ mục tiêu đào tạo cử nhân luật là nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về pháp luật, bước đầu có định hướng chuyên sâu; trang bị những kiến thức chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội có liên quan đến lĩnh vực pháp luật và kiến thức thực tiễn ở một mức độ hợp lý; rèn luyện kỹ năng thực hành để sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có thể giải quyết được những vấn đề thông thường trong lĩnh vực pháp luật.

- Đổi mới kết cấu và nội dung các môn học, các học phần; cập nhật những kiến thức mới, đồng thời loại bỏ những kiến thức đã lỗi thời, không còn phù hợp, bảo đảm tính truyền thống và tính hiện đại của chương trình đào tạo, tương xứng với chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân luật có uy tín ở khu vực và thế giới. Chương trình đào tạo phải bảo đảm tính toàn diện nhưng có trọng tâm trọng điểm, bao gồm các học phần bắt buộc và tự chọn. Các học phần bắt buộc phải có tính cơ bản và tính hệ thống cao; các học phần tự chọn phải phong phú để mở ra khả năng cho sinh viên chủ động lựa chọn và tự định hướng bước đầu cho nghề nghiệp của mình sau khi ra trường. Việc cấu trúc chương trình đào tạo phải gắn với việc xác định yêu cầu và phương pháp giảng dạy của thầy và học tập của trò để tạo điều kiện cho việc quản lý chặt chẽ quá trình đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo. Đồng thời, trong cấu trúc chương trình đào tạo cần dành một lượng thời gian đáng kể cho sinh viên đi thực tập ở các cơ quan pháp luật để tiếp xúc với thực tế và tập vận dụng kiến thức lý luận vào việc giải quyết các công việc cụ thể đặt ra trong thực tiễn.

3. Đổi mới và hoàn thiện phương pháp đào tạo

Đây là vấn đề có tính cấp bách nhất hiện nay, được nhiều cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các Cơ quan, Ban, Ngành, Tổ chức, Đoàn thể có sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật quan tâm. Điều này phản ánh đúng tình hình thực tế là, lâu nay các cơ sở đào tạo luật còn chậm đổi mới hoặc chưa quan tâm đúng mức tới công tác này. Việc đổi mới phương pháp đào tạo nhằm nâng cao tính hấp dẫn trong các giờ giảng; đề cao vai trò của người thầy trong sự định hướng, gợi mở những ý tưởng sáng tạo và phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của người học. Đề nghị các cơ sở đào tạo luật có biện pháp động viên, khuyến khích giáo viên cải tiến phương pháp đào tạo theo hướng:

- Áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu của từng môn học, từng bộ phận kiến thức của một môn học.

- Hoàn thiện các phương pháp giảng dạy truyền thống kết hợp với việc sử dụng các phương tiện hiện đại để tăng tính hấp dẫn của bài giảng.

- Tăng cường phương pháp nêu vấn đề, gợi ý, định hướng cho tư duy sáng tạo của sinh viên.

- Cải tiến phương pháp thảo luận, tạo điều kiện và buộc sinh viên phải chủ động chuẩn bị và tham gia tích cực vào quá trình thảo luận các vấn đề.

- Tăng cường áp dụng phương pháp tình huống vào quá trình đào tạo.

4. Tiếp tục thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạo

Xuất phát từ tình hình đội ngũ cán bộ pháp lý ở nước ta, nhu cầu và thực tiễn đào tạo cử nhân luật những năm vừa qua có thể khẳng định rằng, cần phải tiếp tục đa dạng hoá các loại hình đào tạo. Bên cạnh để đào tạo đại học luật hệ chính quy, cũng cần duy trì các loại hình đào tạo tại chức, chuyên tu, đào tạo văn bằng hai và đào tạo từ xa. Chỉ có bằng cách đó, chúng ta mới có điều kiện để đào tạo, bồi dưỡng và phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ hiện đang làm việc trong các cơ quan pháp luật và các tổ chức có cán bộ làm công tác pháp luật và xây dựng một đội ngũ cán bộ pháp lý mạnh đủ sức thực hiện nhiệm vụ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Tuy nhiên, việc đa dạng hoá các loại hình đào tạo cần gắn với việc xác định rõ nhu cầu, mục đích, đối tượng, quy mô và phương pháp đào tạo phù hơp với từng loại đối tượng, loại hình đào tạo và năng lực thực tế của mỗi cơ sở đào tạo luật.

5. Mở rộng quy mô đào tạo một cách hợp lý

Quy mô đào tạo là yếu tố tác động đến nhiều vấn đề, có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo. Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đội ngũ cán bộ pháp lý của chúng ta trong tương lai. Kết quả khảo sát cho thấy một vấn đề rất đáng quan tâm là, do công tác đào tạo luật có sự chậm trễ lớn so với các lĩnh vực đào tạo khác nên số lượng cán bộ có trình độ cử nhân luật ở nước ta hiện nay còn ít. Tình trạng cán bộ trong các cơ quan pháp luật còn thiếu và yếu là còn khi phổ biến, nhưng sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy lại khó tìm được việc làm sau khi ra trường và có nhiều ý kiến đều cho rằng quy mô tuyển sinh của một số cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay là vượt quá năng lực đào tạo thực tế của các cơ sở đó. Trong mấy năm gần đây, chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở đào tạo luật có xu hướng giảm chững lại và có phần giảm so với trước.

Nhưng trên cơ sở xem xét một cách rất kỹ lưỡng, thực trạng về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ pháp lý của chúng ta và nhu cầu của xã hội trong bối cảnh hội nhập, hợp tác quốc tế hiện nay, nhóm thực hiện Dự án thấy rằng, nhu cầu về cán bộ pháp lý có trình độ đại học và sau đại học ở nước ta còn lớn và sẽ còn gia tăng trong những năm tới khi sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền phát triển đến một trình độ mới, nhất là trong tương lai gần chúng ta sẽ tham gia đầy đủ vào AFTA và gia nhập WTO. Vì vậy, nếu không chủ động mở rộng quy mô đào tạo cử nhân luật một cách hợp lý thì rất có thể một lần nữa chúng ta lại có thể mắc lại khuyết điểm chậm trễ trong đào tạo luật. Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô đào tạo cần tính đến những điều kiện cụ thể như năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo luật; nhu cầu bức xúc của từng vùng, từng khu vực, ngành nghề... để có bước đi thích hợp. Nhóm thực hiện Dự án kiến nghị về quy mô đào tạo trong những năm tới như sau:

- Đối với hệ đào tạo cử nhân luật chính quy nên tăng quy mô tuyển sinh từ 10-15%/năm. Đây là loại hình đào tạo chuẩn, đối tượng là những sinh viên trẻ được chọn lựa kỹ, năng động, sáng tạo; không những có khả năng tiếp thu những kiến thức lý luận và thực tiễn về pháp luật mà còn có khả năng tiếp nhận những kiến thức về khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ và rất nhạy cảm với những vấn đề mới. Vì vậy, đây sẽ là nguồn cán bộ pháp lý có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong thời gian tới và tương lai, là nguồn bổ sung thường xuyên cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời là nguồn cán bộ chủ yếu để chọn lựa cho việc đào tạo cán bộ pháp lý có trình độ cao và đào tạo nhân tài luật học cho đất nước. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đội ngũ cử nhân luật hệ chính quy hiện còn chiếm tỷ lệ thấp so với số được đào tạo.

- Đối với hệ đào tạo tại chức tăng quy mô tuyển sinh 5% -10%/ năm. Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau về loại hình đào tạo này, nhưng có thể nói, nó, vẫn là loại hình cần được tiếp tục phát triển mới quy mô hợp lý. Do công tác đào tạo cán bộ pháp lý bậc đại học ở nước ta có sự chậm trễ quá lớn, nên tình trạng khủng hoảng thiếu cán bộ pháp lý đã diễn ra khá trầm trọng khi chúng ta thực hiện đường lối đổi mới. Do tình trạng này mà trong một thời gian dài, các cơ quan pháp luật nói riêng và nhiều cơ quan cần có cán bộ pháp luật nói chung đã phải tuyển cán bộ không được đào tạo về luật vào làm việc và nhu cầu về đào tạo tại chức đã gia tăng đột biến, dẫn đến tình trạng đào tạo quá tải, tràn lan, một số cơ sở không được phép đào tạo cũng vẫn mở lớp, dẫn đến chất lượng đào tạo của loại hình đào tạo này thấp. Cũng chính vì lý do này mà trong mấy năm trở lại đây, quy mô đào tạo đại học luật hệ tại chức chỉ còn khoảng 30% - 40% so với trước đây. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy rõ là nếu loại hình này được đào tạo và quản lý chặt chẽ thì nó có hiệu quả rất thiết thực để giải quyết tình trạng thiếu cán bộ pháp lý ở nước ta trước mắt và trong những năm tới, nhất là đối với các tỉnh vùng sâu, vùng xa và đối với nhiều cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vấn đề cán bộ pháp lý.

- Đối với hệ văn bằng hai cũng cần mở rộng quy mô hơn theo yêu cầu cụ thể. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay trong các cơ quan, tổ chức có nhiều người được phân công làm công tác có liên quan đến lĩnh vực pháp luật đã có bằng đại học, nhưng chưa được đào tạo về luật; đặc biệt hiện nay chúng ta có khoảng 90.000 doanh nghiệp (kể cả DNNN và DNTN), trong đó có nhiều doanh nghiệp lớn nhưng chưa có cán bộ pháp lý làm việc. Các doanh nghiệp này có nhu cầu cử những cán bộ chuyên môn đi học luật với mục đích sử dụng lâu dài. Loại hình đào tạo văn bằng hai mới được áp dụng vài năm nay nhưng đã cho thấy tính hợp lý, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của nước ta. Tuy nhiên, do còn đang trong quá trình thử nghiệm nên quy mô đào tạo loại hình này còn rất hạn chế, vì vậy cần tăng chỉ tiêu đào tạo loại cử nhân luật loại hình này.

- Tiến hành đào tạo từ xa. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng rất rộng rãi loại hình đào tạo này. Ở nước ta, loại hình đào tạo này đã được áp dụng cho việc đào tạo đại học thuộc nhiều lĩnh vực khác, nhưng đối với đào tạo luật thì mức độ sử dụng còn hạn chế. Trong những năm tới, các cơ sở đào tạo luật nên mở rộng quy mô đào tạo này. Việc đào tạo loại hình này cần phải có sự đầu tư đủ các điều kiện cần thiết để xây dựng chương trình, giáo trình, sách hướng dẫn, phương tiện kỹ thuật đặc thù...

Tuy nhiên, việc mở rộng quy mô đào tạo một cách hợp lý cần chú ý một cách toàn diện các yếu tố bảo đảm chất lượng đào tạo, trong đó một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là phải căn cứ vào năng lực đào tạo thực tế của các cơ sở đào tạo luật và nhu cầu thực tế của từng loại hình, địa phương và các ngành để phân bổ chỉ tiêu hàng năm. Đồng thời, phải có quy hoạch đào tạo cán bộ pháp lý cho một thời gian tương đối dài, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược pháp luật.

6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

Các cơ sở đào tạo cần xác định hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những mặt hoạt động chính của nhà trường để có kế hoạch, tổ chức thực hiện và có sự đầu tư thoả đáng cho công tác này. Có thể nói, so với các lĩnh vực khác, công tác nghiên cứu khoa học pháp lý ở nước ta cũng có sự chậm trễ lớn, nhất là việc nghiên cứu có tính ứng dụng trong lĩnh vực đào tạo cán bộ pháp lý. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó phải kể đến là các cơ sở đào tạo luật ở nước ta được thành lập muộn, năng lực còn hạn chế lại phải thực hiện nhiệm vụ lớn. Mặt khác, từ phía Nhà nước và các cơ quan hữu quan cũng chưa có sự quan tâm đúng mức để hỗ trợ cho các cơ sở đào tạo về công tác nghiên cứu khoa học. Để nâng cao chất lượng đào tạo thì một trong những giải pháp quan trọng là phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý trong các cơ sở đào tạo; gắn công tác nghiên cứu khoa học với công tác đạo để phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ giảng dạy và của sinh viên, làm cho công tác đào tạo có môi trường sống động, có điều kiện để tiếp cận với những vấn đề cơ bản, hiện đại, đồng thời luôn gắn với thực tiễn, góp phần phân tích và giải quyết những vấn đề của thực tiễn đặt ra trong lĩnh vực pháp luật.

Để đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong các cơ sở đào tạo luật nhóm thực hiện Dự án khuyến nghị:

- Nhà nước cần có sự ưu tiên đối với lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý nói chung và cho các cơ sở đào tạo luật nói riêng. Các cơ sở đào tạo luật cần được đầu tư để có các trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh, có điều kiện, phương tiện hiện đại và có đủ kinh phí để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học lớn để giải quyết những vấn đề cơ bản về phương diện lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực luật học.

- Các cơ sở đào tạo cần chủ động xây dựng kế hoạch có tính chiến lược và cụ thể về nghiên cứu khoa học để góp phần giải quyết những vấn đề chung của đất nước và phục vụ thiết thực cho việc nâng cao chất lượng đào tạo; xây dựng một hệ thống các đề tài phù hợp, bám sát các yêu cầu của đời sống pháp luật và đòi hỏi nâng cao chất lượng đào tạo.

- Có các biện pháp thu hút sự tham gia của các cán bộ giảng dạy và các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực pháp luật vào các hoạt động nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật. Cần coi kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng của cán bộ giảng dạy.

- Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học pháp lý, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ giảng dạy luật ở Việt nam có được những điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi với các đồng nghiệp của các nước về những vấn đề pháp lý hiện đại, học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm về đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý của các cơ sở đào tạo luật có uy tín của các nước trong khu vực và quốc tế.

- Có kế hoạch phù hợp để tổ chức triển khai ứng dụng kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học vào quá trình đào tạo và giải quyết những vấn đề mà thực tiễn pháp lý đặt ra.

- Đồng thời, để nâng cao chất lượng đào tạo cần tạo ra phong trào nghiên cứu khoa học rộng rãi của sinh viên; gắn yêu cầu học tập với yêu cầu nghiên cứu khoa học và tìm hiểu thực tiễn. Cần có nhiều hình thức tổ chức, thu hút sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học như: Phát động các cuộc thi với chủ đề là những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống pháp luật của đất nước; tổ chức các câu lạc bộ theo chuyên ngành để tạo môi trường cho sinh viên tham gia sinh hoạt nghiên cứu và trình bày ý tưởng và kết quả nghiên cứu khoa học của mình; gắn một số hoạt động có tính khoa học vào quá trình đào tạo như nghiên cứu hồ sơ và tổ chức diễn án; tổ chức cho sinh viên hội thảo về phương pháp học tập và về một số vấn đề thuộc nội dung của từng môn học để sinh viên chủ động nghiên cứu và tập tranh luận về những vấn đề khoa học... Trong việc tổ chức phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên cần lưu ý các giải pháp tạo động lực để sinh viên tự mình chủ động tìm tòi, sáng tạo, đồng thời các cơ sở đào tạo cũng cần có biện pháp động viên khen thưởng kịp thời và thích đáng đối với những sinh viên tích cực và có nhiều thành tích trong nghiên cứu khoa học.

7. Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo luật

Hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu học tập là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Việc đổi mới nội dung, chương trình phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được một cách có hiệu quả nếu có được một hệ thống giáo trình, tài liệu phong phú, có chất lượng cao, kịp thời cập nhật những kiến thức mới, hiện đại.

Việc xây dựng và hoàn thiện giáo trình, tài liệu phục vụ cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu phải gắn với việc phát triển chương trình đào tạo, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo. Hệ thống các giáo trình tài liệu này bao gồm: Các giáo trình chính thức của các môn học, học phần (bắt buộc và tự chọn); các sách chuyên khảo về những vấn đề chuyên sâu nhằm giúp cho sinh viên tự nghiên cứu và bước đầu có được định hướng chuyên sâu; các sách tham khảo về các vấn đề thuộc môn học được mở rộng, cập nhật những thông tin mới và những nội dung có liên quan cho sinh viên đọc tham khảo kết hợp với giáo trình để mở mang kiến thức và chuẩn bị các bài tiểu luận, luận văn; các sách hướng dẫn phương pháp học các môn học; đề cương môn học; các bài tập lớn và bài tập tình huống... Trong số các hệ sách nói trên, giáo trình được coi là tài liệu chuẩn, chứa đựng những kỉến thức cơ bản, tối thiểu mà sinh viên phải nắm vững toàn bộ. Giáo trình cũng là cơ sở để các giáo viên căn cứ vào đó mà thực hiện việc giảng dạy thống nhất nội dung của môn học và đánh giá kết quả học tập của sinh viên (mức tối thiểu). Vì vậy, việc biên soạn giáo trình phải được coi trọng đặc biệt. Bên cạnh đó, việc biên soạn, in ấn các hệ sách chuyên khảo, tham khảo... cũng cần được đẩy mạnh, vì trong giáo dục đại học hiện đại, người học cần có đủ điều kiện để tự đọc, tự học và người dạy bên cạnh việc giảng dạy trực tiếp cũng cần phải đọc nhiều và hướng dẫn sinh viên đọc, nghiên cứu các sách, tài liệu cụ thể để phát triển trí tuệ.

8. Hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo luật

Việc phát triển chương trình đào tạo, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo luôn đặt ra yêu cầu phải có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đủ sức để tạo ra môi trường sư phạm tốt; có đủ điều kiên để người giảng có thể tiết kiệm được thời gian và công sức, áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, sinh động và đạt được hiệu quả cao nhất. Đồng thời, cũng tạo cho người học sự hứng thú, tập trung và phải chủ động tham gia tích cực vào quá trình đào tạo.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị bao gồm nhiều yếu tố. Trước hết, phải nâng cấp các giảng đường, phòng học. Nhìn chung, các giảng đường, phòng học của các trường đào tạo luật hiện nay vẫn được thiết kế theo cách cũ, nghĩa là cho việc nghe giảng tập trung tại giảng đường theo lớp lớn là chủ yếu; đồng thời cũng có một số phòng học nhỏ cho việc thảo luận và học ngoại ngữ. Các trang thiết bị trong các giảng đường, phòng học này còn rất hạn chế. Hệ thống thư viện, phòng thực hành, cơ sở dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu, học tập... còn rất lạc hậu. Để đáp ứng nhu cầu đào tạo hiện nay, các trường đào tạo luật phải có sự đầu tư thoả đáng để hiện đại hoá cơ sở vật chất trang thiết bị theo hướng:

- Cơ cấu lại và nâng cấp tất cả các giảng đường, phòng học để bảo đảm tính cơ động trong việc giảng dạy lý thuyết ở các hội trường lớn với việc tổ chức học tập theo các lớp có quy mô nhỏ (40 người trở xuống) và áp dụng các phương pháp giảng dạy mới.

- Trang bị đồng bộ hệ thống máy tính, đèn chiếu, các thiết bị nghe nhìn hiện đại, đủ sức phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập trong tình hình mới.

- Xây dựng và thường xuyên phát triển cơ sở dữ liệu luật học, luật thực định và dữ liệu đào tạo phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập.

- Thực hiện tin học hoá toàn bộ quá trình đào tạo và quản lý đào tạo; Xây đựng mạng thông tin nội bộ, đồng thời thực hiện việc kết nối internet với các cơ sở trong nước và nước ngoài để khai thác thông tin phục vụ cho quá trình đào tạo.

- Sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào việc đánh giá kết quả đào tạo.

- Xây dựng cảnh quan môi trường, bảo đảm điều kiện sinh hoạt và giảng dạy, học tập, vui chơi giải trí cho thầy và trò.

9. Tăng cường công tác quản lý đào tạo và đổi mới công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo

Quản lý chặt chẽ quá trình đào tạo là yếu tố đặc biệt quan trọng để bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo cán bộ pháp lý. Kết quả khảo sát, điều tra cho thấy, ở một số cơ sở đào tạo luật công tác quản lý đào tạo còn nhiều yếu kém, thậm chí có cơ sở còn buông lỏng công tác quản lý nên đã để xảy ra những hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo không bảo đảm. Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng này như hệ thống quy phạm điều chỉnh quá trình đào tạo còn chưa đầy đủ, đồng bộ, nhiều quy định đã lỗi thời không còn phù hợp nữa nhưng chưa được sửa đổi bổ sung kịp thời; trình độ, năng lực của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế; nhiều cán bộ giảng dạy chỉ chú trọng công tác chuyên môn, chưa tích cực tham gia vào quá trình quản lý đào tạo; sự tác động của mặt trái của cơ chế thị trường... Để nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới nhóm nghiên cứu Dự án khuyến nghị một số giải pháp nhằm tang cường công tác quản lý đào tạo luật như sau:

- Tạo ra sự nhận thức thống nhất và đầy đủ về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của công tác quản lý đào tạo trong hoạt động của các trường đại học đào tạo luật, từ đó xây dựng một cơ chế quản lý đào tạo phù hợp, xây dựng và hoàn thiện các quy định đồng bộ, chặt chẽ về quản lý đào tạo; giao trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị và cá nhân cán bộ làm công tác quản lý đào tạo; đồng thời động viên toàn thể cán bộ giảng dạy tham gia tích cực vào quá trình quản lý đào tạo.

- Đổi mới công tác quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ quản lý đào tạo, kiên quyết không để những người không có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ tham gia vào công tác quản lý, nhất là giữ những chức vụ chủ chốt; động viên và bố trí những cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học có uy tín và có năng lực quản lý vào các vị trí quản lý đào tạo và thực hiện sự luân chuyển giữa cán quản lý và cán bộ chuyên môn.

- Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ và năng lực ứng dụng các công nghệ đào tạo mới, áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại vào quá trình đào tạo cán bộ pháp lý.

- Đổi mới mạnh mẽ công tác thi và kiểm tra, ứng dụng các công nghệ và phương pháp mới về đánh giá kết quả và chất lượng đào tạo. Đồng thời, tăng cường công tác thanh tra đào tạo.

- Tăng cường đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị và những điều kiện cần thiết cho công tác quản lý đào tạo, đổi mới công tác thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng đào tạo.

10. Xây dựng mô hình đào tạo và bồi dưỡng liên tục, tạo điều kiện cho cán bộ pháp lý có thể học tập không ngừng

Kết quả khảo sát của Dự án cho thấy, việc đào tạo đại học luật có ý nghĩa hết sức quan trọng, được coi là đào tạo cơ sở, đào tạo nền; chất lượng đào tạo đại học luật là yếu tố có tính quyết định đối với chất lượng và hiệu quả công tác của cán bộ pháp lý. Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ nói chung và của khoa học và công nghệ pháp lý nói riêng, khối lượng kiến thức pháp luật ngày càng gia tăng, trong khi đó thời gian đào tạo có giới hạn (4 năm), chương trình đào tạo đại học luật chỉ có thể trang bị cho người học một dung lượng kiến thức cơ bản nhất và tương đối toàn diện, trong đó có một bộ phận kiến thức bắt buộc chung cho tất cả sinh viên, còn lại chương trình phải thiết kế theo hướng mở để cho người học tự định hướng, chon lựa để học. Sau khi tốt nghiệp ra trường, cán bộ pháp lý có thể nhận được công việc không theo định hướng đã lựa chọn trong nhà trường, nên nếu không được đào tạo bổ sung thì cán bộ pháp lý sẽ phải tự mình nghiên cứu và không thể nhanh chóng thích ứng với công việc được giao. Hơn nữa, cùng với sự vận động và phát triển của xã hội, khoa học pháp lý cũng phát triển không ngừng làm gia tăng khối lượng kiến thức mới và đào thải một số kiến thức cũ. Từ đây xuất hiện nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng tiếp tục cho cán bộ pháp lý.

Tình hình đó đòi hỏi các cơ sở đào tạo cũng phải có các nhiều chương trình đào tạo và bồi dưỡng để đáp ứng nhu cầu học tập không ngừng của cán bộ pháp lý. Nhóm thực hiện Dự án khuyến nghị các trường đào tạo luật nên mở các lớp đào tạo và bồi dưỡng tiếp tục cho cán bộ pháp lý, trong đó có một số loại hình lớp như:

- Các lớp đào tạo theo chuyên đề các môn học, học phần mà trong quá trình học tại trường, sinh viên chưa chọn lựa nhưng nay có nhu cầu học (dạy theo chương trình đào tạo đại học).

- Các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật mới (cả lý thuyết và thực hành) để cán bộ pháp lý có điều kiện thường xuyên cập nhật kiến thức mới một cách bài bản và nhanh nhất, phục vụ cho công tác của mình.

- Các lớp đào tạo và bồi dưỡng nâng cao (sau đại học, nhưng không phải đào tạo theo hướng lý thuyết để lấy bằng thạc sĩ hay tiến sĩ) về các chuyên đề chuyên sâu và có tính ứng dụng cao.

- Các lớp bồi dưỡng về các kiến thức, kỹ năng của một số lĩnh vực có liên quan đến lĩnh vực pháp luật để giúp cho sinh viên đã tốt nghiệp ra trường có thể dự thi vào các ngành nghề được lựa chọn.

11. Gắn công tác đào tạo với công tác sử dụng cán bộ pháp lý

Kết quả khảo sát điều tra cho thấy, công tác đào tạo chưa có sự gắn kết với công tác sử dụng cán bộ pháp lý. Vì vậy, tình trạng thiếu cán bộ pháp lý mà nhiều sinh viên được đào tạo cơ bản khi ra trường lại không xin được việc làm hoặc có việc làm nhưng được bố trí và sử dụng chưa đúng, nên cán bộ pháp lý chậm thích ứng, hiệu quả công tác chưa cao... Để khắc phục tình trạng này, nhóm thực hiện Dự án kiến nghị:

- Nhà nước cần thực hiện các biện pháp về quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ một cách hợp lý. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ nhu cầu xã hội về cán bộ pháp lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan hữu quan sẽ giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cơ sở đào tạo luật dựa trên các yếu tố đảm bảo năng lực đào tạo của từng cơ sở. 

Nên coi kết quả học tập của sinh viên trong 4 năm tại trường là tiêu chí cơ bản nhất để chọn lựa cán bộ. Đối với số sinh viên có kết quả học tập giỏi không cần phải thi tuyển công chức, vì số này thực sự là vốn quý cần được ưu tiên sử dụng. Đồng thời chú trọng việc bố trí và sử dụng cán bộ một cách hợp lý để phát huy tốt năng lực và kiến thức của cán bộ pháp lý.

- Xây dựng mối quan hệ giữa các cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý với các cơ sở đào tạo để có thể chọn lựa ngay trong quá trình học tập tại trường những sinh viên có năng lực, có định hướng chuyên ngành phù hơp yêu cầu bố trí và sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức đó; tạo điều kiện cho sinh viên có thể về thực tập tại các cơ quan tổ chức đó để tìm hiểu về thực tiễn của lĩnh vực, chuyên ngành mà họ có năng lực và quan tâm, phát hiện những vấn đề và vận dụng kiến thức đã học vào nghiên cứu, giải quyết, làm chuyên đề và viết luận văn tốt nghiệp. Đề nghị các cơ quan, tổ chức tạo môi trường và cử người hướng dẫn, giúp đỡ sinh viên thực tập.

- Các trường đào tạo luật cần mở rộng các hình thức thông tin về kết quả đào tạo hàng năm, hàng kỳ và chủ động liên kết với các cơ quan, tổ chức có nhu cầu đào tạo và sử dụng cán bộ để nắm nhu cầu đào tạo và sử dụng cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ hướng dẫn thực tập cho sinh viên tại các cơ sở và thông tin, tư vấn cho sinh viên về vấn đề việc làm sau khi ra trường.

- Định kỳ nên tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ pháp lý để có sơ sở xem xét, điều chỉnh và phát triển nội dung chương trình, phương pháp và hình thức đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội trong từng thời kỳ cụ thể.

12. Có chính sách đãi ngộ phù hợp với cán bộ pháp lý

Cán bộ pháp lý hoạt động trong nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó có những lĩnh vực hoạt động đặc biệt, tính chất công việc của họ có những đặc thù riêng, vì vậy nhà nước, các cơ quan, tổ chức nên có chính sách đãi ngộ phù hợp cho từng đối tượng cụ thể như: Thẩm phán, điều tra viên, thi hành án, giám định viên... Chính sách đãi ngộ bao gồm những ưu tiên về cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc; phụ cấp trách nhiệm và những khuyến khích về vật chất; những biện pháp khuyến khích về tinh thần, động viên, khen thưởng những người có nhiều thành tích, tôn vinh những cá nhân có thành tích xuất sắc; khuyến khích và tạo điều kiện để cán bộ pháp lý được thường xuyên học hỏi nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, được đi tham quan, khảo sát học tập kinh nghiệm ở trong nước và nước ngoài...

13. Cán bộ pháp lý phải tự mình có ý thức học tập, rèn luyện thường xuyên để cập nhật những kiến thức mới, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kết quả khảo sát đã cho thấy rõ rằng, để có chất lượng và hiệu quả công tác cao, người cán bộ pháp lý không những phải có kết quả học đại học tốt mà còn cần có thêm những kiến thức thực tiễn, kiến thức về các lĩnh vực có liên quan khác, có kinh nghiệm, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp nhất định; năng động, nhạy bén với thực tiễn nền kinh tế; quyết đoán, tự tin trong giải quyết các công việc; cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm. Các phẩm chất và năng lực đó có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau.

Để có được những phẩm chất và năng lực đó thì ngoài việc các trường, các cơ quan, tổ chức trang bị, tạo điều kiện, người cán bộ pháp lý phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ pháp lý cần tạo những điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí; động viên, khuyến khích kịp thời để cán bộ cử nhân luật thường xuyên học tập nâng cao trình độ.

14. Sắp xếp lại việc đào tạo đại học luật tập trung trung vào hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và xây dựng trường Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo Luật ở Việt Nam

Từ những kết quả khảo sát của Dự án cho thấy, việc tăng cường năng lực của các trường đào tạo luật là hết sức cần thiết. Năng lực của các trường đào tạo luật do nhiều yếu tố hợp thành như:

- Xác định rõ sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược và mục tiêu đào tạo, trong đó sứ mạng của trường thể hiện rõ tính đặc thù, những truyền thống và tầm phát triển tương lai của trường, định hướng rõ những nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể cần đạt được, có tính khả thi và phù hợp với nguồn lực của trường.

- Có đủ cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và khả năng sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo.

- Có cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hiệu quả để bảo đảm cho việc thực hiện các kế hoạch và mục tiêu đào tạo đề ra.

- Có đủ đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao.

- Tuyển được đội ngũ sinh viên có phẩm chất và năng lực tốt.

- Có chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu đào tạo, trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản và phương pháp tư duy khoa học, khả năng phân tích và biết sử dụng kĩ thuật công nghệ mới vào học tập và nghiên cứu.

- Có phương pháp đào tạo tiên tiến, phù hợp với đối tượng người học, kết hợp lý thuyết với thực hành và bảo đảm đánh giá chính xác, khách quan, công bằng kết quả và chất lượng đào tạo.

- Có bộ máy, đội ngũ và cơ chế tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để phục vụ cho công tác đào tạo và phục vụ xã hội.

- Có hệ thống giáo trình tài liệu, thư viện tốt, hiện đại, đáp ứng các chương trình đào tạo của cán bộ, giáo viên và sinh viên.

- Có đủ năng lực để thực hiện và mở rộng quan hệ quốc tế phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học...

Như vậy, phát triển năng lực đào tạo của các trường đào tạo luật là vấn đề có tính bức xúc, nhưng cũng rất khó khăn, phức tạp và cần có điều kiện và thời gian mới có thể đạt được. Vì vậy, cần có hướng đầu tư trọng điểm để nhanh chóng xây dựng được một số cơ sở đào tạo luật có năng lực mạnh đủ sức thực hiện nhiệm vụ đào tạo luật đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và hội nhập quốc tế. Năng lực của trường đại học đào tạo luật quyết định chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Vì vậy, việc giao chỉ tiêu đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo cần căn cứ vào năng lực đào tạo cụ thể của cơ sở đào tạo.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy, hiện nay Trường Đại học Luật Hà Nội là cơ sở đào tạo có năng lực đào tạo tốt nhất, tiếp đến là Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Các cơ sở đào tạo luật khác năng lực còn hạn chế. Bên cạnh đó, một số trường đại học tuy năng lực đào tạo rất hạn chế và không được giao nhiệm vụ đào tạo luật nhưng vẫn thực hiện tuyển sinh và đào tạo luật.

Để đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ pháp lý trong giai đoạn hiện nay và lâu dài, nhóm thực hiện Dự án khuyến nghị Nhà nước có hướng đầu tư trọng điểm, tập trung đào tạo luật vào hai trường Đại học Luật Hà Nội và Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Đồng thời ưu tiên xây dựng Đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo luật ở Việt Nam để chúng ta nhanh chóng có được một trường đại học luật có năng lực, chất lượng đào tạo ngang tầm với khu vực và thế giới.

Để thực hiện được nhiệm vụ này đề nghị Nhà nước có sự ưu tiên đặc biệt cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật và mở mang trụ sở của Trường; xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; tăng cường nguồn lực tài chính; chỉ tiêu tuyển sinh; mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế... Nhóm nghiên cứu cho rằng đây là giải pháp có tính cấp bách và có tính khả thi, góp phần khắc phục sự chậm trễ trong lĩnh vực đào tạo luật và tình trạng manh mún, tản mạn không bảo đảm chất lượng đào tạo, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý của nước ta những năm vừa qua và hiện nay.

15. Kiến nghị về việc tiếp tục triển khai dự án trong tương lai

Dự án 877/2000 đã hoàn thành. Đây là Dự án điều tra khảo sát về thực trạng đào tạo và sử dụng cán bộ pháp lý được thực hiện lần đầu tiên ở nước ta nên điều kiện hạn chế kinh phí, thời gian, nhân lực tiến hành điều tra, khảo sát cũng còn hạn chế. Ban chủ nhiệm Dự án và các tiểu dự án đã cố gắng tiến hành điều tra trên một diện tương đối rộng, đối với nhiều đối tượng (chọn điểm) khác nhau và kết quả đạt được là khả quan và có độ tin cậy cao. Tất cả các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra đều đã được thực hiện và hoàn thành tốt.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của tình hình hiện nay và lâu dài, thì việc tiếp tục tiến hành điều tra khảo sát rộng hơn, sâu hơn, với sự tham gia đông đảo hơn của các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý thuộc nhiểu lĩnh vực, cơ quan, tổ chức có liên quan là hết sức cần thiết. Vì vậy, trên cơ sở của những kết quả khảo sát lần thứ nhất này, nhóm nghiên cứu đề nghị cho được phát triển và hình thành một dự án điều tra mới có quy mô và sự đầu tư lớn hơn.

Xin kính trình Hội đồng nghiệm thu kết quả thực hiện dự án B77/2000.

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN THỨ HAI

 

CÁC BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Chuyên đề 1:

 

ĐIỂU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ PHÁP LÝ ĐANG CÔNG TÁC TẠI CÁC

TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI,

TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP

 

I. KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

Trong đời sống xã hội thường ngày cũng như trong công tác nghiên cứu khoa học, các tầng lớp xã hội nói chung cũng như các nhà khoa học luôn mong muốn nghiên cứu, phân tích nhằm tìm ra tình hình, thực trạng hay bản chất của các vấn đề xã hội, các hiện tượng xã hội hay các quá trình xã hội khác nhau. Để có được nhận thức phản ánh tương đối chân thực hiện thực xã hội thì cần thiết phải có các phương pháp nghiên cứu khoa học. Phương pháp khoa học càng tối ưu bao nhiêu thì hiệu quả mang lại càng lớn và càng có giá trị khoa học bấy nhiêu. Chính vì vậy mà ngày nay phương pháp điều tra xã hội học ngày càng được sử dụng rộng rãi để khảo sát và nghiên cứu các vấn đề xã hội mà xã hội đang quan tâm nhằm phục vụ công tác nghiên cứu lý luận cũng như công tác quản lý xã hội.

Trên cơ sở nhận thức đó, Tiểu dự án “Điều tra đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ pháp lý đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp” đã sử dụng các phương pháp phỏng vấn cá nhân và phương pháp Ankét nhằm các mục đích:

- Nắm bắt được tình hình, thực trạng sử dụng đội ngũ cán bộ pháp lý đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghể nghiệp.

- Đánh giá chất lượng kiến thức đã đào tạo, tìm ra những điểm bất hợp lý, chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn của các cán bộ pháp lý đang làm việc, công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

- Trên cơ sở kết quả điều tra, tìm ra những nguyên nhân chính tác động tới chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo cũng như hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đồng thời, đề xuất kiến nghị nhằm tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Quá trình thu thập thông tin và xử lý kết quả điều tra xã hội học các cán bộ đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp cho các thông tin về đối tượng khảo sát như sau:

1. Về số lượng các loại phiếu phỏng vấn cá nhân và phiếu trưng cầu ý kiến tương ứng với từng tố chức:

 

Mã phiếu

Các tổ chức

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Các tổ chức chính trị- xã hội

166

43.12

43.12

2

Các tố chức chính trị

121

31.43

74.55

3

Các tổ chức xã hội nghề nghiệp

89

25.45

100.00

 

Tổng:

385

100.00

 

 

 

2. Về cơ cấu các nhóm lứa tuổi, số lượng các loại phiếu được phân bổ tương ứng với từng nhóm lứa tuổi của đối tượng được khảo sát là:

 

Mã số

Nhóm lứa tuổi

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Dưới 30 tuổi

156

40.52

40.52

2

Từ 30 đến 40 tuổi

107

27.79

68.31

3

Từ 40 đến 50 tuổi

96

24.94

93.25

4

Lớn hơn 50 tuổi

26

6.75

100.00

 

Cộng:

385

100.00

 

 

3. Về cơ cấu giới tính, số lượng các loại phiếu được phân bổ tương ứng với hai nhóm giới tinh của đối tượng được khảo sát là:

 

Mã số

Giới tính

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Nam

232

60.26

60.26

2

Nữ

153

39.74

100.00

 

Tổng số:

385

100.00

 

 

4. Xét theo cơ cấu về trình độ chuyên môn, số lượng các loại phiếu được phát ra và thu về tương ứng với ba nhóm trình độ của đối tượng được khảo sát là:

 

Mã số

Hình thức đào tạo

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Cử nhân luật học

355

92.69

9269

2

Thạc sĩ luật học

24

6.27

98.96

3

Tiến sĩ luật học

4

1.04

100.00

 

Tổng:

383

100.00

 

 

5. Xét theo các hình thức đào tạo, số lượng các loại phiếu được phát ra và thu về tương ứng với sáu hình thức đào tạo mà đối tượng được khảo sát đã theo học là:

 

Mã số

Hình thức đào tạo

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Chính quy

202

52.60

52.60

2

Tại chức

155

40.36

92.97

3

Chuyên tu

8

2.08

95.05

4

Mở rộng

16

4.17

99.92

5

Đào tạo từ xa

2

0.52

99.74

6

Cử tuyển

1

0.26

100.00

 

Tổng cộng:

384

100.00

 

 

6. Về cơ sở đào tạo luật mà các đối tượng được khảo sát đã từng được học, kết quả khảo sát tương ứng với từng Trường (Khoa) như sau:

 

Mã số

Cơ sở đào tạo

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Trường Đai hoc Luật HN

192

50.00

50.00

2

Khoa luật ĐHQG. Hà Nội

73

19.01

69.01

3

Trường ĐH.Luật TP.HCM

109

28.39

97.04

4

Các cơ sở đào tạo khác

10

2.60

100.00

 

Cộng

385

100.00

 

 

7. Tính theo cơ cấu năm tốt nghiệp, số lượng các loại phiếu được phát ra và thu về tương ứng với bốn nhóm thời gian mà đối tượng được khảo sát đã tốt nghiệp cử nhân luật bao gồm:

 

Mã số

Năm tốt nghiệp

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Trước năm l970

35

9.09

9.09

2

Từ 1970 đến 1980

1

0.26

9.35

3

Từ 1980 đến 1990

30

7.97

17.14

4

Từ sau năm 1990

319

82.86

100.00

 

Tổng số:

385

100.00

 

 

8. Tính theo đơn vị là các cơ quan, tổ chức mà cuộc khảo sát đã lấy thông tin gồm có:

8.1. Đoàn luật sư: có 33 lượt người tham gia trả lời.

8.2. Chi hội luật gia: có 8 lượt người tham gia trả lời.

8.3. Hội luật gia: có 12 lượt người tham gia trả lời.

8.4. Báo Đại đoàn kết: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.5. Báo Doanh nghiệp: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.6. Báo Nhân dân: có 10 lượt người tham gia trả lời.

8.7. Báo Tiền phong: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.8. Bộ Lao động - TB - XH: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.9. Bộ Thương mại: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.10. Bưu điện Hà Nội: có 1 lượt người tham gia trả lời.

8.11. Công an quận, huyện: có 4 lượt người tham gia trả lời.

8.13. Các loại công ty: có 24 lượt người tham gia trả lời.

8.14. Nhà xuất bản CAND: có 2 lượt người tham gia trả lời.

8.15. Phân viện học viện CTQG: có 6 lượt người tham gia trả lời.

8.16. Phòng lao động TBXH: có 4 lượt người tham gia trả lời.

8.17. Phòng tư pháp: có 9 lượt người tham gia trả lời.

8.18. Hội liên hiệp phụ nữ: có 29 lượt người tham gia trả lời.

8.19. Ban nội chính TW: có 15 lượt người tham gia trả lời.

8.20. Ban tuyên giáo tỉnh: có 6 lượt người tham gia trả lời.

8.21. Học viện CTQG Hồ Chí Minh: có 27 lượt người tham gia trả lời.

8.22. Quận uỷ và Quận đoàn: có 38 lượt người tham gia trả lời.

8.23. Tổng Liên đoàn lao động: có 8 lượt người tham gia trả lời.

8.24. Liên đoàn lao động tỉnh: có 9 lượt người tham gia trả lời.

8.25. Mặt trận Tổ quốc: có 3 lượt người tham gia trả lời.

Ngoài ra còn có đại diện của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Thành hội Phật giáo, Văn phòng luật sư, Vãn phòng tư vấn pháp luật... cũng tham gia vào cuộc khảo sát.

Kết luận: Sự lựa chọn ba nhóm đối tượng là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tham gia vào cuộc khảo sát đảm bảo được tính đại diện của mẫu điều tra. Phần lớn người trả lời thuộc nhóm lứa tuổi dưới 50 tuổi (93,25%), trong đó nam chiếm 60,26% và nữ chiếm 39,74%. Đa số họ (92,69%) có trình độ cử nhân luật, tập trung ở hệ đào tạo chính quy (52,60%) và hệ đào tạo tại chức (40,36%). Hầu hết người trả lời phiếu được đào tạo cử nhân luật tại ba cơ sở đào tạo luật lớn nhất cả nước là Trường Đại học Luật Hà Nội (50,00%), Trường Đại học Luật TP. HCM (28,39%) và Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (19,01%), trong số đó chiếm tới 82,86% số người tốt nghiệp cử nhân luật sau năm 1990. Cơ quan, tổ chức nơi đối tượng được khảo sát đang làm việc cũng rất đa dạng. Nhiều nhất là ở Quận uỷ, Quận và Huyện đoàn; tiếp đến là làm việc tại các Đoàn luật sư; các toà báo như Báo Nhân dân; các công ty tư vấn đầu tư; Hội và Chi hội luật gia; Hội Liên hiệp phụ nữ; Tổng Liên đoàn lao động và Liên đoàn lao động các tỉnh; Mặt trận Tổ quốc; Văn phòng tư vấn pháp luật...

II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ PHÁP LÝ ĐANG CÔNG TÁC TẠI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP

1. Cử nhân luật được vào làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp như thế nào?

Quyền được lao động, làm việc để có thu nhập là một trong những quyền cơ bản của con người đang được đề cập đến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Quá trình mỗi người phấn đấu học tập, rèn luyện trong suốt cuộc đời mình cũng là nhằm mục đích có được việc làm tốt với thu nhập cao. Sau khi tốt nghiệp ra trường, có được trình độ cử nhân, ai cũng muốn có việc làm. Để tìm hiểu thực trạng vấn đề này, chúng tôi nêu câu hỏi: Ông (bà) được nhận vào làm việc trong tổ chức (cơ quan) như thế nào? Kết quả xử lý thông tin cho thấy như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Dự tuyển công chức và trúng tuyển

114

29.61

29.61

2

Do cơ quan chức năng phân công công tác

141

36.62

66.23

3

Theo sự giới thiệu của bạn bè người thân

125

32.47

98.70

4

Theo cách khác

5

1.30

100.00

 

Tổng số:

385

100.00

 

 

Bảng 1: Được nhận vào làm việc trong tổ chức (cơ quan) như thế nào?

Với ba phương án trả lời được liệt kê sẵn và một phương án để ngỏ, bảng 1 cho thấy tỷ lệ người trả lời phân bố tương đối đều. Theo cách dự thi tuyển công chức và trúng tuyển vào làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp có 114 người, chiếm 29,61%. Trong số này, nam chiếm 57,02% và nữ chiếm 42,98%; phần nhiều thuộc nhóm lứa tuổi dưới 30 tuổi (62,28%), tỷ lệ giảm dần theo từng nhóm tuổi và chỉ có 2 người trên 50 tuổi; 102 người (89,47%) trong số họ tốt nghiệp cử nhân luật sau năm 1990 và phần lớn tốt nghiệp hệ chính quy (72,57%). Những số liệu trên, một mặt, cho thấy sự phù hợp giữa các đặc điểm cá nhân với yêu cầu của Nhà nước mà họ phải tuân thủ là phải dự thi tuyển công chức và phải trúng tuyển thì mới được nhận vào làm việc tại các cơ quan, tổ chức Nhà nước; mặt khác, nó cũng chứng minh rằng lớp trẻ ngày nay có ý chí, nghị lực cao trong quá trình lập nghiệp. 

Có 141 người (36,62%) hiện đang làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội là do sự điều động, phân công của các cơ quan chức năng. Số này tập trung ở nhóm tuổi từ 30 tuổi đến 40 tuổi (38 người, chiếm 26,95%) và từ 40 tuổi đến 50 tuổi (62 người, chiếm 43,97%), chỉ có 19 người (13,48%) ở độ tuổi ngoài 50 tuổi. Phần nhiều trong số họ (63,12%) tốt nghiệp hệ tại chức sau năm 1990 (79,43%). Có thể thấy rằng đa số những người đang làm việc trong các tổ chức chính trị — xã hội là do sự điều động, phân công của các cơ quan chức năng theo cơ cấu, chính sách sử dụng cán bộ. Vừa đi làm họ vừa theo học cử nhân luật hệ tại chức để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của công việc.

Một điều khá lý thú là có tới 125 người (32,47%) trả lời rằng họ đi làm ở các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp theo sự giới thiệu của bạn bè, người thân. Gần 50% trong số này thuộc độ tuổi dưới 30 tuổi, trình độ cử nhân luật.

Vậy cán bộ tốt nghiệp ngành luật đảm nhiệm công việc chuyên môn gì trong các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp? Kết quả điều tra cho thấy họ làm các công việc như sau:

Chiếm nhiều nhất là số làm chuyên viên trong các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp (66 người - 18,08%). Tiếp đến là làm công tác tư vấn pháp luật (60 người - 16,44%); cán bộ văn phòng (40 người - 10,96%); luật sư (21 người - 5,75%); cán bộ nghiên cứu (17 người - 4,66%). Ngoài ra còn nhiều công việc khác như làm thư ký, trợ lý, công tác dân vận, quản lý nhân sự... Như vậy, lĩnh vực chuyên môn mà cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang làm trong các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp tương đối đa dạng và phong phú, là những công việc có thể phát huy được phần nhiều kiến thức pháp luật mà họ tiếp thu được trong quá trình học tập tại trường luật. Nhận xét này là có cơ sở vì khi được hỏi: Công việc đó có phù hợp với chuyên môn được đào tạo trong trường không? Phần lớn người được hỏi (322/385, chiếm 83,64%) trả lời rằng có phù hợp (xem bảng 2):

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

322

83.64

83.64

2

Không

63

16.36

100.00

 

Tổng số:

385

100.00

 

 

Bảng 2: Công việc đang làm có phù hợp với chuyên môn được đào tạo?

Số người trả lời công việc không phù hợp phần nhiều (35/63 người, chiếm 55,56%) thuộc độ tuổi dưới 30 tuổi, tốt nghiệp ra trường sau năm 1990 (50/63 người, chiếm 79,37%), bao gồm cả tốt nghiệp hệ chính quy và tại chức. Điều này phản ánh một tình trạng thực tế là có một bộ phận cử nhân luật không được bố trí công việc đúng với chuyên môn được đào tạo. Lý do chủ yếu là vì sức ép cần việc làm nên họ tự nguyện làm những việc không phù hợp với chuyên môn.

2. Thực trạng vai trò của cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác ở các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp:

Rõ ràng có nhiều cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác ở các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Nhưng có phải thực sự các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp cần cán bộ pháp lý không? Người ta đánh giá thế nào về vai trò của cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác ở các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp? Câu hỏi này cho kết quả:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Rất cần thiết

200

51.95

51.95

2

Cần thiết

174

45.19

97.14

3

Có cũng được không cũng được

10

2.60

99.74

4

Ý kiến khác

1

0.26

100.00

 

Tổng số

385

100.00

 

 

Bảng 3: Đánh giá về vai trò của cán bộ tốt nghiệp ngành luật?

Các số liệu ở bảng 3 đánh giá hết sức khả quan. Có tới 200 người (51,95%) được hỏi nhận định rằng vai trò của cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác ở các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp là rất cần thiết và 174 người (45,19%) đánh giá là cần thiết. Phần lớn số này thuộc nhóm dưới 40 tuổi. Như vậy không thể phủ nhận vai trò của cán bộ pháp lý trong các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Điều này càng đúng khi trong các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có sự hiện diện của Đoàn luật sư, Hội luật gia...

3. So sánh kiến thức đã được học với công việc chuyên môn đang làm:

Trong thời gian học tập, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo luật, sinh viên được nhà trường trang bị cho một khối lượng nhất định kiến thức pháp lý và những kiến thức xã hội khác. Vậy khi vào làm việc tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp họ đã phát huy kiến thức đó như thế nào? Để làm sáng tỏ vấn đề này, trong phiếu điều tra đưa ra câu hỏi: Đối chiếu kiến thức đã học với công việc chuyên môn đang làm ông bà thấy thế nào?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Sử dụng ngay được kiến thức đã học

95

24.93

24.93

2

Cần kết hợp kiến thức đã học với việc học hỏi kinh nghiệm của người đi trước

220

57.74

82.68

3

Cần tự học và bổ túc kiến thức

43

11.29

93.96

4

Cần được đào tạo lại cho phù hợp với công việc đang làm

23

6.04

100.00

 

Tổng số:

381

100.00

 

 

Bảng 4: Đối chiếu kiến thức đã học với công việc chuyên môn đang làm

Kết quả xử lý số liệu ở bảng 4 cho thấy, chỉ có một tỷ lệ nhỏ (95 người, chiếm 24,93%) cho rằng có thể sử dụng được ngay kiến thức đã học vào công việc đang làm. Số này chủ yếu thuộc giới tính nam (71,58%), phân bố tương đối đều ở các nhóm lứa tuổi đến dưới 50 tuổi, tập trung ở hệ đào tạo chính quy và tại chức. Có lẽ số này tốt nghiệp cử nhân đạt loại khá giỏi nên mạnh dạn khẳng định mình sử dụng được ngay kiến thức đã học vào công việc đang làm. Trong khi đó, chiếm phần nhiều (220 người – 57,74%) số người được hỏi cho rằng để làm được công việc chuyên môn, họ cần kết hợp kiến thức đã học với việc học hỏi kinh nghiệm những người đi trước. Trong số này, xét theo hình thức đào tạo có 130 người (59,36%) tốt nghiệp hệ chính quy và 78 người (35,62%) tốt nghiệp hệ tại chức; gần 50% học tại Đại học Luật Hà Nội, còn lại học ở các cơ sở khác. Những con số trên đây phản ánh một tình hình thực tế là cử nhân luật, nhất là tốt nghiệp hệ chính quy, vào đời thường bỡ ngỡ, lúng túng trước những yêu cầu của thực tiễn công việc. Có lẽ còn tồn tại một khoảng cách giữa lý thuyết được trang bị và thực tiễn cuộc sống luôn vận động. Chuyện sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật chính quy mà chưa biết cách đọc và phân tích hồ sơ hồ sơ một vụ án hình sự, chưa làm được một bản báo cáo có chất lượng hay chưa soạn được một văn bản hành chính là những chuyện hoàn toàn có thật. Nếu như học viên tại chức vừa học vừa làm, trực tiếp làm công tác pháp luật hoặc có liên quan đến pháp luật, ít hay nhiều họ đã tích lũy được những kinh nghiệm thực tiễn; thì sinh viên chính quy ngoài việc học lý thuyết họ hầu như không có được những kiến thức thực tế cần thiết. Như vậy, thực trạng sử dụng đội ngũ cán bộ pháp lý có liên quan mật thiết với công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cử nhân luật. Các cơ sở đào tạo luật phải hết sức chú ý trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên.

Thực trạng của việc vận dụng kiến thức pháp lý vào công việc chuyên môn còn biểu hiện ở một bộ phận nhỏ khác: 43 người (11,29%) cho rằng để làm được việc cần phải phấn đấu tự học thêm, theo học các lớp bổ túc chuyên môn nghiệp vụ; 23 người (6,04%) thấy rằng họ cần phải được đào tạo lại cho phù hợp với công việc đang làm.

Kết luận: Thực trạng của việc vận dụng kiến thức pháp lý vào công việc chuyên môn của đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp là: khoảng 1/4 có thể sử dụng được ngay kiến thức đã được học vào công việc đang làm; gần 2/3 để làm được công việc chuyên môn cần kết hợp kiến thức đã học với việc học hỏi kinh nghiệm những người đi trước; bộ phận nhỏ còn lại thấy rằng để làm được việc cần phải phấn đấu tự học thêm, theo học các lớp bổ túc chuyên môn nghiệp vụ. Do đó, các cơ sở đào tạo luật phải hết sức chú ý trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên.

Việc trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng có ba nguồn quan trọng nhất. Một là, sinh viên phải tự giác và tích cực tự tìm hiểu, nghiên cứu để trang bị kiến thức thực tiễn cho chính mình. Hai là, đội ngũ thầy cô giáo trong quá trình giảng bài, ngoài việc trình bày những vấn đề lý luận cần vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn pháp lý để giải thích, kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn. Ba là, trong thời gian thực tập trước khi tốt nghiệp sinh viên cần chú ý rèn luyện những kỹ năng nghề nghiệp từ chính thực tế cuộc sống. Thời gian thực tập trước khi tốt nghiệp là khồng thể thiếu được đối với sinh viên trước khi ra trường. Khi được hỏi về thời gian thựe tập trước khi tốt nghiệp cần thiết như thế nào đối với cử nhân luật làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, có tới 342/382 người (89,53%) khẳng định là rất cần thiết và cần thiết (xem bảng 5):

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Rất cần thiết

171

44.76

44.76

2

Cần thiết

171

44.76

89.53

3

Có cũng được không cũng được

40

10.47

100.00

 

Tổng số:

382

100.00

 

 

Bảng 5: Thời gian thực tập trước khi tốt nghiệp cần thiết như thế nào?

4. Thực trạng khả năng thích ứng của cán bộ tốt nghiệp ngành luật với công việc chuyên môn:

Khả năng thích ứng của cán bộ tốt nghiệp ngành luật với công việc chuyên môn là một khía cạnh nói lên thực trạng của đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp. Nhằm khảo sát vấn đề này, chúng tôi đề nghị người trả lời tự đánh giá về khả năng thích ứng của mình với công việc chuyên môn. Kết quả như sau:

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Thích ứng nhanh

205

53.39

53.39

2

Thích ứng trung bình

170

44.27

97.66

3

Thích ứng chậm

9

2.34

100.00

 

Tổng số:

384

100.00

 

 

Bảng 6: Đánh giá về khả năng thích ứng

Quan sát các số liệu ở bảng 6 chúng ta thấy ngay rằng phần lớn cán bộ tốt nghiệp ngành luật (205 người, chiếm 53,39%) tự đánh giá là họ thích ứng nhanh với yêu cầu của công việc chuyên môn được giao. Trong số này, nam giới chiếm 60,49% (124 người) và nữ giới chiếm 39,51% (81 người), tương quan về độ tuổi phân bố tương đối đều trong khoảng từ dưới 30 tuổi đến dưới 50 tuổi. Hầu hết những người có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ đều thuộc nhóm thích ứng nhanh. Xét theo hình thức đào tạo, nhiều nhất là tốt nghiệp hệ chính quy (51,96%), tiếp đến là hệ tại chức (42,65%); chiếm tới 50% (102/205 người) là sinh viên chính quy học tại Đại học Luật Hà Nội. Phần lớn họ (80,49%) tốt nghiệp cử nhân luật sau năm 1990. Như vậy, những người thích ứng nhanh với công việc đang làm tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp có trình độ cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ, tốt nghiệp trong những năm gần đây; nhờ đó họ có thể đáp ứng được các yêu cầu của công việc được giao.

Ngoài ra có một bộ phận đáng kể (170/384 người, chiếm 44,27%) tự đánh giá khả năng thích ứng của họ trung bình so với yêu cầu của công việc, tập trung ở độ tuổi dưới 40 tuổi. Những người thích ứng trung bình chiếm tỷ lệ không đáng kể (2,34%). Chắc chắn là có nhiều lý do để họ đánh giá về bản thân như vậy, tiếc rằng khi được phỏng vấn họ đã từ chối không trả lời.

Để có cơ sở phân tích rõ hơn các yếu tố tác động đến khả năng thích ứng với công việc của cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, chúng tôi đưa ra câu hỏi: để làm việc có hiệu quả trong các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp thì cán bộ tốt nghiệp ngành luật cần có những phẩm chất nào? Trong các phương án trả lời liệt kê sẵn 5 phẩm chất cụ thể:

a) Tốt nghiệp ra trường phải đạt loại khá, giỏi, tinh thông nghề nghiệp được đào tạo.

b) Năng động, nhạy bén với thực tiễn nền kinh tế.

c) Quyết đoán, tự tin trong giải quyết các công việc.

d) Cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm.

e) Cả bốn phẩm chất trên đều cần thiết.

Kết quả xử lý thông tin như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Tốt nghiệp đạt loại khá giỏi

40

10.42

10.42

2

Năng động nhạy bén

106

27.60

38.02

3

Quyết đoán tự tin

78

20.31

58.33

4

Cập nhật thông tin, chính sách mới

100

26.04

84.38

5

Cả bốn phẩm chất trên

216

56.25

140.63

 

Tổng số

384

100.00

 

 

Bảng 7: Những phẩm chất cần thiết để làm việc có hiệu quả.

Nhìn vào các số liệu ở bảng 7 có thể thấy ngay rằng các phẩm chất cần có đối với một cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp đều được người trả lời đề cập đến, nhưng với tỷ lệ khác ở từng phẩm chất. Có lẽ nếu chỉ tốt nghiệp ra trường đạt loại khá, giỏi là chưa đủ để làm việc có hiệu quả nên rất ít người (40/384 người, chiếm 10,42%) chọn một mình phẩm chất này. Chỉ một mình phẩm chất quyết đoán, tự tin không được nhiều người đánh giá cao (78/384 người, chiếm 20,31%). Tương tự, có 100/384 người (26,04%) chỉ chọn một phẩm chất cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm và 106 người (27,60%) cho rằng chỉ cần năng động, nhạy bén với thực tiễn nền kinh tế sẽ làm việc tốt. Chiếm tới 56,25% (216/384 người) số người trả lời cho rằng họ cần cả năm phẩm chất: tốt nghiệp ra trường phải đạt loại khá, giỏi, tinh thông nghề nghiệp được đào tạo; năng động, nhạy bén với thực tiễn nền kinh tế; quyết đoán, tự tin trong giải quyết các công việc; cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm. Đánh giá như vậy là đúng vì thực tế cho thấy cả năm phẩm chất trên đều rất cần thiết, chúng có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Có được những phẩm chất nghề nghiệp như thế thì chắc chắn là cán bộ tốt nghiệp ngành luật sẽ nâng cao được hiệu quả công việc mà họ đang đảm nhận. Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để có được những phẩm chất nghề nghiệp đó? Nhà trường Đại học Luật cần quan tâm tới điều này.

5. Thực trạng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện nay trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện nay trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp được chúng tôi chia theo ba mức độ: đạt hiệu quả cao, đạt hiệu quả trung bình và hiệu quả chưa cao.

Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 8:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Đạt được hiệu quả cao

138

36.03

36.03

2

Đạt hiệu quả trung bình

176

45.95

81.98

3

Hiệu quả chưa cao

69

18.02

100.00

 

Tổng số:

383

100.00

 

 

Bảng 8: Hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật

Quan sát các số liệu ở bảng 8 chúng ta thấy có 138/383 người (36,03%) trả lời rằng sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đạt được hiệu quả cao. Số này tập trung ở nhóm dưới 50 tuổi, có 66,67% là nam và 33,3% là nữ. Xét theo trình độ chuyên môn có 91,25% là cử nhân, 6,57% là thạc sỹ và 2,19% là tiến sỹ. Cũng trong bảng 8, có 176/383 người (45,95%) đánh giá rằng sử dụng cán bộ luật chỉ đạt hiệu quả trung bình. Những người này chủ yếu tốt nghiệp cử nhân luật hệ chính quy (98/176 người, chiếm 55,68%) và hệ tại chức (63/176 người, chiếm 35,80%). Chỉ có 69/383 người (18,02%) đánh giá hiệu quả sử dụng chưa cao.

Kết luận: Về cơ bản hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện nay trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp chưa được như mong muốn của các cơ sở đào tạo luật và của các cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Với con số 36,03% đạt hiệu quả cao và 45,95% đạt hiệu quả trung bình và 18,02% đạt hiệu quả chưa cao thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao.

6. Thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay:

Mục đích của tiểu dự án không chỉ khảo sát đánh giá về thực trạng sử dụng đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà còn phải đánh giá được thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật ở nước ta hiện nay. Chất lượng đào tạo cử nhân luật có tác động hết sức quan trọng tới hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Về vấn đề này câu hỏi được nêu như sau: ông bà đánh giá như thế nào vể chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý hiện nay tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta? Kết quả xử lý thông tin thể hiện ở bảng 9:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Rất tốt

7

1.83

1.83

2

Tốt

97

25.39

27.23

3

Khá

132

34.55

61.78

4

Trung bình

123

32.20

93.98

5

Chưa tốt

. ..

23

6.02

100.00

 

Bảng 9: Đánh giá về chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý hiện nay

Chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý hiện nay tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta được chia theo năm mức độ biểu hiện: rất tốt, tốt, khá, trung bình và chưa tốt. Các số liệu ở bảng 9 cho thấy có 7/382 người (1,83%) đánh giá chất lượng đào tạo rất tốt - một tỷ lệ không đáng kể; tiếp đến có 97/382 người (25,39%) đánh giá chất lượng đào tạo tốt. Chiếm tỷ lệ cao nhất (132/382 người, đạt 34,55%) người được hỏi cho rằng chất lượng đào tạo cử nhân luật đạt loại khá. Tính chung, số cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo luật đạt chất lượng khá, tốt và rất tốt chiếm 61,78% (236/382 người tham gia trả lời).

Bên cạnh đó vẫn còn một tỷ lệ đáng kể người được hỏi đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay chỉ đạt mức độ trung bình (123 người, chiếm 32.20%) hoặc chưa tốt (23 người, chiếm 6,02%). Tổng cộng có 146 người (38,22%) đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay chỉ đạt mức độ trung bình hoặc chưa tốt. Trong số này, tỷ lệ phân bố khá đều giữa nam và nữ, tập trung ở nhóm tuổi dưới 40 tuổi, tốt nghiệp đại học sau năm 1990.

III. CÁC NGUYÊN NHÂN TÁC ĐỘNG TỚI CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁN BỘ TỐT NGHIỆP NGÀNH LUẬT TẠI CÁC TỒ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP

1. Các nguyên nhân tác động tới chất lượng đào tạo cán bộ pháp luật tại các cơ sở đào tạo luật:

Nhìn chung, tình hình thực trạng đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật được 61,78% cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính tri - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá là khá tốt hoặc rất tốt. Ngoài ra cũng còn một bộ phận đáng kể (38,22%) đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt. Có nhiều nguyên nhân khác nhau tác động, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo luật: nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy, ý thức học tập phấn đấu của sinh viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phương pháp giảng dạy... Những nguyên nhân này nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, có nguyên nhân chủ yếu và có nguyên nhân thứ yếu tùy theo cách nhìn nhận, đánh giá của từng người trả lời.

2. Những nguyên nhân giúp cho chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật được đánh giá là khá, tốt:

Để làm sáng tỏ những nguyên nhân giúp cho chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật được đánh giá là khá, tốt, chúng tôi đưa ra câu hỏi: nếu đánh giá chất lượng đào tạo là khá, tốt hoặc rất tốt thì do những nguyên nhân nào? Kết quả xử lý thông tin như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Do đội ngũ giảng viên có trình độ cao và tâm huyết

147

61.51

61.51

2

Do sinh viên có ý thức cao trong học tập

126

52.72

114.23

3

Do trường có nội dung, chương trình đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao

87

36.40

150.63

4

Do cơ sở vật chất tốt

55

23.01

173.64

5

Do gắn được lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành

82

34.31

207.95

 

Tổng số:

497

0.84

208.79

 

Bảng 10. Các nguyên nhân làm nên chất lượng đào tạo khá và tốt

Các số liệu trong bảng 10 cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho các cán bộ tốt nghiệp ngành luật - những người đã từng học tại một trong số các cơ sở đào tạo luật đánh giá chất lượng đào tạo luật khá, tốt hoặc rất tốt nằm ở cả 5 yếu tố:

a) Do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao. Khi xây dựng được một chương trình đào tạo có kết cấu chặt chẽ, phù hợp với quỹ thời gian đào tạo; nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và làm nên chất lượng đào tạo tốt.

b) Do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Có được nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao nhưng còn cần một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề thì mới truyền tải tới sinh viên những kiến thức khoa học xã hội và khoa học pháp lý, tạo cho sinh viên một hành trang kiến thức tốt để họ vững vàng bước vào đời.

c) Do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Công nghệ giảng dạy đại học hiện đại thường lấy sinh viên làm trung tâm của hoạt động đào tạo. Chỉ có thể có chất lượng đào tạo tốt khi sinh viên chủ động tích cực và có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu.

d) Do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Dĩ nhiên cơ sở vật chất tốt chưa phải là tất cả, nhưng các điều kiện vật chất như thư viện, hội trường, thiết bị âm thanh, ánh sáng, giáo trình, tài liệu tham khảo... lại không thể thiếu đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên.

e) Do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực tiễn. Muốn có chất lượng đào tạo tốt thì phải có phương pháp đào tạo phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo.

Trong 5 nguyên nhân kể trên, nguyên nhân thứ 1 (do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề) được các cán bộ tốt nghiệp ngành luật đánh giá cao nhất với 147/385 người đề cập tới nguyên nhân này. Điều đó cho thấy cán bộ pháp lý (từng là sinh viên) đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp rất coi trọng vai trò của thầy cô giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Tiếp đến: có 126/385 người đề cập tới nguyên nhân thứ 2 (do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu); có 87/385 người đề cập tới nguyên nhân thứ 3 (do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học và tính thực tiễn cao); có 82/385 SV đề cập tới nguyên nhân thứ 4 (do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên) và chỉ có 55/385 người nói đến nguyên nhân thứ 5 (do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực tiễn, học đi đôi với hành). Những con số trên đây mới chỉ có ý nghĩa thống kê, nó cho thấy số lượt người trả lời lựa chọn một trong các nguyên nhân; nguyên nhân nào được đề cập nhiều (quan trọng hơn) và nguyên nhân nào được đề cập ít (ít quan trọng hơn).

Trong thực tế, tình hình thực trạng của một vấn đề chịu sự tác động không phải chỉ bởi một nguyên nhân mà bởi nhiều nguyên nhân cùng tác động. Bảng 10.2. chứng minh rất rõ luận điểm này. Quan sát các số liệu trong bảng 10.2. chúng ta thấy có rất ít người chỉ đề cập đến một nguyên nhân, còn đa số đề cập từ hai nguyên nhân trở lên, có những người đề cập do cả năm nguyên nhân. Cụ thể: có 97 người đề cập phối hợp do hai nguyên nhân, 54 người trả lời do ba nguyên nhân kết hợp lại, 19 người nói đến đồng thời bốn nguyên nhân và 5 người cho rằng nhờ cả năm nguyên nhân nên mới có được chất lượng đào tạo khá, tốt.

Như vậy, phần nhiều (61,78%) những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay là khá, tốt và rất tốt. Có được tình hình khả quan đó không chỉ do một nguyên nhân đơn lẻ mà do sự phối kết hợp của nhiều nguyên nhân: một là, do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề; hai là, do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu; ba là, do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học và tính thực tiễn cao; bốn là, do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên; và năm là, do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn, học đi đôi với hành. Mặc dù vậy, các số liệu thống kê cho thấy cũng còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và ý thức học tập của sinh viên. Khắc phục những nguyên nhân này là nhiệm vụ quan trọng trước mắt cũng như lâu dài của các cơ sở đào tạo luật. Những nguyên nhân còn tồn tại sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau.

3. Những nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật bị đánh giá là trung bình hoặc chưa tốt:

Để phân tích rõ những nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật bị những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá là trung bình hoặc chưa tốt, chúng tôi đưa ra câu hỏi: nếu đánh giá chất lượng đào tạo là trung bình hoặc chưa tốt thì do những nguyên nhân nào?

Kết quả trả lời như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Do đội ngũ giảng viên còn thiếu về số lượng

39

23.21

23.21

2

Do đội ngũ giảng viên có trình độ chưa cao

79

47.02

70.24

3

Do chưa chủ động về kế hoạch giảng dạy và nội dung, chương trình giảng dạy

58

34.52

104.76

4

Do cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chưa đạt yêu cầu

50

29.76

134.52

5

Do sự cách biệt giữa lý luận và thực tiễn

109

64.88

199.40

6

Nguyên nhân khác

2

1.19

200.60

 

Tổng số

168

 

 

 

Bảng 11. Các nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt

Nhìn các số liệu ở bảng 11 sẽ thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, bao gồm:

a) Do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường còn thiếu về số lượng. Cán bộ giảng dạy thiếu tất yếu dẫn đến một loạt sự thay đổi: phải thuê giảng viên nơi khác, không có được sự chủ động thực hiện kế hoạch giảng dạy, có sự xáo trộn lịch giảng cho các khoá, các lớp... Từ đó sẽ dẫn đến giảm sút chất lượng và hiệu quả giảng dạy và học tập.

b) Do đội ngũ giảng viên có trình độ chưa cao. Trình độ đội ngũ giảng viên chưa cao và không đồng đều là một nguyên nhân cơ bản tác động tới chất lượng đào tạo vì nó làm cho việc truyền đạt kiến thức cho người học cũng không đồng đều.

c) Do chưa chủ động về kế hoạch giảng dạy và nội dung, chương trình giảng dạy. Đây là lý do khiến cho cơ sở đào tạo lúng túng, bị động trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình giảng dạy, từ đó tác động tiêu cực tới chất lượng đào tạo. 

d) Do cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chưa đạt yêu cầu. Tình trạng thiếu cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập như phòng học, phòng đọc, thư viện, giáo trình, tài liệu tham khảo, máy vi tính ít hay nhiều đều có ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo.

e) Do có sự cách biệt giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn. Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm, đánh giá tính chân thực của hệ thống lý luận. Nếu giữa lý luận và thực tiễn có sự cách biệt; chỉ có kiến thức lý luận mà thiếu tính thực tiễn thì người học chỉ tiếp thu được những lý luận suông.

Trong các nguyên nhân chủ yếu khiến cho cán bộ tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, chiếm nhiều nhất (109/168 người) là nguyên nhân 5 (do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn), tiếp đến có 79/168 người nói đến nguyên nhân 2 (do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường có trình độ chưa cao, không đổng đểu); có 58/168 người đề cập đến nguyên nhân 3 (do chưa chủ động về kế hoạch giảng dạy và nội dung, chương trình giảng dạy); có 50/168 người nhắc đến nguyên nhân thứ 4 (do cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chưa đạt yêu cầu) và chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ có 39/168 người nói chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt là do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường còn thiếu về số lượng.

Như vậy, có nhiều nguyên nhân khiến cho những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tỉễn, học chưa đi đôi với hành. Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung, chương trình đào tạo, số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên và ý thức học tập của sinh viên mà các trường cần chú ý khắc phục.

4. Các nguyên nhân tác động tới hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp:

Như đã trình bày ở phần trước, về cơ bản hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện nay trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp chưa được như mong muốn của các cơ sở đào tạo luật và của các cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Với con số 36,03% đạt hiệu quả cao, 45,95% đạt hiệu quả trung bình và 18, 02% đạt hiệu quả chưa cao thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hỉệu quả trung bình hoặc chưa cao. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên?

4.1. Những nguyên nhân giúp cho việc sử dụng cán bộ pháp lý tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp được đánh giá là đạt hiệu quả cao:

Để tìm hiểu những nguyên nhân này, chúng tôi nêu ra câu hỏi: Nếu đánh giá việc sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật đạt hiệu quả cao xin cho biết do những nguyên nhân gì? Kết quả xử lý thông tin:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao

50

29.76

29.76

2

Do cán bộ cử nhân luật tận tâm với công việc được giao

75

44.64

74.40

3

Do cán bộ cử nhân luật thích ứng nhanh với những yêu cầu đổi mới của thực tiễn công việc

82

48.81

123.21

4

Do chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật đã thỏa đáng

15

8.93

132.14

5

Do chính sách sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên môn được đào tạo

60

35.71

167.86

 

Tổng số:

168

 

 

 

Bảng 12: Các nguyên nhân làm cho hiệu quả sử dụng cán bộ cao

Chắc chắn là có nhiều nguyên nhân tác động giúp cho việc sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đạt được hiệu quả cao. Chúng tôi tập trung phân tích năm nguyên nhân:

a) Do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao. Giữa chất lượng đào tạo cử nhân luật và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý có mối liên hệ mật thiết với nhau. Công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao là tiền đề hết sức quan trọng đưa tới việc sử dụng cán bộ pháp lý đạt hiệu quả cao. Có 50/168 lượt (chiếm 29,76%) người được hỏi đề cập tới nguyên nhân này. Đây là một tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, trong số 50 người đề cập nguyên nhân này, chỉ có 9 người đề cập duy nhất tới một mình nguyên nhân này, số còn lại nói đến nguyên nhân do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao trong sự kết hợp với các nguyên nhân khác, có người kết hợp thậm chí 5 nguyên nhân cùng một lúc. Điều đó chứng tỏ người trả lời nhìn nhận các nguyên nhân trong mối liên hệ qua lại giữa chúng.

b) Do cán bộ cử nhân luật tận tâm với công việc được giao. Để đạt được hiệu quả cao trong công việc thì sự nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao là một tố chất không thể thiếu được đối với cán bộ nói chung, đối với cán bộ cử nhân luật nói riêng đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Bảng 12 cho thấy có 75/168 người (chiếm 44,64%) cho rằng đạt được hiệu quả cao trong công việc là do cán bộ cử nhân luật tận tâm với công việc được giao. Trong số đó có 20 người đề cập chỉ một nguyên nhân này, đa số còn lại đánh giá trong sự liên hệ cùng các nguyên nhân khác. Vậy trong chính sách sử dụng cán bộ, các cơ quan, tổ chức cần giáo dục cán bộ đề cao sự nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao.

c) Do cán bộ cử nhân luật thích ứng nhanh với những yêu cầu đổi mới của thực tiễn công việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Nguyên nhân này được nhiều người đề cập nhất trong số các nguyên nhân (82/168 người, chiếm 48,81%), trong đó 26 người nhìn nhận nó độc lập với các nguyên nhân khác. Điều đó cho thấy sự thích ứng nhanh với những yêu cầu đổi mới của thực tiễn công việc là một nguyên nhân cơ bản mang lại hiệu quả cao trong công việc của cán bộ tốt nghiệp ngành luật.

d) Do chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật đã thỏa đáng. Chỉ có 15/168 người (8,93%) nói đến nguyên nhân này, và chỉ nhắc đến trong tương quan với các nguyên nhân khác. Điều đó cho thấy, một mặt, cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp tự giác, nỗ lực hoàn thành tốt công việc của mình mà ít đòi hỏi chế độ đãi ngộ; mặt khác, Nhà nước nên quan tâm hơn tới vấn đề này.

e) Do chính sách sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Có 60/168 người (chiếm 35,71%) đề cập tới nguyên nhân này, đây là một tỷ lệ tương đối cao xét trong tương quan với các nguyên nhân khác, nó cho thấy việc sử dụng cán bộ trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp nếu đúng với chuyên môn mà họ được đào tạo sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý. Thực tế cho thấy vẫn còn tình trạng các cơ quan sử dụng cán bộ không đúng với chuyên môn họ được đào tạo, nhiều cử nhân luật vẫn làm những công việc không có liên quan đến lĩnh vực pháp luật. Như vậy thì không thể có hiệu quả cao trong công việc được.

4.2. Những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng cán bộ pháp lý tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp bị đánh giá là đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao:

Chúng ta nhận thấy, chỉ có 36,03% người trả lời đánh giá việc sử dụng cán bộ pháp lý trong các tố chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đạt hiệu quả cao. Như vậy, với con số 45,95% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả trung bình và 18, 02% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả chưa cao thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên? Câu hỏi được đặt ra là: Nếu đánh giá sử dụng cán bộ pháp luật đạt hiệu quả trung bình hoặc thấp xin cho biết do những nguyên nhân gì? Kết quả như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Do công tác đào tạo đạt chất lượng chưa cao

116

45.67

45.67

2

Do cán bộ chưa tận tâm với công việc

34

13.39

59.06

3

Do cán bộ chưa chuyển biến thích ứng kịp với công việc

61

30.71

89.76

4

Do chính sách đãi ngộ của nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa thỏa đáng

75

36.61

126.38

 

Do chính sách sử dụng cán bộ chưa phù hợp với chuyên môn

97

37.80

164.17

 

Tổng số

293

 

 

 

Bảng 13: Các nguyên nhân làm cho hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý chưa cao.

Các số liệu trong bảng 13 cho thấy có năm nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trung bình hoặc chưa cao, bao gồm:

a) Do công tác đào tạo đạt chất lượng chưa cao. Chất lượng đào tạo có quan hệ mật thiết với hiệu quả sử dụng cán bộ. Nếu công tác đào tạo đạt chất lượng chưa cao thì tất yếu hiệu quả sử dụng cán bộ chỉ đạt mức trung bình hoặc thấp vì cử nhân luật không thể phát huy được những kiến thức đã học vào thực tế công việc của họ. Có tới 116/293 lượt người trả lời (chiếm 39,59%) đề cập tới nguyên nhân này. Đây là tỷ lệ cao nhất trong số các nguyên nhân được đề cập. Điều đó chứng tỏ rằng công tác đào tạo cử nhân luật cũng còn nhiều vấn đề phải bàn. Như vậy, một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho hiệu quả sử dụng cán bộ chỉ đạt mức trung bình hoặc thấp là do công tác đào tạo đạt chất lượng chưa cao.

b) Do cán bộ chưa nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao. Chỉ có 14/293 lượt người trả lời nhắc đến nguyên nhân này, chiếm 11,60%. Con số này là tỷ lệ thấp nhất trong các nguyên nhân. Nó cho thấy mặc dù còn những khó khăn trong công tác nhưng đa số cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đã nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao.

c) Do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, thích ứng kịp với công việc. Thực tiễn công việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhất là tổ chức xã hội nghề nghiệp được đề cập còn ít hoặc chưa được đề cập đến trong các bài giảng ở trường, nhưng ra trường cử nhân luật lại làm việc ở các cơ quan trên nên không thể lập tức thích ứng kịp với công việc. Mặc dù vậy, cũng chỉ có một bộ phận nhỏ (61/293 lượt người trả lời, chiếm 20,81%) cho rằng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật chỉ đạt mức trung bình hoặc thấp là do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, thích ứng kịp với công việc.

d) Do chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa thoả đáng. Có 75/293 lượt người trả lời (chiếm 25,59%) đề cập tới nguyên nhân này. Con số trên nói lên rằng, phần lớn cán bộ tốt nghiệp ngành luật vẫn cố gắng làm tốt công việc của mình mà không cần chờ chế độ ưu tiên của Nhà nước. Mặc dù vậy Nhà nước nên quan tâm nhiều hơn tối vấn đề này.

e) Do chính sách sử dụng cán bộ chưa phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Nguyên nhân này được 97 lượt người trả lời đề cập đến, chiếm 33,10%. Đây là một tỷ lệ đáng kể, nó cho thấy môt thưc tế vẫn tồn tại lâu nay là một bộ phận cử nhân luật ra trường làm những công việc trái với chuyên môn mà họ được đào tạo. Chính vì chính sách sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa phù hợp với chuyên môn mà họ được đào tạo nên dẫn đến hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp chỉ đạt mức trung bình hoặc thấp.

Kết luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp cho thấy chỉ có 36,03% người trả lời đánh giá việc sử dụng cán bộ pháp lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đạt hiệu quả cao. Sở dĩ họ đánh giá hiệu quả cao là do các nguyên nhân: một là, do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao; hai là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao; ba là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật thích ứng nhanh, chuyển biến kịp với công việc; bốn là, do chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật đã thoả đáng, phù hợp với mong muốn của họ; năm là, do chính sách sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên môn được đào tạo.

Bên cạnh đó, với con số 45,95% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả trung bình và 18, 02% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả chưa cao, thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao. Nguyên nhân đưa tới tình trạng này ngược lại với các nguyên nhân nêu trên.

IV. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO CỬ NHÂN LUẬT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁN BỘ TỐT NGHIỆP NGÀNH LUẬT TẠI CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP

1. Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay:

Việc tìm hiểu, đánh giá về tình hình, thực trạng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay sẽ trở nên vô nghĩa nếu như nó không nhằm mục đích tạo ra những căn cứ thực tiễn để đi đến những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI. Có nhiều yếu tố khác nhau liên quan tới công tác đào tạo và chất lượng đào tạo, do đó, cần có những giải pháp mang tính tổng thể, đổng bộ để phát huy các thế mạnh và hạn chế những nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo? Trong phần này chúng tôi tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

a) Phát triển cơ sở vật chất phục vu dạy và học.

b) Chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên.

c) Cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập.

d) Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên.

e) Thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo

g) Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế của giảng viên và sinh viên.

Mỗi giải pháp nêu trên được cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhìn nhận, đánh giá như thế nào? Vấn đề này được đề cập trong câu hỏi: Để nâng cao chất lượng đào tạo cần có những giải pháp gì? Kết quả xử lý phiếu thăm dò dư luận xã hội như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Phát triển cơ sở vật chất dạy và học

151

39.53

39.53

2

Chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giảng viên

268

70.16

109.69

3

Cải tiến phương pháp dạy và học

297

77.75

187.43

4

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên

166

43.46

230.89

5

Thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo

192

50.26

281.15

6

Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế

91

23.82

304.97

7

Giải pháp khác

 

 

 

 

Tổng sổ

382

 

 

 

Bảng 14: Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân Luật

Các số liệu ở bảng 14 cho thấy cả 6 giải pháp nêu trên đều được cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đề cập tới nhưng tầm quan trọng của mỗi giải pháp thì được nhấn mạnh khác nhau. Câu hỏi này cho phép có thể chọn nhiều giải pháp nên có rất ít người chỉ chọn một trong các giải pháp. Điều này cho thấy tầm tư duy của họ hướng tới cái nhìn tổng thể với sự kết hợp đồng thời nhiều giải pháp. Có một số người chọn hai trong số 6 giải pháp; có người chọn đồng thời 3 hoặc 4 trong số 6 giải pháp; và có người chọn đồng thời cả 6 giải pháp. Vậy giải pháp nào được đề cập đến nhiều nhất? Tương quan từng giải pháp có số lượt được nhắc đến như sau:

a) Có 151/382 người trả lời (chiếm 39,53%) chọn giải pháp 1: phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đây là một tỷ lệ tương đối thấp xét trong tương quan với các giải pháp khác, cho thấy cán bộ tốt nghiệp ngành luật không coi trọng lắm tới cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đây không phải là yếu tố quyết định trong việc nâng cao cliất lượng đào tạo mặc dù không thể phủ nhận vai trò quan trọng của nó.

b) Có 268 lượt/382 người (chiếm 70,16%) chọn giải pháp 2: chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên. Đây là một tỷ lệ cao xét trong tương quan với các giải pháp khác. Nó cho thấy đa số người học đòi hỏi chất lượng, trình độ đội ngũ giảng viên phải cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của họ.

c) Có 297 lượt/382 người trả lời (chiếm 77,75%) chọn giải pháp 3: cải tiến phương pháp giảng dạy. Đây là một tỷ lệ cao nhất xét trong tương quan với các giải pháp khác. Điều đó cho thấy phần lớn cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp cảm thấy bức xúc trước thực trạng phương pháp giảng dạy hiện nay, nếu không cải tiến phương pháp gỉảng dạy sẽ không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của người học.

d) Có 166 lượt/382 người (chiếm 43,46%) chọn giải pháp 4: đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Thực tế cho thấy không phải sinh viên không muốn nghiên cứu khoa học. Vấn đề là ở chỗ làm sao có được những cơ chế quản lý, tác động một cách linh hoạt nhằm kích thích sinh viên cả chính quy và tại chức tham gia nghiên cứu khoa học.

e) Có 192 lượt/382 người (chiếm 50,26%) chọn giải pháp 5: thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo. Không có sách thì không có tri thức. Thực tế cho thấy với thời gian lên lớp chỉ hạn chế trong một quỹ thời gian nhất định, giảng viên chỉ có thể truyền đạt những nội dung khoa học cơ bản cho sinh viên. Lượng kiến thức lớn còn lại người học phải tự mình đọc, tìm hiểu trong giáo trình, tài liệu tham khảo cho từng môn học. Do đó, thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo là một giải pháp không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay. 

g) Có 91/382 lượt người trả lời (chiếm 23,82%) chọn giải pháp 6: thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên. Có lẽ đây là vấn đề khá nhạy cảm nên hầu hết người học né tránh trả lời vì nó đụng chạm tới lợi ích thiết thực của họ. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên tất nhiên phải theo hướng ngăn chặn những khe hở có thể phát sinh những hiện tượng tiêu cực (quay cóp bài, xin điểm...). Chúng tôi cho rằng những người đề cập chọn giải pháp 7 là những người thực sự mong muốn nâng cao chất lượng đào tạo.

Kết luận: Kết quả phân tích cho thấy có sáu giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật, bao gồm: một là, phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học; hai là, chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên; ba là, cải tiến phương pháp giảng dạy; bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên; năm là, thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo; và sáu là, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên. Cả 6 giải pháp nêu trên đều được cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp đề cập tới nhưng tầm quan trọng của mỗi giải pháp thì được nhấn mạnh khác nhau. Rất ít người chỉ chọn một trong các giải pháp. Điều này cho thấy tầm tư duy của họ hướng tới cái nhìn tổng thể với sự kết hợp đồng thời nhiều giải pháp. Có một số người chọn hai trong số 6 giải pháp; có người chọn đồng thời 3 hoặc 4 trong số 6 giải pháp; và có người chọn đồng thời cả 6 giải pháp. Nói cách khác là cần kết hợp đa dạng, hài hoà các giải pháp khác nhau thì mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý.

2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp:

Trong phần khảo sát, tìm hiểu về thực trạng hiệu quả sử dụng cán bộ ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp cho thấy chỉ có 36,03% người trả lời đánh giá việc sử dụng cán bộ pháp lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, với con số 45,95% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả trung bình và 18,02% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả chưa cao, thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao. Sở dĩ họ đánh giá hiệu quả trung bình hoặc chưa cao là do các nguyên nhân: một là, do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng chưa cao; hai là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật thiếu nhiệt tình, chưa tận tâm với công việc được giao; ba là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, chưa thích ứng kịp với công việc mà họ đảm nhiệm; bốn là, do chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa thỏa đáng, chưa phù hợp với mong muốn của họ; năm là, do chính sách sử dụng cán bộ không phù hợp, trái với chuyên môn mà họ được đào tạo.

Để khắc phục những nguyên nhân tồn tại nói trên cần có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Chúng tôi đưa ra các giải pháp sau:

a) Bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp.

b) Cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc.

c) Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp.

d) Cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật.

Vai trò và tầm quan trọng của mỗi giải pháp nêu trên được người trả lời bảng hỏi lựa chọn và đánh giá như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Bản thân cán bộ phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ

287

75.33

75.33

2

Cơ quan sử dụng phải giao đúng việc

147

38.08

113.91

3

Nhà nước có chế độ đãi ngộ phù hợp

132

34.65

148.56

4

Cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật

101

26.51

175.07

5

Giải pháp khác

2

0.52

175.59

 

Tổng số

381

 

 

 

Bảng 15: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp.

Quan sát các số liệu trong bảng 15 chúng ta thấy các giải pháp nêu trên đều được người trả lời đề cập tới nhưng với số lượt lựa chọn mỗi giải pháp có khác nhau. Điều quan trọng hơn là chỉ có một bộ phận nhỏ người trả lời chỉ chọn duy nhất một giải pháp, còn lại đa số họ nhìn nhận các giải pháp trong tính thống nhất và đồng bộ, kết hợp các giải pháp với nhau để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Tình hình từng giải pháp cụ thể:

a) Bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp. Có tới 287/381 lượt người trả lời (chiếm 75,33%) lựa chọn giải pháp này. Đây là tỷ lệ cao nhất xét trong tương quan với các giải pháp khác. Điều đó cho thấy một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả công việc của cán bộ còn thấp là do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của họ còn nhiều hạn chế. Bản thân các cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính tri, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp tự nhận thức rõ điều này. Như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật thì giải pháp “bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kĩ năng nghề nghiệp” là giải pháp cấp bách nhất hiện nay. Tính khả thi của giải pháp này nằm trong chính sự nỗ lực phấn đấu của bản thân mỗi người.

b) Cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc. Bảng 15 cho thấy tầm quan trọng của giải pháp này đứng ở vị trí thứ hai, với 147/382 lượt người trả lời (chiếm 38,58%) đề cập tới giải pháp này. Như đã phân tích, sở dĩ có 37,80% số người được hỏi cho rằng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trung bình hoặc thấp là do tình trạng sử dụng họ không đúng với chuyên môn được đào tạo. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật thì một giải pháp cấp bách hiện nay là cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc. Tính khả thi của giải pháp này là ở sự năng động trong chính sách cán bộ của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

c) Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp. Có 132/381 lượt người trả lời (chiếm 34,65%) coi đây là giải pháp quan trọng kết hợp với các giải pháp khác. Người lao động làm công ăn lương nên họ luôn quan tâm tới chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với họ. Chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp có tác dụng kích thích cán bộ nhiệt tình, tận tâm với công việc, qua đó nâng cao được hiệu quả lao động. Chính vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của bản thân cán bộ, Nhà nước cần quan tâm để có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp với nguyện vọng chính đáng của cán bộ.

d) Cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Với 101/381 lượt người trả lời (chiếm 26,51%) đề cập đến, đây là giải pháp có ít người lựa chọn nhất. Trong thực tế có một tình trạng là một bộ phận đáng kể (30,71%) cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, thích ứng kịp với công việc được giao. Có những kiến thức được học trước đây nay không còn phù hợp trong khi họ không thường xuyên được đào tạo lại, không được cập nhật những kiến thức mới. Do đó, giải pháp cần thiết đặt ta là cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Tính khả thi của giải pháp này là các cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật nên phối hợp với các cơ sở đào tạo luật hoặc cơ sở chức năng khác tổ chức các khoá học chuyên đề ngắn hạn nhằm trang bị thêm các thông tin, văn bản chính sách pháp luật mới, kiến thức mới cho cán bộ của cơ quan mình.

Kết luận: Để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp cần có nhiều giải pháp khác nhau. Trong đó, những giải pháp cấp bách, quan trọng cần triển khai bao gồm: một là, bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp; hai là, cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc; ba là, Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp; và bốn là, cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Điều quan trọng hơn là không phải chỉ tập trung vào một giải pháp, mà phải triển khai các giải pháp đó trong tính thống nhất và đồng bộ, kết hợp các giải pháp với nhau để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:

1.1. Sự lựa chọn ba nhóm đối tượng là các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia vào cuộc khảo sát đảm bảo được tính đại diện của mẫu điều tra. Phần lớn người trả lời thuộc nhóm lứa tuổi dưới 50 tuổi (93,25%), trong đó nam chiếm 60,26% và nữ chiếm 39,74%. Đa số họ (92,69%) có trình độ cử nhân luật, tập trung ở hệ đào tạo chính quy (52,60%) và hệ đào tạo tại chức (40,36%). Hầu hết người trả lời phiếu được đào tạo cử nhân luật tại ba cơ sở đào tạo luật lớn nhất cả nước là Trường Đại học Luật Hà Nội (50,00%), Trường Đại học Luật TP. HCM (28 39%) và Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (19,01%), trong số đó chiếm tới 82,86% số người tốt nghiệp cử nhân luật sau năm 1990. Cơ quan, tổ chức nơi đối tượng được khảo sát đang làm việc cũng rất đa dạng. Nhiều nhất là ở Quận uỷ, Quận và Huyện đoàn; tiếp đến là làm việc tại các Đoàn luật sư; các toà báo như Báo Nhân dân; các công ty tư vấn đầu tư; Hội và Chi hội luật gia; Hội Liên hiệp phụ nữ; Tổng Liên đoàn lao động và Liên đoàn lao động các tỉnh; Mặt trận Tổ quốc; Văn phòng tư vấn pháp luật.

1.2. Thực trạng của việc vận dụng kiến thức pháp lý vào công việc chuyên môn của đội ngũ cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị - xã hội - nghể nghiệp là: khoảng 1/4 có thể sử dụng được ngay kiến thức đã được học vào công việc đang làm; gần 2/3 để làm được công việc chuyên môn cần kết hợp kiến thức đã học với việc học hỏi kinh nghiệm những người đi trước; bộ phận nhỏ còn lại thấy rằng để làm được việc cần phải phấn đấu tự học thêm, theo học các lớp bổ túc chuyên môn nghiệp vụ. Do đó, các cơ sở đào tạo luật phải hết sức chú ý trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên.

Việc trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng có ba nguồn quan trọng nhất. Một là, sinh viên phải tự giác và tích cực tự tìm hiểu, nghiên cứu để trang bị kiến thức thực tiễn cho chính mình. Hai là, đội ngũ thầy cô giáo trong quá trình giảng bài, ngoài việc trình bày những vấn đề lý luận cần vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức thực tiễn pháp lý để giải thích, kết hợp hài hoà giữa lý luận và thực tiễn. Ba là, trong thời gian thực tập trước khi tốt nghiệp sinh viên cần chú ý rèn luyện những kỹ năng nghề nghiệp từ chính thực tế cuộc sống.

1.3. Thực trạng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp cho thấy chỉ có 36,03% người trả lời đánh giá việc sử dụng cán bộ pháp lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp đạt hiệu quả cao. Sở dĩ họ đánh giá hiệu quả cao là do các nguyên nhân: một là, do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng cao; hai là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật nhiệt tình, tận tâm với công việc được giao; ba là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật thích ứng nhanh, chuyến biến kịp với công việc; bốn là, do chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật đã thỏa đáng, phù hợp với mong muốn của họ; năm là, do chính sách sử dụng cán bộ phù hợp với chuyên môn được đào tạo.

Bên cạnh đó, vói con số 45,95% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả trung bình và 18, 02% người trả lời đánh giá đạt hiệu quả chưa cao, thì có tới gần 2/3 người trả lời hiện đang làm việc chỉ đạt hiệu quả trung bình hoặc chưa cao. Sở dĩ họ đánh giá hiệu quả trung bình hoặc chưa cao là do các nguyên nhân: một là, do công tác đào tạo cử nhân luật đạt chất lượng chưa cao; hai là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật thiếu nhiệt tình, chưa tận tâm với công việc được giao; ba là, do cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, chưa thích ứng kịp với công việc mà họ đảm nhiệm; bốn là, do chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa thoả đáng, chưa phù hợp với mong muốn của họ; năm là, do chính sách sử dụng cán bộ không phù hợp, trái với chuyên môn mà họ được đào tạo.        

1.4. Để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp cần có nhiều giải pháp khác nhau. Trong đó, những giải pháp cấp bách, quan trọng cần triển khai bao gồm: một là, bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp; hai là, cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc; ba là, Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp; và bốn là, cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Điều quan trọng hơn là không phải chỉ tập trung vào một giải pháp, mà phải triển khai các giải pháp đó trong tính thống nhất và đồng bộ, kết hợp các giải pháp với nhau để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

1.5. Nhìn chung, tình hình thực trạng đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật được 61,78% cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác tại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá khá, tốt hoặc rất tốt. Ngoài ra cũng còn một bộ phận đáng kể (38,22%) đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt. Có nhiều nguyên nhân khác nhau tác động, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo luật: nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy, ý thức học tập phấn đấu của sinh viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phương pháp giảng dạy... Những nguyên nhân này nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, có nguyên nhân chủ yếu và có nguyên nhân thứ yếu tuỳ theo cách nhìn nhận, đánh giá của từng người trả lời.

1.6. Phần nhiều (61,78%) những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay là khá, tốt và rất tốt. Có được tình hình khả quan đó không chỉ do một nguyên nhân đơn lẻ mà do sự phối kết hợp của nhiều nguyên nhân: một là, do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề; hai là, do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu; ba là, do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học và tính thực tiễn cao; bốn là, do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên; và năm là, do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực tiễn, học đi đôi với hành.

1.7. Có nhiều nguyên nhân khiến cho những người đã tốt nghiệp cử nhân luật và nay đang làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn, học chưa đi đôi với hành. Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung, chương trình đào tạo, số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên và ý thức học tập của sinh viên mà các trường cần chú ý khắc phục.

1.8. Kết quả phân tích cho thấy có sáu giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật, bao gồm: một là, phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học; hai là, chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên; ba là, cải tiến phương pháp giảng dạy; bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên; năm là, thường xuyên đổi mới, hoàn thiện hệ thống giáo trình, tài liệu tham khảo; và sáu là, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên. Cả 6 giải pháp nêu trên đều được cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp đề cập tới nhưng tầm quan trọng của mỗi giải pháp thì được nhấn mạnh khác nhau. Rất ít người chỉ chọn một trong các giải pháp. Điều này cho thấy tầm tư duy của họ hướng tới cái nhìn tổng thể với sự kết hợp đổng thời nhiều giải pháp. Có một số người chọn hai trong số 6 giải pháp; có người chọn đồng thời 3 hoặc 4 trong số 6 giải pháp; và có người chọn đổng thời cả 6 giải pháp. Nói cách khác là cần kết hợp đa dạng, hài hoà các giải pháp khác nhau thì mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý.

2. Các kiến nghị:

2.1. Đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật:

a) Bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp. Có tới 287/381 lượt người trả lời (chiếm 75,33%) lựa chọn giải pháp này. Đây là tỷ lệ cao nhất xét trong tương quan với các giải pháp khác. Điều đó cho thấy trong những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả công việc của cán bộ còn thấp là do năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của họ còn nhiều hạn chế. Bản thân các cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp tư nhận thức rõ điều này. Như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật thì giải pháp “bản thân cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp” là giải pháp cấp bách nhất hiện nay. Tính khả thi của giải pháp này nằm trong chính sự nỗ lực phấn đấu của bản thân mỗi người.

b) Cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc. Bảng 15 cho thấy tầm quan trọng của giải pháp này đứng ở vị trí thứ hai, với 147/382 lượt người trả lời (chiếm 38,58%) đề cập tới giải pháp này. Chúng ta còn nhớ sở dĩ có 37,80% số người được hỏi cho rằng hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật trung bình hoặc còn thấp là do tình trạng sử dụng họ không đúng với chuyên môn được đào tạo. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật thì một giải pháp cấp bách hiện nay là cơ quan sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật phải giao đúng việc. Tính khả thi của giải pháp này là ở sự năng động trong chính sách cán bộ của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

c) Nhà nước cần có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp. Có 132/381 lượt người trả lời (chiếm 34,65%) coi đây là giải pháp quan trọng kết hợp với các giải pháp khác. Người lao động làm công ăn lương nên họ luôn quan tâm tới chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với họ. Chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp có tác dụng kích thích cán bộ nhiệt tình, tận tâm với công việc, qua đó nâng cao được hiệu quả lao động. Chính vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực phấn đấu của bản thân cán bộ, Nhà nước cần quan tâm để có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp với nguyện vọng chính đáng của cán bộ.

d) Cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Với 101/381 lượt người trả lời (chiếm 26,51%) đề cập đến, đây là giải pháp có ít người lựa chọn nhất. Trong thực tế có một tình trạng là một bộ phận đáng kể (30,71%) cán bộ tốt nghiệp ngành luật chưa chuyển biến, thích ứng kịp với công việc được giao. Có những kiến thức được học trước đây nay không còn phù hợp trong khi họ không thường xuyên được đào tạo lại, không được cập nhật những kiến thức mới. Do đó, giải pháp cần thiết đặt ra là cần thường xuyên có chính sách đào tạo lại, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Tính khả thi của giải pháp này là các cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật nên phối hợp với các cơ sở đào tạo luật hoặc cơ sở chức năng khác tổ chức các khoá học chuyên đề ngắn hạn nhằm trang bị thêm các thông tin, văn bản chính sách pháp luật mới, kiến thức mới cho cán bộ của cơ quan mình.

2.2. Đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật

a) Cải tiến phương pháp giảng dạy là vấn đề có tính cấp bách nhất hiện nay được nhiều cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp quan tâm nhất. Điều này phản ánh đúng tình hình thực tế rằng lâu nay các cơ sở đào tạo luật chậm hoặc chưa quan tâm đúng mức vấn đề này. Hiện tượng giảng viên chưa đầu tư thời gian, công sức chuẩn bị bài giảng, chủ yếu dùng phương pháp diễn giảng độc thoại, bài giảng khô khan, nặng về lý thuyết, thiếu thực tiễn... là có thật. Vậy cải tiến phương pháp giảng dạy, tạo ra những giờ giảng hấp dẫn, lý thú là giải pháp cần được thực hiện ngay.

b) Đổi mới kết cấu chương trình, lịch trình giảng dạy, mục tiêu, nội dung đào tạo cũng là một vấn đề bức xúc đang được đặt ra với các cơ sơ đào tạo luật, được cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp quan tâm. Thực tế cho thấy kết cấu chương trình đào tạo ở môt số nơi vẫn còn cồng kềnh; một số môn luật chuyên ngành có số tiết giảng quá dài; thời khóa biểu bố trí không hợp lý; nội dung đào tạo chưa bám sát yêu cầu thực tế. Do đó, đổi mới kết cấu chương trình, lịch trình giảng dạy, nội dung đào tạo cũng là một giải pháp cần được thực hiện song song với cải tiến phương pháp giảng dạy.

c) Không nên xem nhẹ vai trò của công tác quản lý đào tạo. Quản lý đào tạo không phải chỉ đơn thuần là quản lý về sổ sách, bảng điểm, tuyển sinh hay cấp bằng tốt nghiệp, mà quan trọng hơn là quản lý về mặt con người, giáo dục ý thức chính trị - tư tưởng cho sinh viên, quản lý về mặt chuyên môn đối với cán bộ, giáo viên. Để hoạt động quản lý đào tạo đi vào nề nếp, đúng quy chế, quy định của pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật thì cần phải tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác quản lý đào tạo.

d) Chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên là một giải pháp rất quan trọng thu hút sự chú ý của cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang công tác trong các tổ chức chính tri, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Trong những năm qua vấn đề này đã được các trường quan tâm; chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên đã được củng cố và nâng cao một bước song vẫn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu đào tạo. Tại một số nơi vẫn còn thiếu giảng viên; chất lượng, trình độ đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; vẫn còn giảng viên thiếu trách nhiệm khi lên lớp... Chính vì vậy, các cơ sở đào tạo luật cần phải coi việc chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên là một giải pháp thường xuyên.

e) Để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên cần phải quan tâm hơn tới hai giải pháp có liên quan trực tiếp tới họ: đẩy mạnh cổng tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Những việc này lâu nay các trường đã làm nhưng hiệu quả chưa cao và chưa thiết thực.

Công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên còn mang tính hình thức nên chưa thu hút được sự tham gia của nhiều người. Những ai tham gia nghiên cứu khoa học thì chủ yếu chạy theo thành tích nên không có sự say mê nghiên cứu, chất lượng bài viết nghèo nàn, thiếu chiều sâu.

Cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại các trường còn chậm đổi mới. Phổ biến vẫn là áp dụng cách thi viết truyền thống, cách thi trắc nghiệm và thi vấn đáp chưa được áp đụng rộng rãi. Điều đó tạo ra thói chây lười học tập trong sinh viên, phát sinh nạn tiêu cực quay cóp bài và hiện tượng xin điểm trong khi thi hết môn.

Từ thực tế đó, các cơ sở đào tạo luật nên xác định đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng là một giải pháp thường xuyên.

g) Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ dạy và học không phải là yếu tố ảnh hưởng quyết định tới chất lượng đào tạo luật, nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Các trường (khoa) cần chú trọng phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học như hệ thống hội trường, thư viện, phòng đọc, giáo trình, tài liệu tham khảo, thiết bị âm thanh, máy vi tính và áp dụng những công nghệ mới phục vụ dạy và học.

h) Một trong những giải pháp cấp bách là các cơ sở đào tạo luật bằng những cách thức nhất định phải chú trọng và tăng cường rèn luyện cho sinh viên các phẩm chất nghề nghiệp cần thiết đối với một cử nhân luật trong tương lai: có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý; có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn; có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người và có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản đối với sinh viên chính quy; đáp ứng khả năng tiếp cận giải quyết các tình huống thực tế cho học viên tại chức thông qua việc trang bị cho họ những kỹ năng nghề nghiệp. Với việc được rèn luyện những kỹ năng trên, khi tốt nghiệp ra trường cử nhân luật sẽ hội đủ được các phẩm chất: tốt nghiệp ra trường phải đạt loại khá, giỏi, tinh thông nghề nghiệp được đào tạo; năng động, nhạy bén với thực tiễn nền kinh tế; quyết đoán, tự tin trong giải quyết các công việc; cập nhật các thông tin về chính sách, văn bản pháp luật mới có liên quan đến lĩnh vực công việc đang làm. Đánh giá như vậy là đúng vì thực tế cho thấy cả năm phẩm chất trên đều rất cần thiết, chúng có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Có được những phẩm chất nghề nghiệp như thế thì chắc chắn là cán bộ tốt nghiệp ngành luật sẽ nâng cao được hiệu quả công việc mà họ đang đảm nhận.

2.3. Các kiến nghị cụ thể khác:

a) Giáo dục phẩm chất nghề nghiệp cho cán bộ pháp luật, lý luận đi đôi với thực tiễn, tổ chức cho sinh viên thực tập nhiều hơn để tiếp cận với thực tiễn đời sống pháp luật và đời sống xã hội nói chung.

b) Cần phải nâng cao chất lượng đào tạo hơn nữa, người có bằng cử nhân luật phải có trình độ tương xứng. Hiện nay có nhiều người có bằng cử nhân luật mà kiến thức về pháp luật còn quá yếu nếu như không muốn nói là chẳng có gì.

c) Đào tạo cán bộ pháp luật phải có bản lĩnh chính trị, cần phải có thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực tế thì mới làm tốt công tác pháp lý trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

d) Chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành cho sinh viên để sau này có thể làm việc tốt trong nhiều lĩnh vực xã hội nói chung và trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp nói riêng.

e) Có nhiều cơ sở mở lớp đào tạo luật nên Trường Đại học Luật Hà Nội cần phải quan tâm chú trọng hơn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo.

g) Nên tạo điều kiện cho sinh viên được thâm nhập thực tế, được đi dự các phiên toà, hướng tới đào tạo cán bộ pháp luật có chất lượng cao

h) Chất lượng đào tạo thể hiện ở lượng kiến thức mà người học tiếp thu được và khả năng thích ứng với công việc sau này, Nhà trường cần khuyến khích sinh viên nghiên cứu khoa học, quản lý sinh viên chặt chẽ hơn.

i) Nên thường xuyên điều chỉnh nội dung giảng dạy cho sát với tình hình thực tế. Thực hiện nghiêm túc quy chế giảng dạy, học tập và đánh giá kết quả học tập của sinh viên.

k) Đề nghị Nhà nước, các cơ quan sử dụng lao động nên có chế độ tuyển dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật có chất lượng ngay từ đầu. Tránh tình trạng nhiều người đã đi làm mà chưa có trình độ học vấn nói chung và trình độ kiến thức pháp luật nói riêng.

l) Mở rộng đào tạo cử nhân luật, quan tâm hơn nữa đến đào tạo cán bộ pháp lý cho vùng sâu vùng xa, chú trọng đến chất lượng đào tạo. Một số môn luật có số tiết quá dài, nội dung dàn trải. Không nên dạy tràn lan, không nên cứ một văn bản pháp luật ra đời là trở thành một môn học, chỉ nên tập trung vào những ngành luật cơ bản, các ngành khác chỉ nên giới thiệu chuyên đề để học viên tự tìm hiểu.

m) Các cơ sở đào tạo luật nên chú ý tìm hiểu nhu cầu đào tạo lại, trang bị thêm, cập nhật những thông tin, kiến thức mới cho cán bộ tốt nghiệp ngành luật hiện đang công tác tại các cơ quan ngoài khối tư pháp. Nhu cầu về vấn đề này hiện nay rất bức xúc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Chuyên đề 2

 

THĂM DÒ THỰC TRẠNG DƯ LUẬN XÃ HỘI VỀ

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO

TẠO CÁN BỘ PHÁP LÝ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 

I. DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỂ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỂU TRA DƯ LUẬN XÃ HỘI

1. Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế của dư luận xã hội:

Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể đúng (đúng nhiều, đúng ít) có thể sai (sai ít, sai nhiều). Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức của dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Cái mới, lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp. Xuất phát từ tính chất này của dư luận xã hội, cần nhận thức rõ rằng kết quả thăm dò dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý trong các đối tượng xã hội: cán bộ quản lý cấp xã, phường; sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường đại học luật (khoa luật); học sinh trung học phổ thông (lớp 12) cũng chỉ có ý nghĩa tương đối.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội:

Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố khác nhau, cả chủ quan và khách quan về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, trình độ nhận thức, tâm lý xã hội. Dưới đây là những yếu tố chính tác động đến sự hình thành dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý:

2.1. Thực tế xã hội:

Thực tế xã hội luôn diễn ra đa dạng, phong phú và phức tạp với nhiều sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội khác nhau. Dư luận xã hội là một hiện tượng tinh thần phản ánh tồn tại xã hội trước hết phụ thuộc vào quy mô, cường độ và tính chất của các sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội mà nó phản ánh; đồng thời phụ thuộc vào ý nghĩa của các sự việc, sự kiện đó đối với các nhu cầu, lợi ích về vật chất hay tinh thần của cộng đồng người mang dư luận. Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng là bày tỏ sự tán thành, ủng hộ đối với những sự việc, sự kiện phù hợp với các nhu cầu, lợi ích của mình và lên tiếng phê phán hay phản đối những sự việc, sự kiện đi ngược lại, xâm hại tới lợi ích của họ.

Thi tuyển sinh vào đại học Luật dễ dàng, thuận lợi; chất lượng đào tạo cử nhân luật tốt, có nhiều chính sách ưu đãi trong quá trình học tập; tốt nghiệp ra trường nhanh chóng tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn được đào tạo v.v. là những yếu tố phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của sinh viên, các bậc phụ huynh và xã hội nói chung. Từ đó sẽ hình thành những dư luận xã hội đánh giá tốt về chất lượng đào tạo của Đại học Luật, thu hút nhiều thí sinh thi vào Đại học Luật. Ngược lại, nếu thi vào khó khăn, ra trường khó xin việc làm, chất lượng đào tạo không tốt... sẽ bị dư luận xã hội chê bai vì không đáp ứng mong đợi của họ.

2.2. Trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý:

Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm của các cá nhân, các nhóm xã hội trong xã hội. Nói cách khác là mức độ chuẩn bị của cộng đồng người để tiếp nhận các sự việc, sự kiện, hiện tượng cần thiết. Nếu thông tin không đầy đủ thì dẫn đến khả năng tranh luận kéo dài, không hình thành dư luận xã hội. Trình độ học vấn của con người cũng ảnh hưởng quan trọng tới khuynh hướng, chiều sâu, tính chất phản ánh đúng hay sai của các ý kiến, các quan điểm phán xét đánh giá đối với công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý. Chẳng hạn, ở những nhóm xã hội có trình độ học vấn cao họ có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, phân tích một cách khoa học về tình hình, thực trạng của công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý. Từ đó mà đưa ra các đánh giá, phán xét phù hợp, góp phần hình thành những dư luận xã hội tích cực có lợi cho công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý. Ngược lại, ở những nhóm xã hội có trình độ học vấn thấp người ta có thể dễ dàng tin tưởng vào những tin tức thiếu chính xác, phản ánh sai thực tế về công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý, vô tình tham gia vào việc làm lan truyền những tin đổn thất thiệt gây bất lợi cho công tác đào tạo cử nhân luật và sử dụng cán bộ pháp lý.

2.3. Thông tin đại chúng

Hoạt động của hệ thống thông tin đại chúng bao gồm sách, báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình, mạng máy tính có tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Các chương trình phát thanh, truyền hình, xuất bản phẩm đa dạng, phong phú, cập nhật các thông tin về đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước nói chung, các thông tin về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý của các cơ sở đào tạo luật nói riêng. Những bản tin, bài báo, phóng sự điều tra, tác phẩm điện ảnh đang công chiếu... đều có tác động nhất định tới định hướng nghề nghiệp của học sinh, tới thái độ của họ khi đánh giá về công tác đào tạo và chất lương đào tạo cán bộ pháp lý.

2.4. Những nhân tố thuộc về tâm lý xã hội

Trạng thái tâm lý xã hội thường biểu hiện ở nhiều nhân tố như thói quen, nếp sống, ý chí, tâm trạng hay tình cảm của một nhóm xã hội, một cộng đồng người đã được hình thành do ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày hoặc do tác động của công tác tuyên truyền, giáo dục. Ảnh hưởng của những nhân tố này có nhiều mặt đôi khi khó nhận biết. Tuỳ từng thời điểm nhất định, tâm trạng của con người có thể được thể hiện ở các trạng thái: hưng phấn - ức chế; tích cực - tiêu cực; lạc quan - bi quan; yêu đời - chán nản; hi vọng - thất vọng. Bởi vậy, khi thăm dò dư luận xã hội, gặp lúc người trả lời đang có tâm trạng phấn chấn, hồ hởi thì nội dung phán xét, đánh giá công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cử nhân luật sẽ có những khía cạnh khác với khi họ đang ở trong tâm trạng chán nản, bi quan. Thường khi phấn chấn, lạc quan thì thấy nhiều thuận lợi hơn, ít thấy khó khăn và ngược lại.

2.5. Các phong tục tập quán, hệ thống các giá trị chuẩn mực đang hiện hành trong xã hội:

Những yếu tố này trong chừng mực nhất định tác động tới sự hình thành dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Nhìn chung, các phong tục tập quán, các giá trị, chuẩn mực xã hội hiện hành tạo ra những khuôn mẫu tư duy, khuôn mẫu hành động làm cơ sở cho việc phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Trong thực tế, các nhóm xã hội khác nhau có thể đưa ra các phán xét, đánh giá khác nhau vể cùng một vấn đề. Sự đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã, phường về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cử nhân luật sẽ khác với sự đánh giá của sinh viên chính quy, học viên tại chức hiện đang theo học đại học luật; lại càng khác với cách đánh giá của học sinh phổ thông lớp 12. Điều này cần được tính tới khi phân tích kết quả trả lời của các đối tượng trên.

3. Tác dụng của việc thăm dò dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý:

Việc thăm dò dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý có tác dụng rất quan trọng, thể hiện ở những nội dung sau:

3.1. Tăng cường mối liên hệ giữa các cơ sở đào tạo Luật với các tầng lớp nhân dân:

Với tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, các cơ sở đào tạo Luật phải biết lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách nghiêm túc, phân tích một cách khoa học dư luận của cấc tầng lớp nhân dân để nắm bắt được chính xác, kịp thời tâm trạng và nguyện vọng của họ. Trong sự nghiệp đổi mới nội dung chương trình đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo cử nhân luật, các cơ sở đào tạo luật còn phải giải quyết hàng loạt các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan tới chính sách và chiến lược đào tạo. Những việc đó đòi hỏi các cơ sở đào tạo Luật phải hiểu được đúng đắn, kịp thời nguyện vọng, thái độ của các tầng lớp xã hội đối với hoạt động đào tạo của mình. Mặt khác, thông qua dư luận xã hội, các tầng lớp nhân dân cũng biểu thị ý kiến, các yêu cầu, đòi hỏi của mình về việc nâng cao chất lượng đào tạo đối với các cơ sở đào tạo luật. Do đó, việc nghiên cứu dư luận xã hội đối với người phỏng vấn, do đó cần phải làm tốt việc tuyển chọn người đi phỏng vấn, hướng dẫn thái độ và cách làm viêc cho họ (từ cách giao tiếp ban đầu, cách nêu câu hỏi, cách ghi chép thông tin...). Nhìn chung là người phỏng vấn phải biết nói, biết nghe, biết im lặng, biết quan sát và biết kiên nhẫn.

d) Phương pháp ankét: là phương pháp sử dụng bảng câu hỏi gửi đến tận tay người được nghiên cứu; họ sẽ trả lời các câu hỏi theo sự hướng dẫn được ghi trong bảng hỏi. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến để tìm hiểu thăm dò dư luận xã hội vì nó cho phép tìm hiểu được rất nhiều người với chi phí tương đối ít, thời gian ngắn. Ưu điểm của phương pháp này là ở tính có mục đích, tính linh hoạt và khả năng thu được cứ liệu theo một mẫu chọn nhất định. Nhược điểm của nó là ở tính chất nhiều giai đoạn, khó sửa chữa những sai sót trong quá trình nghiên cứu. Cũng cần phải chú ý đến tính chất của việc phát hiện dư luận xã hội trong khi trưng cầu ý kiến. Sinh viên phát biểu ý kiến tại các buổi thảo luận trước tâp thể lớp... là một việc, những để trả lời các câu hỏi trong phiếu anket lại là việc khác. Không nên tuyệt đối hoá việc điều tra theo phiếu anket, xem nó như một phương pháp vạn năng để nghiên cứu dư luận xã hội. Việc nghiên cứu tâm tư của quần chúng nhân dân một cách khoa học thực sự chỉ có thể được đảm bảo bằng cách áp dụng tổng hợp các phương pháp nêu ở trên.

5. Yêu cầu của việc tìm hiểu dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý:

Tìm hiểu dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý phải đạt được các yêu cầu chính sau đây:

a) Thông tin phải khách quan chân thực, nghĩa là phải phản ánh đúng tình hình dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý theo bức tranh vốn có của nó, tránh sửa đổi theo ý kiến chủ quan. Thông tin về dư luận xã hội mà không đúng sẽ ảnh hưởng xấu đến các quyết đinh của các nhà quản lý đào tạo.

b) Thông tin phải tiêu biểu, đại biểu xác đáng cho ý kiến, thái độ của số đông, vì không phải mọi vấn đề đều có thể làm được việc điều tra với tất cả cộng đồng người có liên quan. Do đó phải lấy thông tin đại biểu, có nghĩa là chọn ra trong toàn bộ cộng đồng một bộ phận có đủ tư cách đại biểu cho toàn bộ để nói về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Muốn vậy phải có phương pháp khoa học trong việc lựa chọn mẫu điều tra.

c) Thông tin phải tổng hợp, nghĩa là phải thu thập thông tin nhiều mặt, soi sáng được nhiều khía cạnh của dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý, nội dung, khuynh hướng phát triển của dư luận xã hội đó nhằm tạo điều kiện đầy đủ cho việc phân tích và xử lý thông tin.

d) Thông tin phải kịp thời: việc nghiên cứu thăm dò dư luận xã hội phải phục vụ kịp thời cho sự lãnh đạo của Đảng uỷ, công tác quản lý đào tạo của Ban giám hiệu trong từng thời gian nhất định.

II. KẾT QUẢ THĂM DÒ DƯ LUẬN XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN CHÍNH QUY VÀ HỌC VIÊN TẠI CHỨC

1. Thực trạng của công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay:

Khảo sát, thăm dò dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sơ đào tạo luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề xã hội có ý nghĩa quan trọng và cấp bách. Nó mang lại cho xã hội, cho những người quan tâm nói chung và cho các nhà lãnh đạo, quản lý các cơ sở đào tạo luật nói riêng một cái nhìn khái quát, toàn diện về các mặt hoạt động của công tác đào tạo, chất lượng đào tạo cử nhân luật từ trước tới nay. Nó tạo ra cơ sở khoa học và thực tiễn để đánh giá đúng đắn về tình hình, thực trạng của công tác này; chỉ ra nguổn gốc, nguyên nhân của thực trạng đó; từ đó đề xuất những kiến nghị, biện pháp nhằm phát huy những thế mạnh, hạn chế những mặt còn tồn tại của công tác đào tạo cử nhân luật.

Sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường đại học luật (khoa luật) là những người đang trực tiếp theo học cử nhân luật, họ được coi là “người trong cuộc”, do đó, những thông tin, ý kiến mà họ cung cấp qua các cuộc phỏng vấn cá nhân và thăm dò dư luận xã hội có nhiều cơ sở thực tiễn giúp chúng ta đánh giá về tình hình, thực trạng của vấn đề.

1.1. Tâm tư, nguyện vọng của những “người trong cuộc”:

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, có nhiều yếu tố tác động tới chất lượng đào tạo đại học nói chung và đào tạo cử nhân luật nói riêng. Nhưng trong đó có ba yếu tố cơ bản nhất: con người (cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên); cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học; chính sách pháp luật của Nhà nước và cơ chế quản lý đào tạo của từng cơ sở đào tạo. Vậy để hiểu được thực trạng của hoạt động đào tạo và chất lượng đào tạo thì trước hết phải nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của sinh viên - “người trong cuộc”.

Trải qua những tháng ngày ôn luyện vất vả, vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học với tâm lý căng thẳng, sinh viên nào cũng vui mừng khi bước chân vào cổng trường đại học và phấn khởi, tin tưởng vào tương lai. Là sinh viên, họ đồng thời cũng là niềm tự hào của gia đình và dòng họ; là niềm vui của các thầy cô giáo đã có công dạy dỗ; là sự ngưỡng mộ của bạn bè cùng lớp, cùng trường. Vậy họ đã lựa chọn và quyết định thi vào ngành luật như thế nào? Để trả lời vấn để này chúng tôi đưa ra câu hỏi số 1: Anh (chị) lựa chọn theo học ngành luật như thế nào? Có 3 phương án trả lời được đưa ra: phương án 1 (tự bản thân lựa chọn và quyết định); phương án 2 (chịu ảnh hưởng của dư luận xã hội và thông tin đại chúng) và phương án 3 (lựa chọn theo gợi ý của bạn bè, người thân). Kết quả trả lời như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Tự bản thân lựa chọn và quyết đinh

109

72.67

72.67

2

Chịu ảnh hưởng của dư luận xã hội và thông tin đại chúng

9

6.00

78.67

3

Theo gợi ý của bạn bè, người thân

32

21.30

100.00

 

Tổng số

150

100.00

 

 

Bảng B1.1. Lựa chọn theo học ngành luật như thế nào?

Nhìn vào bảng Bl.l. có thể khẳng định rằng đa số sinh viên chính quy (109 SV, chiếm 72,67% số người được hỏi) có tính tự lập rất cao, rất có ý thức trong việc tự lựa chọn và tự quyết định nghề nghiệp tương lai. Một số người khẳng định rằng bản thân phải tự lựa chọn và tự quyết định vì nghề nghiệp là việc của cả đời người, không ai có thể quyết định nghề thay cho bản thân được. Trong số này có 46 SV nam (42,20%) và 63 SV nữ (57,80%), như vậy nữ giới tự lựa chọn ngành luật cao hơn nam giới, điều này phản ánh đúng tình trạng thực tế vì tuyển sinh vào trường luật chủ yếu là khối C thu hút số thí sinh nữ cao hơn nam. SV ở thành phố chiếm tỷ lệ cao hơn (67 SV) so với nông thôn (42 SV). Xét theo điều kiện kinh tế của gia đình (thu nhập của bố mẹ), chỉ 16 SV (14,68%) có điều kiện kinh tế khá giả, còn lại đa số 80 SV (73,39%) có hoàn cảnh kinh tế trung bình và 13 SV (11,93%) có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Số sinh viên có hoàn cảnh kinh tế trung bình và khó khăn tập trung chủ yếu ở nông thôn. Điều đó chứng tỏ rằng trong điều kiện cuộc sống còn nhiều vất vả thì ý chí, nghị lực vươn lên của con người cũng cao hơn.

Cũng trong bảng B1.1 chúng ta thấy có rất ít thí sinh thi vào ngành luật (9 SV - 6,00%) chịu ảnh hưởng của dư luận xã hội và thông tin đại chúng, số này chủ yếu xem sách báo, truyền hình, phim truyện thấy thích công việc của các luật sư, thẩm phán nên thi vào ngành luật. Một bộ phận đáng kể còn lại (32 SV - 21,33%) chọn học ngành luật theo gợi ý của bạn bè hoặc người thân trong gia đình. Số này chủ yếu tập trung tại thành phố, nông thôn đồng bằng trong những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả. Lý do chủ yếu để họ chọn học ngành luật là theo định hướng của bố mẹ đang làm việc tại các cơ quan pháp luật nhằm đảm bảo thuận lại cho xin việc làm sau khi tốt nghiệp.

Khác với sinh viên chính quy đang đứng trước ngưỡng cửa vào đời nên tự mình phải quyết định nghề nghiệp; học viên tại chức đa số đã có công việc làm nên nhu cầu học luật của họ lại có xuất phát điểm khác. Vấn đề này được thể hiện ở bảng sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Muốn trở thành luật sư hoặc công việc có liên quan đến pháp luật

24

14.04

14.04

2

Do công việc đang làm đòi hỏi phải có kiến thức pháp luật

113

66.08

80.12

3

Do yêu cầu của nhà nước về chuẩn hóa cán bộ công chức

31

18.13

98.25

4

Cứ tốt nghiệp rồi tính sau

3

1.75

100.00

 

Tổng cộng

171

100.00

 

 

Bảng B1.2. Xuất phát từ nhu cầu nào mà chọn ngành luật?

Bảng B1.2. cho thấy phần lớn học viên tại chức (113 HV — chiếm 66,08%) đi học luật là do công việc mà họ đang làm đòi hỏi phải có kiến thức về pháp luật. Trong số đó, nam giới chiếm 78,76% (89HV) và nữ giới chiếm 21,24% (24 HV); quá nửa trong số họ (59 HV - chiếm 52,21%) khi khảo sát mới đang học năm thứ nhất. Điều đó cho thấy nhu cầu được trang bị những kiến thức, hiểu biết về pháp luật hiện đang là nhu cầu bức xúc đối với nhiều cán bộ đang làm trong các lĩnh vực công việc khác nhau. Có 24 người được hỏi (14,04%) chọn học luật vì muốn trở thành luật sư, thẩm phán hoặc công việc có liên quan đến pháp luật. Họ đi học luật vì nhu cầu hiểu biết về pháp luật thực sự để làm tốt công việc chứ không phải đối phó với yêu cầu của nhà nước về chuẩn hoá cán bộ công chức. Số đối tượng đi học vì lý do đối phó với yêu cầu của nhà nước về chuẩn hoá cán bộ công chức chỉ chiếm 18,13%.

Nguyên nhân mà học viên tại chức đưa ra để giải thích cho sự lựa chọn của họ cũng rất đa dạng:

- Trong công cuộc đổi mới đòi hỏi mọi cán bộ, công chức Nhà nước phải có kiến thức, hiểu biết pháp luật, nếu không có kiến thức thì hiệu quả công việc thấp.

- Xã hội phát triển đòi hỏi mọi công dân đều phải hiểu biết pháp luật

- Nếu không học nâng cao trình độ thì bản thân sẽ bị lạc hậu và bị đào thải

- Công tác trợ giúp pháp luật cho vùng sâu và xa còn thiếu, nhiều người chưa hiểu biết pháp luật.

Từ thực tế trên nên khi được hỏi có hài lòng với việc theo học ngành luật không? Kết quả trả lời của cả hai đối tượng chính quy và tại chức như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất hài lòng

32

21.33

21.33

2

Hài lòng

79

52.67

74.00

3

Bình thường

36

24.00

98.00

4

Không hài lòng

3

2.00

100.00

 

Tổng cộng

150

100.00

 

 

Bảng B 2.1. Tâm trạng khi đang là sinh viên luật (chính quy)?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất hài lòng

59

34.50

34.50

2

Hài lòng

94

54.97

89.47

3

Bình thường

18

10.53

100.00

 

Tổng cộng

171

100.00

 

 

Bảng B 2.2. Tâm trạng khi đang là sinh viên luật (tại chức)?

Bảng B 2.1. và B 2.2. cho thấy phần lớn sinh viên hài lòng và rất hài lòng (74,00% SVCQ và 89,47% HVTC) khi được theo học tại các cơ sở đào tạo luật. Chỉ có 24% sinh viên chính quy và 10,53% học viên tại chức có tâm trạng bình thường và cá biệt có 2% không hài lòng. Như vậy, về cơ bản sinh viên luật chính quy yên tâm với việc học tập, rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp; học viên luật tại chức hài lòng với việc tiếp thu kiến thức pháp lý để làm tốt hơn công việc đang đảm nhiệm. Đây là một thuận lợi cơ bản để các trường (khoa) luật có thể hoàn thành tốt công tác đào tạo cử nhân luật.

Để kiểm chứng độ tin cậy của các thông tin trên, chúng tôi sử dụng câu hỏi kiểm tra: Nếu được lựa chọn lại, anh (chị) có nghĩ là sẽ thay đổi quyết định của mình không? Kết quả như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

25

16.67

16.67

2

Không

125

83.33

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

 

Bảng B.3.1. Có thay đổi quyết định không nếu được lựa chọn lại? (chính quy)

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

5

2.96

2.96

2

Không

164

97.04

100.00

 

Tổng

171

100.00

 

 

Bảng B3.2. Có thay đổi quyết định không nếu được lựa chọn lại? (tại chức)

Nhìn vào bảng B3.1. và bảng B.3.2. thấy ngay rằng có tới 83,33% số sinh viên chính quy và 97,4% học viên tại chức được hỏi kiên định với sự lựa chọn của họ, tin rằng quyết định học luật của mình là hoàn toàn đúng đắn, không có chuyện thay đổi.

Thực trạng tư tưởng, tâm lý cùa sinh viên luật cả chính quy và tại chức hiện nay là rất tốt. Họ tin tưởng vào quyết định chọn ngành học và yên tâm học tập, rèn luyện.

1.2. Thực trạng quy mô đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay:

Đánh giá đúng thực trạng quy mô đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay có phù hợp với nhu cầu sử dụng cử nhân luật của xã hội hay không là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Nó tạo cơ sở thực tiễn cho Nhà nước cũng như các trường (khoa) luật xác định quy mô đào tạo hợp lý. Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi đưa ra câu hỏi sau: Anh (chị) đánh giá thế nào về quy mô đào tạo của trường Luật (khoa Luật) hiện nay? Kết quả như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Quá nhiều so với nhu cầu sử dụng của xã hội

90

60.81

60.81

2

Hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội

36

24.32

85.14

3

Còn ít, chưa đáp ứng so với nhu cầu sử dụng của xã hội

22

14.86

100.00

 

Tổng cộng

148

100.00

 

 

Bảng B4.1. Sinh viên chính quy đánh giá về quy mô đào tạo cử nhân luật.

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Quá nhiều so với nhu cầu sử dụng của xã hội

36

21.05

21.05

2

Hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội

57

33.33

54.39

3

Còn ít, chưa đáp ứng so với nhu cầu sử dụng của xã hội

78

45.61

100.00

 

Tổng cộng

171

100.00

 

 

Bảng B4.2. Học viên tại chức đánh giá về quy mô đào tạo cử nhân luật.

Các số liệu ở bảng B4.1. cho thấy quá nửa sinh viên chính quy (90 SV - chiếm 60,82%) được hỏi cho rằng quy mô đào tạo cử nhân luật hiện nay tại các cơ sở đào tạo luật là quá nhiều so với nhu cầu sử dụng của xã hội. Trong số đó, sinh viên nam có 39 người (43,33%), sinh viên nữ có 51 người (56,67%); SV Đại học Luật HN có 33/45 người trả lời (chiếm 73,33%), SV Đại học Luật TP. HCM có 28/59 người trả lời (chiếm 47,46%), SV Khoa Luật (ĐHQG HN) có 29/44 người trả lời (chiếm 65,91%). Như vậy SV Đại học Luật HN chiếm tỷ lệ cao hơn cả, xét theo năm đang học thì sinh viên năm thứ 4 có tới 45/90 người trả lời (chiếm 50,00%) đánh giá là quy mô đào tạo quá nhiều, điều này cũng dễ hiểu vì sinh viên năm thứ 4 sắp ra trường, đang chịu nhiều sức ép về việc làm sau khi tốt nghiệp. Xét theo địa bàn cư trú, sinh viên thành phố có 58/90 người trả lời, sinh viên nông thôn có 32/90 người trả lời đánh giá là đào tạo quá nhiều. Điểu đó cho thấy sinh viên ở thành phố lo lắng cho công việc làm nhiều hơn vì tâm lý muốn lập nghiệp ở thành phố, ngại đi về vùng nông thôn.

Trong khi đó các số liệu ở bảng B4.2. lại cho thấy tình hình khác hơn trong cách nhận định của học viên tại chức. Chỉ có 36 HVTC (21,05%) đánh giá là quy mô đào tạo quá nhiều. Đa số học viên tại chức (135 người, chiếm 78,65%) cho rằng quy mô đào tạo của các trường luật hiện nay hợp lý hoặc còn ít so với nhu cầu sử dụng của xã hội. Trong số này có tới 2/3 học viên của Đại học Luật HN, còn lại là học viên Đại học Luật TP. HCM; chủ yếu đang học năm thứ nhất và năm thứ hai. Sở dĩ có sự khác biệt trong cách đánh giá về quy mô đào tạo giữa sinh viên chính quy và học viên tại chức là xuất phát từ yếu tố tâm lý. Sinh viên chính quy lo ngại mất cơ hội xin việc làm sau khi tốt nghiệp nên đánh giá là quá nhiều. Còn học viên tại chức hầu hết đang có việc làm, phần lớn họ đánh giá quy mô đào tạo hợp lý hoặc còn ít vì họ cần kiến thức pháp lý cho công việc đang làm và trong xã hội càng nhiều người có trình độ kiến thức pháp luật càng tốt.

Cũng trong bảng B4 chúng ta thấy có 36 SV được hỏi (chiếm 2432%) đánh giá quy mô đào tạo hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội hiện nay. Số này tương đối đều về tỷ lệ giữa nam và nữ; tập trung ít ở Đại học Luật HN (5/45 SV - chiếm 11,11%) mà chủ yếu ở Đại học Luật TP. HCM (21/59 SV - chiếm 35,59%). Điều này nói lên rằng nhu cầu sử dụng cử nhân luật ở các tỉnh phía Nam cao hơn so ở các tỉnh phía Bắc. Chỉ có 22 SV được hỏi (14,86%) cho rằng quy mô đào tạo còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng. Số này tập trụng chủ yếu ở thành phố (13/22) và là con em các gia đình có điều kiện kinh tế khá và trung bình (21/22). Để tìm hiểu dựa trên những căn cứ nào mà sinh viên đánh giá như ở bảng B4.1. và B4.2., chúng tôi đưa ra câu hỏi: Vì lý do nào mà anh (chị) có sự đánh giá như trên?

Kết quả hai mẫu khảo sát như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ cao

13

8.72

8.72

2

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ trung bình

12

8.05

16.78

3

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ thấp

89

59.73

76.51

4

Vì thấy XH vẫn cần những người có kiến thức pháp luật

35

23.49

100.00

 

Tổng

149

100.00

 

 

Bảng B5.1. Lý do có sự đánh giá như ở bảng B4.1. (chính quy)

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ cao

11

6.43

6.43

2

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ trung bình

29

16.96

23.39

3

Vì thấy những người tốt nghiệp có việc làm chiếm tỷ lệ thấp

30

17.54

40.94

4

Vì thấy XH vẫn cần những người có kiến thức pháp luật

101

59.06

100.00

 

Tổng

 

100.00

 

 

Bảng B5.2. Lý do có sự đánh giá như ở bảng B4.2. (tại chức)

Nhìn vào bảng B5.1. chúng ta thấy có sự tương thích giữa kết quả bảng B5.1. với bảng B4.1. Cũng như vậy, có sự tương thích giữa kết quả bảng B5.2. với bảng B5.1. Đa số học viên tại chức (135 người, chiếm 78,65%) cho rằng quy mô đào tạo của các trường luật hiện nay hợp lý hoặc còn ít so với nhu cầu sử dụng của xã hội là do phần lớn họ (83,04%) thấy những người tốt nghiệp có việc làm đạt tỷ lệ trung bình và thấy xã hội vẫn đang cần người có kiến thức pháp luật. Cách đánh giá của học viên tại chức khá nhất quán.

Sở dĩ có 90 SV đánh giá đào tạo quá nhiều là vì 89 SV giải thích rằng họ thấy những người tốt nghiệp cử nhân luật có việc làm chiếm tỷ lệ thấp. Lý do những người tốt nghiệp cử nhân luật có việc làm chiếm tỷ lệ thấp được họ giải thích qua các phiếu phỏng vấn cá nhân bao gồm:

+ Vì sinh viên ra trường không tìm được việc làm, cần tăng cường đào tạo cán bộ pháp luật cho vùng sâu, vùng xa.

+ Quy mô đào tạo như hiện nay là nhiều vì nhiều sinh viên ra trường không xin được việc làm.

+ Chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng và sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được công việc.

Một bộ phận nhỏ (12 SV, chiếm 8,05%) đánh giá quy mô đào tạo hợp lý so với nhu cầu sử dụng là vì họ thấy những người tốt nghiệp đại học luật có việc làm đạt tỷ lệ trung bình. Lý do được họ giải thích là:

+ Cử nhân nhiều nhưng đội ngũ cán bộ làm trong ngành tư pháp vẫn thiếu

+ Số cử nhân luật chưa nhiều, ai cũng cho là nhiều vì ai cũng muốn việc ở thành phố, không muốn đi vùng sâu, vùng xa.

+ Sinh viên luật ra trường vẫn xin được việc làm nhưng nhiểu người làm trái ngành nghề được đào tạo nên không phát huy được chuyên môn.

+ Xã hội càng phát triển càng cần nhiều luật sư

Một bộ phận nhỏ khác (13 SV, chiếm 8,72%) đánh giá quy mô đào tạo còn ít so với nhu cầu sử dụng là vì họ thấy những người tốt nghiệp đại học luật có việc làm đạt tỷ lệ cao. Căn cứ để họ giải thích là:

+ Vì thực tế thấy nhiều người tốt nghiệp Luật đã đi làm.

+ Vì cung lớn hơn cầu là thực trạng hiện nay của nhiều ngành chứ không riêng gì ngành luật.

+ Đất nước đang hội nhập và phát triển nên cần nhiều cán bộ pháp lý.

+ Nhiều cơ quan vẫn cần cán bộ pháp lý.

Cũng trong Bảng 5 còn có một lý do được một bộ phận đáng kể người trả lời (35 SV, chiếm 23,49%) sử dụng làm căn cứ để giải thích quy mô đào tạo hiện nay là hợp lý hoặc còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội. Đó là vì họ cho rằng xã hội đang rất cần những người có trình độ kiến thức pháp luật:

+ Xã hội vẫn đang cần những người có kiến thức pháp luật.

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thì càng cần nhiều người có kiến thức pháp luật.

+ Nền kinh tế thị trường nảy sinh nhiều tranh chấp cần phải có kiến thức pháp luật mới giải quyết được

+ Trong xã hội vẫn còn nhiều người chưa hiểu biết về pháp luật, người dân còn nhiều thắc mắc chưa được giải đáp

Sự đánh giá của dư luận xã hội trong sinh viên chính quy về quy mô đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay còn có những ý kiến khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Nhìn chung dư luận cho rằng quy mô đào tạo luật hiện nay là quá nhiều so với nhu cầu xã hội. Mặc dù vậy xã hội vẫn đang rất cần những người có trình độ kiến thức pháp luật. Như vậy giữa nhu cầu được đào tạo cử nhân luật và nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý còn có những điểm bất hợp lý.

Khác với sinh viên chính quy, ý kiến của đa số học viên tại chức thống nhất khá cao trong nhận định rằng quy mô đào tạo cử nhân luật hợp lý hoặc còn ít so với nhu cầu sử dụng của xã hội. Điều đó cho thấy Nhà nước cần có sự điều chỉnh và phân bổ hợp lý hơn tỷ trọng giữa chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy và chỉ tiêu đào tạo hệ tại chức. Xác định chỉ tiêu tuyển sinh không chỉ căn cứ vào nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý trong thực tế mà còn phải căn cứ cả vào nhu cầu được trang bị kiến thức pháp luật của các tầng lớp xã hội.

1.3. Thực trạng nội dung chương trình đào tạo cử nhân luật:

Nội dung chương trình đào tạo luật ở bậc đại học là một yếu tố cấu thành cơ bản, có vai trò hết sức quan trọng đối với chất lượng đào tạo cử nhân luật. Thời gian đào tạo cử nhân luật trong các trường đại học hiện nay là 4 năm. Để đảm bảo chất lượng đào tạo thì nội dung chương trình đào tạo phải có sự phù hợp tương đối so với quỹ thời gian đào tạo. Tìm hiểu thực trạng vấn đề này, chúng tôi đề nghị sinh viên nhận xét về nội dung chương trình đào tạo so với thời gian đào tạo 4 năm. Kết quả nhận xét về hai phần kiến thức đại cương và kiến thức chuyên ngành như sau:

a. Phần kiến thức đại cương:

 

Mã số

Phương án trả lời

Sinh viên chính quy

Học viên tại chức

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng

1

Quá tải so với chương trình đào tạo 4 năm

34

22.67

22.67

21

12.28

12.28

2

Hợp lý so với chương trình đào tạo 4 năm

66

44.00

66.67

107

62.57

74.85

3

Cần bổ sung thêm kiến thức về các KHXH khác

50

33.33

100.00

43

25.15

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

171

100.00

 

 

Bảng B 6.1. Nhận xét phần kiến thức đại cương

Phần kiến thức đại cương với những môn học như: các môn khoa học Mác - Lênin, Xã hội học, Lôgíc học, Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Tâm lý học, Lịch sử Nhà nước và pháp luật... là những môn khoa học rất quan trọng góp phần trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về các lĩnh vực xã hội nói chung, về nhà nước và pháp luật nói riêng. Phần kiến thức đại cương tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận giúp sinh viên tiếp thu tốt phần kiến thức chuyên ngành. Với phần kiến thức đại cương mà nhà trường giảng dạy cho sinh viên như hiện naỵ, bảng 6.1. cho thấy đa số sinh viên (116 SV, chiếm 77,33% hệ chính quy và 150 HV, chiếm 86,72% hệ tại chức) nhận xét là hợp lý so với chương trình đào tạo 4 năm và cần bổ sung thêm những kiến thức khoa học xã hội khác. Tỷ lệ này phân bố đều ở cả 3 cơ sở khảo sát là Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. HCM và Khoa Luật (ĐHQGHN). Điều này được họ giải thích như sau:

- Còn thiếu các kiến thức về xã hội.

- Phần kiến thức đại cương góp phần giáo dục sinh viên về chính trị - tư tưởng, trang bị những kiến thức về xã hội rất quan trọng, nên giữ nguyên như hiện nay hoặc bổ sung thêm càng tốt.

- Cần bổ sung thêm kiến thức các môn khoa học Mác - Lênin và kiến thức các khoa học xã hội khác.

Chỉ có 34 SV (chiếm 22,67%) nhận xét phần kiến thức đại cương là quá tải so với chương trình đào tạo 4 năm và nhận xét thêm rằng trong phần kiến thức đại cương, kiến thức về lịch sử quá nhiều mà phần lý luận lại quá ít.

Phần kiến thức đại cương nhìn chung là hợp lý nên giữ nguyên như hiện nay hoặc bổ sung thêm nếu có thể.

b. Phần kiến thức chuyên ngành:

 

Mã số

Phương án trả lời

Sinh viên chính quy

Học viên tại chức

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng

1

Quá tải so với chương trình đào tạo 4 năm

15

10.20

10.20

13

7.69

7.69

2

Hợp lý so với chương trình đào tạo 4 năm

42

28.57

38.78

129

76.33

84.02

3

Cần bổ sung thêm kiến thức về các KHXH khác

90

61.22

100.00

27

15.98

100.00

 

Tổng

147

100.00

 

169

100.00

 

 

Bảng B 6.2. Nhận xét phần kiến thức chuyên ngành

Nhìn vào bảng B6.2. chúng ta thấy ngay rằng tình hình phần kiến thức chuyên ngành cũng tương tự như phần kiến thức đại cương, có nghĩa là đa số sinh viên (132 SV, chiếm 89,80% hệ chính quy và 156 HV, chiếm 92,31% hệ tại chức) nhận xét là hợp lý so với chương trình đào tạo 4 năm và cần bổ sung thêm những kiến thức về định hướng và kỹ năng nghề nghiệp khác. Đặc biệt sinh viên chính quy (90 người, chiếm 61,22%) nhấn mạnh yêu cầu bổ sung thêm những kiến thức về định hướng và kỹ năng nghề nghiệp khác vì thực trạng của vấn đề này hiện nay là:

- Nhiều khi sinh viên muốn tìm hiểu về nghề thẩm phán, luật sư, thư ký phiên toà mà không biết cần tìm hiểu ở đâu, thiếu kiến thức về định hướng nghề nghiệp.

- Thiếu kiến thức thực tiễn, chỉ nghe giảng lý thuyết mà ít được đọc hồ sơ các vụ án, không được đi dự các phiên toà... nên không có điều kiện so sánh giữa lý thuyết và thực tế.

- Cần bổ sung phần kiến thức định hướng nghề nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

- Chương trình đào tạo cần nhất là xây dựng phương pháp nghiên cứu và kỹ năng nghề nghiệp.

- Nên đi sâu vào một số ngành luật chính chứ không phải giới thiệu hết các ngành luật, nhiều môn luật có số tiết quá dài.

Thực tế cho thấy trong nội dung đào tạo phần kiến thức chuyên ngành của các cơ sở đào tạo luật còn thiên về giảng lý thuyết, thiếu kiến thức thực tiễn, thiếu kiến thức về định hướng và kỹ năng nghề nghiệp.

Cũng nhằm đánh giá về thực trạng nội dung chương trình đào tạo, chúng tôi đưa thêm cho sinh viên câu hỏi vể cách sắp xép các môn học ở từng học kỳ như hiện nay đã đảm bảo tính khoa học hay chưa? Kết quả trả lời như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Đảm bảo tính khoa học

78

52.35

52.35

2

Chưa đảm bảo tính khoa học

71

47.65

100.00

 

Tổng cộng

149

100.00

 

 

Bảng B8.1. Sinh viên chính quy đánh giá về tính khoa học

trong việc sắp xếp lịch giảng các môn học

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Đảm bảo tính khoa học

111

65.29

65.29

2

Chưa đảm bảo tính khoa học

58

35.61

100.00

 

Tổng cộng

170

100.00

 

 

Bảng B8.2. Học viên tại chức đánh giá về tính khoa học

trong việc sắp xếp lịch giảng các môn học

Bảng B8.1. cho thấy cách đánh giá của sinh viên chính quy về tính khoa học hay chưa khoa học trong việc sắp xếp các môn học ở từng học kỳ không nhất quán. Tỷ lệ chọn giữa hai phương án trả lời chênh lệch nhau không đáng kể: 78 SV (chiếm 52,35%) khẳng định cách sắp xếp các môn học ở từng học kỳ như hiện nay đảm bảo tính khoa học; còn lại 71 SV (chiếm 47,65%) cho rằng cách sắp xếp như hiện nay chưa đảm bảo tính khoa học. Họ giải thích chưa đảm bảo tính khoa học vì các lý do sau:

- Không thấy mối liên hệ giữa các môn học, thầy cô giáo môn sau có khi lại phải bổ sung kiến thức các môn trước.

- Nhiều môn chuyên ngành học cùng một lúc khiến sinh viên căng thẳng.

- Sắp xếp các môn học không hợp lý như: chưa học xong Lý luận về Nhà nước và pháp luật đã học Luật hiến pháp và Luật hành chính; Luật môi trường, Luật Quốc tế học trước Luật kinh tế; trong một học kỳ xếp cả Luật hình sự và Luật dân sự học song song là không hợp lý.

- Chưa học xong kiến thức đại cương đã vào học chuyên ngành nên sinh viên khó tiếp thu; nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn

- Ngày học 6 tiết là quá căng thẳng; đầu kỳ học ít tiết cuối học kỳ lại xếp nhiều môn gây tâm lý học nhồi nhét, sinh viên học đối phó.

Trong khi đó cách đánh giá của học viên tại chức có tính thống nhất hơn (xem bảng 8.2.). Có 111 học viên (65,29%) cho rằng cách sắp xếp đảm bảo tính khoa học và 58 học viên (35,61%) còn lại nói là chưa khoa học. Đặc thù của hệ đào tạo tại chức là mỗi năm tập trung học 2 đợt (mỗi đợt 2 tháng) hoặc 4 đợt (mỗi đợt 1 tháng), học cuốn chiếu từng môn, học xong môn này tới môn khác nên nhìn chung thuận lợi cho việc tập trung tiếp thu kiến thức các môn. Chỉ có một số vấn đề học viên tại chức phàn nàn:

- Môn cần học sau lại học trước (luật tố tụng hình sự lại học trước luật hình sự như ở ĐH Luật TP. HCM) nên hạn chế trong việc tiếp thu bài, nhất là những thuật ngữ chuyên ngành

- Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 đã có hiệu lực nhưng vẫn học giáo trình cũ (ĐH Luật HN).

- Do thiếu giáo viên nên lịch học các môn hay bị thay đối hoặc học viên phải nghỉ học, ảnh hưởng đến tiến độ toàn khoá học (ĐH Luật TP. HCM)

Mặc dù cách đánh giá của sinh viên chính quy và tại chức về tính khoa học hay chưa khoa học trong việc sắp xếp các môn học ở từng học kỳ không nhất quán, còn những điểm mâu thuẫn nhau và khác nhau giữa chính quy với tại chức, song nó cũng nói lên thực trạng của vấn đề và gợi lên nhiều điều khiến các nhà quản lý đào tạo luật phải suy nghĩ.

1.4. Thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay:

Chất lượng đào tạo cử nhân luật hiện nay như thế nào là vấn đề chủ yếu mà cuộc thăm dò dư luận xã hội tập trung tìm hiểu. Với câu hỏi sinh viên đánh giá thế nào về chất lượng đào tạo của Trường (Khoa) Luật mà họ đang theo học? Kết quả trả lời của hai đối tượng được khảo sát như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất tốt

1

0.67

0.67

2

Tốt

67

44.67

45.33

3

Khá

56

37.33

82.67

4

Trung bình

21

14.00

96.67

5

Chưa tốt

5

3.33

100.00

 

Tổng cộng

150

100.00

 

 

Bảng B9.1. SV chính quy đánh giá về chất lượng đào tạo.

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất tốt

26

15.29

15.29

2

Tốt

95

55.88

71.18

3

Khá

41

24.12

95.29

4

Trung bình

8

4.71

100.00

 

Tổng cộng

170

100.00

 

 

Bảng B9.2. HV tại chức đánh giá về chất lượng đào tạo.

Các số liệu ở bảng B9.1. và bảng B9.2. cho thấy, duy nhất một sinh viên chính quy đánh giá chất lượng đào tạo rất tốt nhưng có tới 26 học viên tại chức (15,29%) đánh giá rất tốt. Chiếm nhiều nhất, 67 SVCQ (44,47%) và 95 HVTC (55,88%), đánh giá chất lượng đào tạo tốt; và 56 SVCQ (37,33%) cùng 41 HVTC (24,12%) đánh giá chất lượng đào tạo khá. Trong khi đa số sinh viên đánh giá chất lượng đào tạo khá và tốt thì vẫn có một bộ phận sinh viên đánh giá ngược lại: 21 SVCQ (14,00%) và 8 HVTC (4,71%) đánh giá chất lượng đào tạo trung bình; cá biệt có 5 SVCQ (3,33%) đánh giá chất lượng đào tạo chưa tốt. Mặc dù khác nhau về hình thức được đào tạo nhưng nhìn chung nhận định của sinh viên cả hai hệ chính quy và tại chức tương đối đồng thuận, rằng chất lượng đào tạo cử nhân luật về cơ bản là khá và tốt. Vậy đâu là những nguyên nhân cơ bản tác động tới chất lượng đào tạo cử nhân luật trong giai đoạn hiện nay?

2. Những nguyên nhân cơ bản tác động tới chất lượng đào tạo cử nhân luật trong giai đoạn hiện nay:

Nhìn chung, tình hình thực trạng đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật được dư luận trong đa số sinh viên chính quy đánh giá khá tốt. Ngoài ra cũng còn một bộ phận, đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt. Có nhiều nguyên nhân khác nhau tác động, ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo luật: nội dung chương trình đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy, ý thức học tập phấn đấu của sinh viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phương pháp giảng dạy... Những nguyên nhân này nằm trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, có nguyên nhân chủ yếu và có nguyên nhân thứ yếu tuỳ theo cách nhìn nhận, đánh giá của từng người trả lời. Để làm sáng tỏ vấn đề này chúng tôi đưa ra cho sinh viên cả chính quy và tại chức hai câu hỏi:

Câu hỏi thứ nhất: nếu đánh giá chất lượng đào tạo là khá, tốt hoặc rất tốt thì do những nguyên nhân nào?

Kết quả xử lý thông tin như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không trả lời

27

18.00

18.00

1

Do có nội dung chặt chẽ, mang tính khoa học cao

3

2.00

20.00

2

Do có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao và tâm huyết

14

9.33

29.33

3

Do sinh viên có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu

0

0

0

4

Do cơ sở đào tạo có cơ sở vật chất tốt

6

4.00

33.33

5

Do phương pháp đào tạo kết hợp hài hòa giữa lý thuyết và thực tiễn

2

1.33

34.67

1+2

Chọn phương án 1 + 2

16

10.67

45.33

1+3

Chọn phương án 1 + 3

1

0.67

46.00

1+4

Chọn phương án 1 + 4

1

0.67

47.67

2+3

Chọn phương án 2 + 3

17

11.33

58.00

2+4

Chọn phương án 2 + 4

24

16.00

74.00

2+5

Chọn phương án 2 + 5

3

2.00

76.00

3+4

Chọn phương án 3 + 4

4

2.67

78.67

3+5

Chọn phương án 3 + 5

2

1.33

80.00

4+5

Chọn phương án 4 + 5

4

2.67

82.67

1+2+3

Chọn phương án 1 + 2 + 3

1

0.67

83.33

1+2+4

Chọn phương án 1 + 2 + 4

4

2.67

86.00

1+2+5

Chọn phương án 1 + 2 + 5

12

8.00

94.00

1+3+5

Chọn phương án 1 + 3 + 5

1

0.67

94.67

2+3+4

Chọn phương án 2 + 3 + 4

2

1.33

96.00

2+4+5

Chọn phương án 2 + 4 + 5

1

0.67

96.67

1234

Chọn phương án 1 + 2 + 3 + 4

1

0.67

97.33

1245

Chọn phương án 1 + 2 + 4 + 5

3

2.00

99.33

2345

Chọn phương án 2 + 3 + 4 + 5

1

0.67

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

 

Bảng B10.1. Các nguyên nhân làm nên chất lượng đào tạo khá và tốt

(SVCQ)

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không có trả lời

6

3.51

3.51

1

Do có nội dung đào tạo chặt chẽ mang tính khoa học và thực tiễn cao

3

1.75

5.23

2

Do có đội ngũ cán bộ có trình độ cao và tâm huyết

14

8.19

13.45

3

Do sinh viên có ý thức cao trong học tập và nghiên cứu

2

1.17

14.62

4

Do cơ sở đào tạo có cơ sở đào tạo chất lượng tốt

0

0

0

5

Do kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn

2

1.17

15.79

6

Lý do khác

0

0

0

 

1 + 2

53

30.99

46.78

 

1 + 3

1

0.58

47.37

 

1 + 5

13

7.60

54.97

 

1 + 6

1

0.58

55.56

 

2 + 3

19

11.11

66.67

 

2 + 4

2

1.17

67.84

 

2 + 5

20

11.70

79.53

 

1 + 2 + 3

5

2.92

82.46

 

1 + 2 + 4

1

0.58

83.04

 

1 + 2 + 5

17

9.94

92.98

 

1 + 2 + 6

1

0.58

93.57

 

1 + 3 + 5

3

1.75

96.49

 

1+ 5 + 6

1

0.58

97.08

 

1 + 2 + 3 + 5

2

1.17

98.25

 

1 + 2 + 3 + 4 + 5

2

1.17

99.42

 

1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6

1

0.58

100.00

 

Tổng

171

100.00

 

 

Bảng B10.2. Các nguyên nhân làm nên chất lượng đào tạo khá và tốt

(HVTC)

Các số liệu trong bảng B10.1. và bảng B10.2. cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho sinh viên đánh giá chất lượng đào tạo luật khá, tốt hoặc rất tốt nằm ở cả 5 yếu tố:

a) Do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao. Khi xây dựng được một chương trình đào tạo có kết cấu chặt chẽ, phù hợp với quỹ thời gian đào tạo; nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và làm nên chất lượng đào tạo tốt.

b) Do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Có được nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao nhưng còn cần một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề thì mới truyền tải tới sinh viên những kiến thức khoa học xã hội và khoa học pháp lý, tạo cho sinh viên một hành trang kiến thức tốt để họ vững vàng bước vào đời.

c) Do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Công nghệ giảng dạy đại học hiện đại thường lấy sinh viên làm trung tâm của hoạt động đào tạo. Chỉ có thể có chất lượng đào tạo tốt khi sinh viên chủ động tích cực và có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu.

d) Do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Dĩ nhiên cơ sở vật chất tốt chưa phải là tất cả, nhưng các điều kiện vật chất như thư viện, hội trường, thiết bị âm thanh, ánh sáng, giáo trình, tài liệu tham khảo... lại không thể thiếu đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên.

e) Do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn. Muốn có chất lượng đào tạo tốt thì phải có phương pháp đào tạo phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo.

Trong 5 nguyên nhân kể trên, nguyên nhân thứ 2 (do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề) được sinh viên đánh giá cao nhất với 98/123 SVCQ và 141/171 HVTC đề cấp tới nguyên nhân này. Điều đó cho thấy sinh viên rất coi trọng vai trò của thầy cô giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Tiếp đến có 48/123 SVCQ và 24/171 HVTC đề cập tới nguyên nhân thứ 4 (do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên), chứng tỏ sinh viên, nhất là học viên tại chức không đánh giá cao vai trò của cơ sở vật chất đối với chất lượng học tập của họ vì cơ sở vật chất ở các lớp tại chức là của cơ sở liên kết đào tạo hoặc đi thuê. Có 43/123 SVCQ và 102/171 HVTC đề cập tới nguyên nhân thứ 1 (do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao); có 33/123 SVCQ và 38/171 HVTC đề cập tới nguyên nhân thứ 3 (do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu), điều này nói lên rằng một bộ phận đáng kể sinh viên còn thiếu ý thức tự giác trong học tập, lo học đối phó. Chỉ có 29/123 SVCQ và 63/171 HVTC nói đến nguyên nhân thứ 5 (do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn). Đây là một tỷ lệ thấp, phản ánh đúng một thực trạng mà sinh viên nói đến nhiều, rằng phương pháp đào tạo của các trường còn nặng về lý thuyết, ít gắn kết với thực tiễn.

Như vậy là cũng còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và ý thức học tập của sinh viên. Khắc phục những nguyên nhân này là nhiệm vụ quan trọng trước mắt cũng như lâu dài của các cơ sở đào tao luật.

Câu hỏi thứ hai: nếu đánh giá chất lượng đào tạo là trung bình hoặc chưa tốt thì do những nguyên nhân nào?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Không trả lời

120

80.00

80.00

2

Do có nội dung và chương trình đào tạo chưa chặt chẽ, chưa mang tính khoa học cao

2

1.33

81.33

3

Do đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ chưa đồng đều

3

2.00

83.33

4

Do sinh viên thiếu ý thức cao trong học tập, nghiên cứu

1

0.67

84.00

5

Do phương pháp đào tạo chưa kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn

7

4.67

88.67

1 + 3

Chọn phương án 1 + 3

3

2.00

90.67

1 + 4

Chọn phương án 1 + 4

2

1.33

92.00

1 + 5

Chọn phương án 1 + 5

4

2.67

94.67

3 + 5

Chọn phương án 3 + 5

3

2.00

96.67

4 + 5

Chọn phương án 4 + 5

1

0.67

97.33

1+3+5

Chọn phương án 1 + 3 + 5

1

0.67

98.00

2+3+5

Chọn phương án 2 + 3 + 5

3

2.00

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

 

Bảng B11.1. Sinh viên chính quy xác định các nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt.

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không trả lời

154

91.67

91.67

1

Do có nội dung đào tạo chưa mang tính khoa học và tính thực tiễn

0

0

0

2

Do đội ngũ giáo viên có trình độ chưa đồng đều

2

1.19

92.86

3

Do sinh viên thiếu ý thức trong học tập, nghiên cứu

2

1.19

94.05

4

Do cơ sở đào tạo thiếu cơ sở vật chất

1

0.60

94.96

5

Do phương pháp đào tạo chưa kết hợp giữa lý thuyết với thực tiễn

1

0.60

95.24

6

Nguyên nhân khác

0

0

95.24

2+3

Chọn phương án 2 + 3

1

0.60

95.83

2+5

Chọn phương án 2 + 5

1

0.60

96.43

3+4

Chọn phương án 3 + 4

1

0.60

97.02

3+5

Chọn phương án 3 + 5

4

2.38

99.40

2+3+5

Chọn phương án 2 + 3 + 5

1

0.60

100.00

 

Tổng

168

100.00

 

 

Bảng B11.2. Học viên tại chức xác định các nguyên nhân làm cho chất lượng

đào tạo trung bình hoặc chưa tốt.

Nhìn các số liệu ở bảng B11.1. và bảng B11.2. sẽ thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho một bộ phận sinh viên đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, bao gồm:

a) Do nội dung chương trình đào tạo của nhà trường chưa chặt chẽ và chưa mang tính khoa học cao.

b) Do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường còn thiếu và trình độ không đều.

c) Do sinh viên của trường thiếu ý thức trong học tập, nghiên cứu.

d) Do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn.

Trong các nguyên nhân chủ yếu khiến cho sinh viên đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, chiếm nhiều nhất (19/26 SV) là nguyên nhân 4 (do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn), tiếp đến có 19/26 SV nói đến nguyên nhân l (do nội dung chương trình đào tạo của nhà trường chưa chặt chẽ và chưa mang tính khoa học cao); có 11/26 SV nói đến nguyên nhân 2 (do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường còn thiếu và trình độ không đều). Những nguyên nhân trên tồn tại ở Đại học Luật TP. HCM và Khoa Luật (ĐHQGHN). Còn lại 4 SV (Đại học Luật HN) đề cập tới nguyên nhân thứ 3 (do sinh viên của trường thiếu ý thức trong học tập, nghiên cứu).

Dư luận xã hội đánh giá chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật nhìn chung là khá và tốt. Có được điều đó chủ yếu là do các cơ sở đào tạo có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và ý thức học tập của sinh viên mà các trường cần chú ý khắc phục.

Nhằm kiểm tra độ tin cậy của các thông tin về nguyên nhân nêu trên, chúng tôi đề nghị sinh viên chính quy và học viên tại chức nhận xét (thông qua phỏng vấn cá nhân) về thế mạnh và những hạn chế còn tồn tại của các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nhận xét về thế mạnh và những hạn chế còn tồn tại của từng cơ sở đào tạo luật được khảo sát như sau:

a) Đối với Trường Đại học Luật Hà Nội

* Thế mạnh:

- Trường Đại học Luật Hà Nội là một trung tâm đào tạo cán bộ pháp lý lớn và mạnh ở Việt Nam; tham gia đào tạo cán bộ pháp lý ở các trình độ như trung cấp, đại học, cao học và tiến sĩ dưới nhiều hình thức khác nhau; hợp với nhiều cơ sở đào tạo trong phạm vi cả nước thu hút được nhiều đối tượng vào học và có số lượng sinh viên, học viên đã tốt nghiệp và đang theo học đông nhất so với các cơ sở đào tạo luật trong nước.

- Cơ sở vật chất tốt, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên, học viên đang theo học tập trung tại trường.

- Đội ngũ giáo viên Đại học Luật Hà Nội, phần lớn có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tâm huyết với nghề, được trang bị kiến thức cơ bản vững chắc, vừa có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành của mình vừa có kiến thức tổng hợp về pháp luật và am hiểu thực tiễn xã hội.

- Chương trình đào tạo của Trường Đại học Luật Hà Nội có nội dung khoa học, hợp lý, tương đối phù hợp với điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay và phần nào, phản ánh được xu thế phát triển giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Hệ thống giáo trình tương đối đầy đủ, có chất lượng vừa đảm bảo khối lượng kiến thức cơ bản vừa cập nhật được những tri thức hiện đại và thông tin mới.

- Chất lượng đào tạo của Trường Đại học Luật nói chung là tốt. Sinh viên có ý thức học tập, có ý thức tổ chức kỷ luật và được trang bị tốt kiến thức lý luận cơ bản về Chủ nghĩa Mác Lênin và luật học. Sau khi ra trường, phần lớn phát huy được kiến thức pháp luật do nhà trường trang bị.

* Hạn chế:

Tổng hợp một số ý kiến của sinh viên, có những ý kiến xác đáng nhưng cũng có những ý kiến còn mang tính chất cảm tính:

- Giáo viên cho điểm đánh giá kết quả học tập của sinh viên quá chặt chẽ nên điểm học tập bình quân của sinh viên thấp;

- Sắp xếp thứ tự các môn học chưa hợp lý nên không phát huy được tính kế thừa giữa các môn học;

- Cơ chế quản lý cồng kềnh, chưa đáp ứng được nhu cầu của sinh viên;

- Phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa hay nên sinh viên còn thụ động trong học tập;

- Trình độ giảng viên không đồng đều, một số giáo viên không gần gũi sinh viên và thiếu kiến thức thực tế, một số sinh viên ý thức học tập chưa cao;

- Phương tiện hiện đại để cập nhật thông tin còn hạn chế;

- Một số giáo trình nội dung chưa đáp ứng yêu cầu, cách viết khó hiểu, rườm rà;

- Lớp học bố trí quá đông;

- Thông tin cập nhật văn bản mới còn thiếu;

- Nội dung bài giảng còn nặng lý thuyết, sinh viên ít được tiếp xúc với các vụ án cụ thể;

- Trình độ tiếp thu của học viên tại chức không đồng đều, chất lượng học tập chưa cao. Mấy năm gần đây, tuyển cả học sinh mới tốt nghiệp phổ thông trung học vào hệ đào tạo tại chức nên ý thức học tập chưa cao.

b) Đối với Trường ĐH. Luật TP. Hổ Chí Minh:

* Thế mạnh:

- Cơ sở vật chất tốt, đội ngũ giáo viên có trình độ;

- Dư luận đánh giá là chất lượng đào tạo đã được củng cố và nâng cao;

- Trường có nhiều lợi thế để phát triển và mở rộng quy mô đào tạo;

* Hạn chế:

- Quản lý đào tạo chưa chặt chẽ, đội ngũ giáo viên còn mỏng;

- Nội dung bài giảng còn xa thực tế, khó hiểu;

- Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết;

- Thiếu giáo trình, tài liệu tham khảo;

- Chất lượng giảng viên chưa đồng đều, chưa cải tiến phương pháp giảng dạy, phương pháp giảng dạy chủ yếu là bằng phương pháp thuyết trình thiếu hấp dẫn; chưa thu hút sinh viên; sinh viên chưa phát huy được tính sáng tạo.

c) Đối với Khoa Luật (ĐHQG. Hà Nội):

* Thế mạnh:

- Cơ sở vật chất tốt; đội ngũ giáo viên có trình độ; có giảng viên chuyên ngành tốt;

- Thầy cô tâm huyết với nghề;

- Số lượng sinh viên trong một lớp học bố trí vừa phải nên giáo viên quán xuyến được sinh viên trong quá trình giảng bài.

* Hạn chế:

- Thiếu giáo viên, một số giáo viên dạy không thu hút sinh viên;

- Cách trả thi để giáo viên đánh giá kết quả học tập của sinh viên có môn chưa chính xác;

- Giáo trình, sách và các tài liệu tham khảo còn ít nên hạn chế đến kết quả học tập của sinh viên;

- Vì thiếu giáo viên nên mời giáo viên thỉnh giảng nhiều, trách nhiệm quản lý lớp chưa cao, để sinh viên nghỉ học nhiều;

- Công tác quản lý sinh viên thiếu chặt chẽ, còn có hiện tượng sinh viên chạy điểm khi thi cử;

Các ý kiến phản ánh trên đây đề cập thêm nhiều nguyên nhân tác động tới chất lượng đào tạo cử nhân luật. Cần phải có giải pháp gì để phát huy các thế mạnh và hạn chế những nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng ở mỗi cơ sở đào tạo?

3. Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI

Việc tìm hiểu, đánh giá về tình hình, thực trạng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay sẽ trở nên vô nghĩa nếu như nó không nhằm mục đích tạo ra những căn cứ thực tiễn để đi đến những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật hướng tới sự phát triển của đất nước thế kỷ XXI. Có nhiều yếu tố khác nhau liên quan tới công tác đào tạo và chất lượng đào tạo, do đó, cần có những giải pháp mang tính tổng thể, đồng bộ để phát huy các thế mạnh và hạn chế những nhược điểm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo? Trong phần này chúng tôi tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

3.1. Tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác quản lý đào tạo.

3.2. Phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học.

3.3. Chú trọng nâng cao trình đô đội ngũ giáo viên.

3.4. Cải tiến phương pháp giảng dạy.

3.5. Đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo với thực tế.

3.6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứa khoa học trong sinh viên.

3.7. Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên.

Mỗi giải pháp nêu trên, được sinh viên chính quy và học viên tại chức nhìn nhận, đánh giá như thế nào? Vấn đề này được đề cập trong câu hỏi: Để nâng cao chất lượng đào tạo cần có những giải pháp gì? Kết quả xử lý phiếu thăm dò dư luận xã hội như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác quản lý đào tạo

2

1.33

1.33

2

Phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

1

0.67

2.00

3

Chú trọng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên

1

0.67

2.67

4

Cải tiến phương pháp giảng dạy

3

2.00

4.67

5

Đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo với thực tế

5

3.33

8.00

6

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên

 

 

 

7

Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên

 

 

 

8

Chọn 2 trong số 7 phương án

31

20.67

28.67

9

Chọn 3 trong số 7 phương án

70

46.66

75.33

10

Chọn 4 trong số 7 phương án

28

18.67

94.00

11

Chọn 5 trong số 7 phương án

6

4.00

98.00

12

Chọn 6 trong số 7 phương án

2

1.33

99.33

13

Chọn cả 7 phương án

1

0.67

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

 

Bảng B12.1. Những giải pháp cơ bản (SVCQ)

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác đào tạo

111

64.50

64.50

2

Phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

59

34.30

98.80

3

Chú trọng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên

92

53.50

152.30

4

Cải tiến phương pháp giảng dạy

79

45.90

198.20

5

Đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo với thực tế

113

65.70

263.90

6

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên

68

39.50

303.50

7

Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên

12

7.00

310.50

 

Tổng

172

100.00

 

 

Bảng B12.2. Những giải pháp cơ bản (HVTC)

Các số liệu ở bảng B12.1. và B12.2. cho thấy cả 7 giải pháp nêu trên đều được sinh viên đề cập tới nhưng tầm quan trọng của mỗi giải pháp thì được nhấn mạnh khác nhau. Câu hỏi này cho phép có thể chọn nhiều giải pháp nên có rất ít sinh viên (12/150 SVCQ, chiếm 8,00% và 13 HVTC, chiếm 7,56%) chỉ chọn một trong các giải pháp. Điều này cho thấy tầm tư duy của họ hướng tới cái nhìn tổng thể với sự kết hợp đồng thời nhiều giải pháp. Có 31 SVCQ (20,67%) và 24 HVTC (13,95%) chọn hai trong số 7 giải pháp; 70 SVCQ (46,66%) và 92 HVTC (chiếm 61,05%) chọn đổng thời trong số 7 giải pháp; 28 SVCQ (18,67%) và 21 HVTC (26,16%) chọn đồng thời 4 trong số 7 giải pháp; và chỉ có 3 SV (2,00%) chọn đồng thời 6 hoặc cả 7 giải pháp. Vậy giải pháp nào được đề cập đến nhiều nhất? Tương quan từng giải pháp có số lượt được nhắc đến như sau:

- 78 lượt/150 SVCQ và 111 lượt/171 HVTC chọn giải pháp 1: tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác quản lý đào tạo. Đây là một tỷ lệ tương đối cao, cho thấy có lúc, có nơi công tác quản lý đào tạo còn chưa chặt chẽ đúng như sự phản ánh của sinh viên, nhất là học viên tại chức (64,91%).

- 26 lượt/150 SVCQ và 59 lượt/171 HYTC chọn giải pháp 2: phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Các số liệu này cho thấy sinh viên chính quy được học tập tại các trường đại học có cơ sở vật chất tốt nên họ không quan tâm lắm đến vấn đề này, còn học viên tại chức quan tâm hơn (34,50%). Như vậy, khi chọn cơ sở liên kết đào tạo tại chức các trường luật phải chú ý hơn đến vấn đề cơ sở vật chất phục vụ dạy và học.

- 72 lượt/150 SVCQ và 92 lượt/171 HVTC chọn giải pháp 3: chú trọng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, tức là vẫn có khoảng 50% người học đòi hỏi chất lượng, trình độ đội ngũ giảng viên cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của họ.

- 99 lượt/150 SVCQ và 79 lượt/171 HVTC chọn giải pháp 4: cải tiến phương pháp giảng dạy. Gần 2/3 sinh viên chính quy (66%) cảm thấy bức xúc trước thực trạng phương pháp giảng dạy hiện nay, nếu không cải tiến phương pháp giảng dạy sẽ không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sinh viên.

- 90 lượt/150 SVCQ và 113 lượt/171 HVTC chọn giải pháp 5: đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo sát với thực tế. Có thể nói dư luận xã hội trong giới sinh viên chính quy (60,00%) và tại chức (66,08%) hiện đang rất quan tâm tới vấn đề đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo sát với thực tế. Thực tiễn đời sống xã hội nói chung và các lĩnh vực pháp luật nói riêng luôn vận động, biến đổi và phát triển. Nếu mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo không thường xuyên đổi mới cho phù hợp với thực tiễn thì không thể đạt tới chất lượng đào tạo cao được.

- 37 lượt/150 SVCC) và 68 lượt/171 HVTC chọn giải pháp 6: đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên. Thực tế cho thấy không phải sinh viên không muốn nghiên cứu khoa học. Vấn đề là ở chỗ làm sao có được những cơ chế quản lý, tác động một cách linh hoạt nhằm kích thích sinh viên cả chính quy và tại chức tham gia nghiên cứu khoa học.

- 32 lượt/150 SVGQ và 12 lượt/ 171 HVTC chọn giải pháp 7: đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Có lẽ đây là vấn đề khá nhạy cảm nên hầu hết người học né tránh trả lời vì nó đụng chạm tới lợi ích thiết thực của họ. Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên tất nhiên phải theo hướng ngăn chặn những khe hở có thể phát sinh những hiện tượng tiêu cực (quay cóp bài, xin điểm...). Chúng tôi cho rằng những người đệ cập chọn giải pháp 7 là những người thực sự mong muốn nâng cao chất lượng đào tạo.

Ngoài các giải pháp nêu trên, chúng tôi còn khảo sát một vấn đề rất được sinh viên quan tâm là trường ĐH Luật cần rèn luyện cho sinh viên những phẩm chất gì để khi ra trường có thể làm việc tốt? Có 4 phẩm chất được đề cập:

a) Có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý.

b) Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.

c) Có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người.

d) Có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản.

Kết quả xử lý thông tin như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không trả lời

1

0.67

0.67

1

Có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý

7

4.67

5.33

2

Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn

19

12.67

18.00

3

Có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người

3

2.00

20.00

4

Có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản

0

0

0

 

Chọn các phương án 1 + 2

32

21.33

41.33

 

Chọn các phương án 1 + 3

24

16.00

57.33

 

Chọn các phương án 1 + 4

3

2.00

59.33

 

Chọn các phương án 2 + 3

14

9.33

68.67

 

Chọn các phương án 3 + 4

5

3.33

72.00

 

Chọn các phương án 1 + 2 + 3

7

4.67

76.67

 

Chọn các phương án 1 + 2 + 4

6

4.00

80.67

 

Chọn các phương án 1 + 3 + 4

9

6.00

86.67

 

Chọn các phương án 2 + 3 + 4

2

1.33

88.00

 

Chọn cả 4 phương án

18

12.00

100.00

 

Tổng

150

100.00

 

 

Bảng B13.1. Các phẩm chất cần có của cử nhân luật hệ chính quy

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp

19

11.11

11.11

2

Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn

3

1.75

12.87

3

Có khả năng tiếp cận và giải quyết tình huống

10

5.85

18.71

4

Phẩm chất khác

0

0

0

 

1 + 2

14

8.19

26.90

 

1 + 3

74

43.27

70.18

 

2 + 3

16

9.36

79.53

 

3 + 4

1

0.58

80.12

 

1 + 2 + 3

34

19.88

100.00

 

Tổng

171

100.00

 

 

Bảng B13.2. Các phẩm chất cần có của cử nhân luật hệ tại chức.

Các số liệu ở bảng B13.1. và bảng B13.2. cho thấy cả 4 phẩm chất được nêu đều cần thiết cho cử nhân luật, nhưng với mức độ quan trọng khác nhau. Số người chỉ chọn một phẩm chất chỉ chiếm tỷ lệ thấp – 20,00% SVCQ và 18,71% HVTC. Đa số cần từ hai phẩm chất trở lên, cụ thể: 75 SVCQ (50%) và 105 HVTC (61,41%) cho rằng cần có hai phẩm chất; 24 SV (16%) chọn 3 phẩm chất và có 18 SV (12%) cho rằng cử nhân luật cần cả 4 phẩm chất được nêu. Trong số đó, phẩm chất có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý được coi là cần nhất (106/150 SVCQ và 141/171 HVTC). Tiếp đến là phẩm chất có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn (87/150SVCQ và 67/171 HVTC), điều đó cho thấy học viên tại chức đang hàng ngày tiếp xúc với thực tế nên họ ít coi trọng phẩm chất này hơn. Có 82/150 SVCQ thấy cần có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người và 43/150 SVCQ cần đến những kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản. Còn học viên tại chức (135/171 HVTC) đa số lại cần có khả năng tiếp cận và giải quyết tốt các tình huống thực tế.

Khi phỏng vấn cá nhân, đề nghị người trả lời nói rõ thêm về hiện trạng của công tác rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cần thiết cho sinh viên trong các cơ sở đào tạo cử nhân luật, có 50 ý kiến nhận xét tập trung vào các điểm sau:

- Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên lâu nay chưa được quan tâm. Nhà trường cần quan tâm đến giáo dục cả năng lực lẫn phẩm chất nghề nghiệp của người cán bộ pháp lý cho sinh viên trong suốt quá trình đào tạo.

- Cán bộ pháp lý cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lối sống và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; ngoài ra, cần rèn luyện cho sinh viên khả nãng nghiên cứu thực tế.

- Đa số sinh viên chưa có được những phẩm chất kỹ năng nghề nghiệp, chẳng hạn, kỹ năng soạn thảo văn bản còn yếu, một số còn thiếu tự tin trước đông người. Nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến vấn đề này.

Từ thực trạng trên, một trong những giải pháp cấp bách là các cơ sở đào tạo luật bằng những cách thức nhất định phải chú trọng và tăng cường rèn luyện cho sinh viên các phẩm chất nghề nghiệp cần thiết đối với một cử nhân luật trong tương lai.

4. Kết luận và kiến nghị

4.1. Kết luận:

a) Nhìn chung tư tưởng, tâm lý của sinh viên luật cả chính quy và tại chức hiện nay là tốt. Mục đích đi học luật của mỗi người có khác nhau, nhưng họ tin tưởng vào quyết định chọn ngành luật để học và yên tâm học tập, rèn luyện.

b) Sự đánh giá của dư luận xã hội trong sinh viên chính quy về quy mô đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay còn có những ý kiến khác nhau. Nhìn chung dư luận trong sinh viên chính quy cho rằng, quy mô đào tạo luật hiện nay là quá nhiều so với nhu cầu xã hội. Mặc dù vậy, xã hội vẫn đang rất cần những người có trình độ kiến thức pháp luật. Trong khi đó đa số học viên tại chức lại đánh giá quy mô đào tạo cứ nhân luật là hợp lý hoặc còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội. Như vậy, đánh giá về nhu cầu đào tạo cử nhân luật và nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý ở các hệ đào tạo khác nhau còn có những điểm chưa thống nhất. Nhà trường nên có biện pháp điều chỉnh quy mô đào tạo, cân đối giữa các hệ, tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng cử nhân luật đảm bảo tính tương đồng giữa các hệ đào tạo.

c) Phần kiến thức đại cương nhìn chung là hợp lý, nên giữ nguyên như hiện nay hoặc bổ sung thêm nếu có thể. Thực tế cho thấy trong nội dung đào tạo phần kiến thức chuyên ngành của các cơ sở đào tạo luật còn thiên về giảng lý thuyết, ít kiến thức thực tiễn, kiến thức về định hướng và kỹ năng nghề nghiệp.

d) Mặc dù cách đánh giá của cả sinh viên chính quy và học viên tại chức về tính khoa học hay chưa khoa học trong việc sắp xếp các môn học ở từng học kỳ không nhất quán, song nó cũng nói lên thực trạng của việc sắp xếp lịch học và gợi lên nhiều điều khiến các nhà quản lý đào tạo luật phải suy nghĩ.

e) Dư luận xã hội đánh giá chất lượng đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật nhìn chung là khá và tốt. Có được điểu đó chủ yếu là do các cơ sở đào tạo có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo và ý thức học tập của sinh viên mà các trường cần chú ý khắc phục.

4.2. Kiến nghị:

a) Cải tiến phương pháp giảng dạy là vấn đề có tính cấp bách nhất hiện nay được nhiều sinh viên quan tâm nhất. Điều này phản ánh đúng tình hình thực tế rằng lâu nay các cơ sở đào tạo luật chậm hoặc chưa quan tâm đúng mức vấn đề này. Hiện tượng giảng viên chưa đầu tư thời gian, công sức chuẩn bị bài giảng, chủ yếu dùng phương pháp thuyết trình, nên bài giảng nặng nề và thiên về lý thuyết, thiếu kiến thức thực tiễn... là có thật. Vậy cải tiến phương pháp giảng dạy, tạo ra những giờ giảng hấp dẫn, lý thú là giải pháp cần được thực hiện ngay.

b) Đổi mới kết cấu chương trình, lịch trình giảng dạy, mục tiêu, nội dung đào tạo cũng là một vấn đề bức xúc đang được đặt ra với các cơ sở đào tạo luật, được dư luận trong sinh viên quan tâm. Thực tế cho thấy kết cấu chương trình đào tạo là một số nơi vẫn còn cồng kềnh; một số môn luật chuyên ngành có số tiết giảng quá dài; thời khoá biểu bố trí chưa hợp lý; nội dung đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế... Do đó, đổi mới kết cấu chương trình, lịch trình giảng dạy, nội dung đào tạo cũng là một giải pháp cần được thực hiện song song với cải tiến phương pháp giảng dạy.

c) Không nên xem nhẹ vai trò của công tác quản lý đào tạo. Bên cạnh quản lý chặt chẽ về chuyên môn cũng cần phải chú trọng hơn nữa về quản lý con người, giáo dục ý thức chính trị - tư tưởng và rèn luyện đạo đức cho sinh viên. Để hoạt động quản lý đào tạo đi vào nề nếp, đúng quy chế, quy định của pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật cần phải tăng cường hơn nữa tính khoa học của công tác quản lý đào tạo.

d) Chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên là một giải pháp rất quan trọng thu hút sự chú ý của dư luận xã hội và sinh viên. Trong những năm qua vấn đề này đã được các trường quan tâm; chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên đã được củng cố và nâng cao một bước, song vẫn chưa đáp ứng được tốt yêu cầu đào tạo. Tại một số nơi vẫn còn thiếu giảng viên; chất lượng, trình độ đội ngũ giảng viên chưa đồng đều; vẫn còn giảng viên chưa thể hiện hết trách nhiệm khi lên lớp... Chính vì vậy, các cơ sở đào tạo luật cần phải coi việc chú trọng nâng cao chất lượng, trình độ đội ngũ giáo viên là một giải pháp thường xuyên.

e) Để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên cần phải quan tâm hơn tới hai giải pháp có liên quan tới họ. Đó là, đẩy mạnh công tác nghiên cứa khoa học trong sinh viên và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên.

Công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên còn mang tính hình thức nên chưa thu hút được sự tham gia của nhiều người. Những ai tham gia nghiên cứu khoa học thì chủ yếu chạy theo thành tích nên không có sự say mê nghiên cứu, chất lượng bài viết nghèo nàn, thiếu chiều sâu.

Cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại các trường còn chậm đổi mới. Phổ biến vẫn là áp dụng cách thi viết truyền thống, cách thi trắc nghiệm và thi vấn đáp chưa được áp dụng rộng rãi. Điều đó dễ tạo ra thói chây lười học tập trong sinh viên, phát sinh tiêu cực trong thi và kiểm tra trong sinh viên.

Từ thực tế đó, các cơ sở đào tạo luật nên xác định đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên cũng là một giải pháp thường xuyên.

g) Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ dạy và học không phải là yếu tố có tính quyết định tới chất lượng đào tạo luật, nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của cơ sơ vật chất phục vụ dạy và học. Các trường (khoa) cần chú trọng phát triển cơ sở vật chất phục vụ dạy và học như hệ thống hội trường, thư viện, phòng đọc, giáo trình, tài liệu tham khảo, thiết bị âm thanh, máy vi tính và áp dụng những công nghệ mới phục vụ dạy và học.

h) Một trong những giải pháp cấp bách là các cơ sở đào tạo luật bằng những hình thức nhất định, phải chú trọng và tăng cường rèn luyện năng lực và phẩm chất nghề nghiệp cần thiết đối với một cử nhân luật trong tương lai. Đó là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý; có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn; có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người và có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản; đáp ứng khả năng tiếp cận giải quyết các tình huống thực tế cho học viên tại chức thông qua việc trang bị cho họ những kỹ năng nghề nghiệp.

III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THĂM DÒ DƯ LUẬN XÃ HỘI TRONG HỌC SINH LỚP 12

1. Khái quát về đối tượng được khảo sát:

Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ và yêu cầu của tiểu dự án, cuộc khảo sát thăm dò dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay, không chỉ hướng tới các đối tượng xã hội là sinh viên chính quy và học viên tại chức các trường (khoa) đào tạo cử nhân luật mà còn hướng tới đối tượng hiện đang là học sinh trung học phổ thông lớp 12. Mỗi đối tượng xã hội trên đều có những đặc điểm xã hội riêng, học sinh trung học phổ thông lớp 12 là những người sắp tốt nghiệp tú tài và đang lựa chọn trường đại học để thi vào. Để chọn thi vào một trường đại học nào đó, ít hay nhiều những người chuẩn bị thi đều có nhu cầu tìm hiểu về trường, về ngành mà mình sẽ học trong tương lai. Như vậy, dư luận xã hội trong giới học sinh lớp 12 cũng là những ý kiến rất quan trọng mà chúng ta cần phải lắng nghe.

Xuất phát từ đặc thù của đối tượng khảo sát là học sinh lớp 12 nên chúng tôi xây dựng cho họ hai loại mẫu phiếu (Phiếu thăm dò dư luận xã hội và Phiếu phỏng vấn cá nhân) phù hợp với đặc điểm của đối tượng. Sau khi phát phiếu, chúng tôi thu về được 160 phiếu hợp lệ, bao gồm Phiếu thăm dò dư luận xã hội có 107 phiếu, chiếm 66,88%. Phiếu phỏng vấn cá nhân có 53 phiếu, chiếm 33,12%. Các đặc điểm xã hội của người trả lời thể hiện như sau:

1. Về cơ cấu lứa tuổi: học sinh lớp 12 chỉ tập trung ở ba nhóm tuổi gần nhau, nhóm 17 tuổi là những người đi học sớm trước tuổi, nhóm 18 tuổi là những người đi học đứng độ tuổi và duy nhất có 1 người 19 tuổi, có lẽ đi học muộn mất một năm:

 

Mã số

Nhóm lứa tuổi

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Không trả lời

7

4.38

4.38

2

17 tuổi

77

48.12

52.50

3

18 tuổi

75

46.88

99.38

4

19 tuổi

1

0.62

100.00

 

Tổng cộng

160

100.00

 

 

Bảng lứa tuổi

2. Về cơ cấu giới tính, tỷ lệ phân bố tương đối đều ở cả hai giới nam và nữ:

 

Mã số

Giới tính

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Nam

86

53.75

53.75

2

Nữ

74

46.25

100.00

 

Tổng cộng

160

100.00

 

 

Bảng giới tính

3. Xét theo tiêu chí đã được kết nạp hay chưa được kết nạp vào Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho thấy phần lớn các em học sinh tham gia trả lời đã là Đoàn viên:

 

Mã số

Đoàn viên

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Đã kết nạp

144

94.12

94.12

2

Chưa kết nạp

9

5.88

100.00

 

Tổng cộng

153

100.00

 

 

Bảng Đoàn viên

4. Xét theo tiêu chí nơi ở hiên nay của học sinh lớp 12 là thành phố hay nônq thôn, tỷ lệ phân bố như sau:

4.1. Nơi ở hiện nay là thành phố gồm có nội thành và ngoại thành:

Mã số

Thành phố

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Nội thành

82

76.64

76.64

2

Ngoại thành

25

23.36

100.00

 

Tổng cộng

107

100.00

 

 

Bảng nơi ở hiện nay là thành phố

4.2. Nơi ở hiện nay là nông thôn gồm đồng bằng, trung du và miền núi:

 

Mã số

Nông thôn

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Đồng bằng

26

47.27

47.27

2

Trung du

13

23.64

70.91

3

Miền núi

16

29.09

100.00

 

Tổng cộng

55

100.00

 

 

Bảng nơi ở hiên nay là nông thôn

5. Xét theo điều kiện kinh tế của gia đình (thu nhập của bố mẹ) là yếu tố đảm bảo hay không đảm bảo cho học sinh lớp 12 có thể đi học đại học nếu họ thi đỗ vào đại học:

 

Mã số

Kinh tế

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Khá giả

24

15.09

15.09

2

Trung bình

121

76.10

91.19

3

Miền núi

14

8.81

100.00

 

Tổng cộng

 

100.00

 

 

Bảng điều kiện kinh tế của gia đình

2. Tình hình, thực trạng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý qua dư luận xã hội trong học sinh lớp 12

2.1. Học sinh lớp 12 trước ngưỡng cửa cuộc đời

Sự đánh giá của dư luận xã hội về một vấn đề xã hội nào đó bao giờ cũng phải dựa trên những cơ sở thực tiễn nhất định của nó. Có như vậy thì sự đánh giá, phán xét đó mới mang tính chân thực, dù chỉ là tương đối. Cũng như vậy, sự đánh giá của dư luận xã hội trong học sinh lớp 12 về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cử nhân nói chung và đào tạo cử nhân luật nói riêng tại các trường đại học chỉ có ý nghĩa khi các em có dự định thi vào đại học và chọn một trường nào đó để thi vào. Khi đã quyết định chọn một trường đại học để thi vào, chắc chắn là ít hay nhiều các em phải có sự tìm hiểu về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo của trường đó. Từ đó, những thông tin thu được về các ý kiến, thái độ của các em mới có chất lượng và đảm bảo độ tin cậy. Nhằm tìm hiểu vấn đề này, câu hỏi đầu tiên mà chúng tôi đưa ra là: bạn có dự định thi vào đại học không?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

159

99.38

99.38

2

Không

1

0.62

100.00

 

Tổng cộng

160

100.00

 

 

Bảng C1: Có thi vào đại học không?

Kết quả ở bảng C1 cho thấy trong số 160 em học sinh lớp 12 tham gia trả lời bảng hỏi, duy nhất chỉ có một em không có dự định thi vào đại học. Tất cả các em còn lại đều sẽ thi vào đại học. Điều đó cho thấy những thông tin thu được từ các ý kiến, thái độ của các em về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay qua cuộc thăm dò dư luận xã hội này là có chất lượng và đảm bảo độ tin cậy cao.

2.2. Sự tác động của bố mẹ, người thân:

Mỗi người đều có một gia đình, có bố mẹ, người thân, ở lứa tuổi học sinh lớp 12, các em đang háo hức bước vào đời, ai cũng muốn chọn cho mình một nghề nghiệp tương lai. Ước mơ thì ai cũng có, nhưng thường thì các em chưa có sự định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Vậy bố mẹ, người thân có gợi ý hoặc định hướng chọn ngành nghề cho các em khi các em thi vào đại học không?

Thông tin thu được về vấn đề này như sau:

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

122

76.25

76.25

2

Không

38

23.75

100.00

 

Tổng cộng

160

100.00

 

 

Bảng C2: Bố mẹ, người thân có gợi ý hoặc định hướng chọn ngành nghề?

Các số liệu trong bảng C2 cho thấy có 122/160 học sinh (chiếm 76,25%) trả lời rằng bố mẹ, người thân có gợi ý, định hướng chọn ngành nghề cho các em khi các em thi vào đại học. Trong số này cơ cấu giới tính có tỷ lệ tương đương nhau, nam chiếm 51,64% và nữ chiếm 48,36%; có 85 em hiện đang ở tại thành phố, gồm nội thành 67 em (chiếm 78,82%) và ngoại thành 18 em (chiếm 21,18%); có 38 em hiện đang ở tại nông thôn phân bố tương đối đều ở cả đồng bằng, trung du và miền núi. Xét theo điều kiện kinh tế (thu nhập của bố mẹ), có 20 em (16,39%) có điều kiện kinh tế khá giả; 91 em (74,59%) có điều kiện kinh tế trung bình và 11 em (9,02%) có điều kiện kinh tế khó khăn.

Cũng theo các số liệu trong bảng C2 cho thấy có 38/160 học sinh (chiếm 23,75%) trả lời rằng bố mẹ, người thân không gợi ý, định hướng chọn ngành nghề cho các em, tự bản thân các em quyết đinh thi vào đại học. Trong số này theo cơ cấu giới tính nam có 23 em (chiếm 60,53%) và nữ có 15 em (chiếm 39,47%); có 22 em hiện đang ở tại thành phố, gồm nội thành 15 em (chiếm 68,18%) và ngoại thành 7 em (chiếm 31,82%); có 17 em hiện đang ở tại nông thôn tập trung chủ yếu ở đồng bằng. Xét theo điều kiện kinh tế (thu nhập của bố mẹ), chỉ có 4 em (10,81%) có điều kiện kinh tế khá giả; 30 em (81,08%) có điều kiện kinh tế trung bình và 3 em (8,11%) có điều kiện kinh tế khó khăn.

Như vậy, phần lớn học sinh lớp 12 được hỏi trả lời rằng bố mẹ, người thân của các em đã định hướng hoặc gợi ý cho các em chọn ngành, chọn trường để thi vào đại học. Đa số các em hiện đang sống ở khu vực đô thị (nội thành) và khu vực nông thôn (đồng bằng), trong những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khá giả và trung bình. Điều đó cho thấy rằng: thứ nhất, các bậc phụ huynh ngày nay quan tâm nhiều hơn tới sự định hướng nghề nghiệp cho con cái, sẵn sàng tạo những điều kiện tốt nhất có thể được để con cái họ có cơ hội đạt được trình độ học vấn cao; thứ hai, các bậc phụ huynh nhận thức tốt hơn vấn đề bình đẳng giới khi hầu như không có sự phân biệt con trai hay con gái trong việc định hướng nghề nghiệp và đầu tư học hành; thứ ba, tính cơ động xã hội - nghề nghiệp của học sinh lớp 12 ở đô thị cao hơn so với nông thôn và đồng bằng cao hơn so với miền núi.

2.3. Lựa chọn ngành học:

Vậy các em học sinh lớp 12 sau khi phần lớn được bố mẹ, người thân định hướng nghề nghiêp tương lai thì họ sẽ dự thi vào trường đại học nào?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Khoa học tự nhiên

29

18.12

18.12

2

Khoa học kỹ thuật

19

11.88

30.00

3

Ngoại ngữ

9

5.62

35.62

4

Luật

54

33.75

69.38

5

Kinh tế

18

11.25

80.62

6

Sư phạm

18

11.25

91.88

7

Ngành khác

13

8.12

100.00

 

Tổng số

160

100.00

 

 

Bảng C3: Chọn thi vào ngành nào?

Một cách tương đối, chúng tôi chia các ngành học theo 6 nhóm ngành gồm: Khoa học tự nhiên, Khoa học kỹ thuật, Ngoại ngữ, Luật, Kinh tế, Sư phạm và các ngành khác (nếu chọn thì ghi vào phiếu). Kết quả xử lý thông tin ở bảng C3 cho thấy có 54/160 em (33,75%) chọn thi vào ngành luật. Tiếp theo, có 29/160 em (18,12%) chọn thi vào các ngành khoa học tự nhiên; các nhóm ngành khoa học kỹ thuật, kinh tế và sư phạm có tỷ lệ các em lựa chọn tương đương (trên 11%); thấp nhất là ngành ngoại ngữ (9 em, chiếm 5,62%). Tỷ lệ chọn các ngành khác chỉ có 8,12%. Nếu các em trả lời trung thực thì hiện nay số học sinh lớp 12 chọn ngành luật để thi vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nhóm ngành khác. Trong số này, học sinh nữ (31 em, 57,41%) chiếm tỷ lệ cao hơn học sinh nam (23 em, 42,59%); có 37 em (68,52%) hiện sống ở đô thị và 17 em (31,48%) đang sống ở nông thôn; đa số các em có điều kiện kinh tế gia đình khá giả (22/54 học sinh) hoặc trung bình (40/54 học sinh). Như vậy, có thể dự báo rằng, trong những năm tới vẫn có nhiều thí sinh đăng ký dự thi vào các cơ sở đào tạo luật trong cả nước.

2.4. Tại sao không thi vào ngành luật?

Dù sao cũng có hai nhóm ý kiến: không chọn thi vào ngành luật và sẽ thi vào ngành luật. Lý do gì khiến cho các em học sinh lớp 12 quyết định không thi vào ngành luật?

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Do không biết gì về ngành Luật

8

7.14

7.14

2

Do không thích ngành Luật

38

33.93

41.07

3

Do thích ngành luật nhưng bố, mẹ định hướng ngành khác

10

8.93

50.00

4

Sợ thi không đỗ (không tin ở bản thân)

19

16.96

66.96

5

Sợ sau này khó xin việc

30

26.79

93.75

6

Bạn bè tác động

5

4.46

98.21

7

Lý do khác

2

1.79

100.00

 

Tổng

 

100.00

 

 

Bảng C4: Lý do không chọn ngành luật?

Rõ ràng là có nhiều lý do khiến cho các em học sinh lớp 12 quyết định không thi vào ngành luật. Đó là: một, do không biết gì về ngành luật (học những kiến thức gì? ra trường sẽ làm gì?); hai, do bản thân không thích ngành luật; ba, do thích ngành luật nhưng bố mẹ định hướng ngành khác thuận lợi hơn cho công việc làm sau này; bốn, do sợ thi không đỗ, không tự tin vào bản thân; năm, do sợ sau này khó xin việc làm và sáu, do bạn bè tác động. Trong các lý do nêu trên, chiếm tỷ lệ cao nhất (33,93%) là do các em không thích ngành luật nên không thi. Một lý do đáng kể khác khiến các em học sinh lớp 12 không thi vào ngành luật là do các em sợ sau khi tốt nghiệp ra trường sẽ khó xin việc làm. Đây cũng đang là tâm trạng chung của nhiều người mà dư luận xã hội trong các đối tượng xã hội khác như sinh viên chính quy và học viên tại chức đã nhiều lần đề cập đến. Một lý do khác được 16,96% người trả lời nhắc đến là do sợ thi không đỗ, không tự tin vào bản thân; sở dĩ như vậy là vì có sự lan truyền trong học sinh phổ thông lớp 12 dư luận cho rằng điểm chuẩn xét tuyển vào các trường luật quá cao nên họ không dám thi. Các lý do khác chiếm tỷ lệ không đáng kể. Đó chính là những lý do khiến cho học sinh lớp 12 dù có muốn nhưng không thi vào Đại học Luật.

2.5. Tại sao chọn thi vào ngành luật?

Về lý do khiến cho các em học sinh lớp 12 quyết định thi vào ngành luật, chính các em giải thích như sau:

- Bản thân không thích ngành luật nhưng theo yêu cầu của bố mẹ nên mới quyết định thi vào Đại học Luật.

- Bố mẹ đang công tác trong ngành luật nêu em học ngành luật, sau này dễ xin việc làm.

- Muốn sau này có việc làm tốt trong xã hội.

- Ngành luật là ngành có vị trí trong xã hội, được xã hội đánh giá cao.

- Qua xem phim thấy thích nghề luật sư, mong muốn sau này trở thành luật sư.

- Tự bản thân thấy tính cách hợp với nghề luật nên muốn thử sức trên lĩnh vực này.

- Điểm chuẩn xét tuyển vào trường luật cao nhưng vẫn thích học luật.

Như vậy, có nhiều lý do khiến cho các em học sinh lớp 12 quyết định thi vào ngành luật, về cơ bản là xuất phát từ nhu cầu, sở thích của bản thân học sinh và có sự gợi ý hoặc định hướng của bố mẹ, người thân. Những yếu tố đó giúp các em có đủ sự mạnh dạn, tự tin để đăng ký dự thi vào ngành luật.

2.6. Thực trạng quy mô đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay:

Đánh giá đúng thực trạng quy mô đào tạo tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay có phù hợp với nhu cầu sử dụng cử nhân luật của xã hội hay không là vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Nó tạo cơ sở thực tiễn cho Nhà nước cũng như các trường (khoa) luật xác định quy mô đào tạo hợp lý. Dư luận xã hội trong giới học sinh phổ thông trung học đánh giá quy mô đào tạo tại các cơ sơ đào tạo luật hiện nay như thế nào? Để tìm hiểu vấn để này chúng tôi đưa ra câu hỏi sau: Trong trường phổ thông trung học nơi bạn đang học người ta đánh giá như thế nào về quy mô đào tạo của trường Luật (khoa Luật) hiện nay? Kết quả như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Quá nhiều so với nhu cầu sử dụng của xã hội

59

37.58

37.58

2

Hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội

28

17.83

55.41

3

Còn ít, chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội

70

 

100.00

 

Tổng

157

100.00

 

 

Bảng C5: Đánh giá về quy mô đào tạo luật

Quy mô đào tạo của các cơ sở đào tạo được chúng tôi chia một cách tương đối theo ba mức độ: một là, quá nhiều so với nhu cầu sử dụng của xã hội; hai là, hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội và ba là, còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Quan sát các số liệu trong bảng 5 chúng ta thấy cách đánh giá của các em học sinh lớp 12 về quy mô đào tạo ngành luật hiện nay không thống nhất. Có 59 em học sinh (chiếm 37,58%) đánh giá quy mô đào tạo như hiện nay là quá nhiều so với nhu cầu sử dụng. Trong số này chiếm 66,10% (39 em) là học sinh ở đô thị và có 33,90% (20 em) là học sinh nông thôn; đa số (83,05%) ở trong những gia đình có điều kiện kinh tế trung bình. Như vậy, phần nhiều các em học sinh lớp 12 ở đô thị trong gia đình có điều kiện kinh tế trung bình đánh giá quy mô đào tạo như hiện nay là quá nhiểu so với nhu cầu sử dụng.

Các số liệu trong bảng C5 cũng cho thấy có 70 em học sinh lớp 12 (44,59%) cho rằng quy mô đào tạo ngành luật hiện nay là còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội. Trong số này có 48 em (chiếm 68,57%) hiện sống tại đô thị và 22 em (31,43%) là học sinh các vùng nông thôn. Gia đình các em về cơ bản có điều kiện kinh tế trung bình và một số khá giả. Chỉ có 28 em (chiếm 17,83%) nhận xét rằng quy mô đào tạo như hiện nay là hợp lý so với nhu cầu sử dụng của xã hội.

Vậy căn cứ vào đâu mà dư luận xã hội trong học sinh phổ thông lớp 12 lại có sự đánh giá khác nhau về quy mô đào tạo? Thông qua các cuộc phỏng vấn cá nhân, thông tin thu được thể hiện trong mấy căn cứ dưới đây:

a. Các căn cứ để đánh giá quy mô đào tạo là quá nhiều:

- Ý thức pháp luật trong nhân dân chưa cao, xã hội chưa phát triển nên luật sư chưa cần nhiều.

- Sinh viên ngành luật ra trường không có việc làm, ra trường nhiều người làm trái ngành được đào tạo.

- Tình trạng khó có việc làm khi ra trường, nhu cầu về luật chưa cao

- Cử nhân luật quá nhiều so với nhu cầu của xã hội, tình trạng khó có việc làm khi ra trường, nhu cầu về luật chưa cao.

- Không có luật sư giỏi, nhưng lại quá nhiều luật sư

b. Các căn cứ để đánh giá quy mô đào tạo là hợp lý:

- Theo tuyển sinh của trường như thế là hợp lý

- Cử nhân luật ra trường có thể làm việc ở nhiều cơ quan khác nhau, không nhất thiết cứ phải làm trong ngành luật.

- Quy mô tuyển sinh của trường luật ít hơn các trường khác, xã hội càng phát triển càng cần nhiều luật sư.

c. Các căn cứ để đánh giá quy mô đào tạo là còn ít

- Công tác quản lý xã hội bằng pháp luật đòi hỏi lúc nào cũng cần nhiều cán bộ pháp lý, nhưng cần quan tâm hơn đến chất lượng cán bộ pháp lý.

- Luật sư và cán bộ pháp lý trong xã hội còn ít, cử nhân luật có trình độ khá, giỏi còn ít.

- Cán bộ có trình độ cử nhân luật còn ít so với yêu cầu của xã hội.

- Cán bộ có trình độ cử nhân luật còn ít so với xã hội, mọi người chưa am hiểu nhiều vể pháp luật.

- Vùng núi, trung du thiếu cán bộ pháp lý.

Kết luận: Các ý kiến đánh giá về quy mô tuyển sinh đào tạo của các cơ sở đào tạo luật mặc dù còn khác xa nhau trong con mắt nhìn nhận của học sinh lớp 12. Không loại trừ còn có những ý kiến chủ quan, nhận định cảm tính khi các em trả lời câu hỏi, song nó cũng đặt ra nhiều vấn đề về quy mô đào tạo mà các nhà quản lý cần tính đến.

2.7. Mục đích theo học ngành luật:

Chúng ta đã biết, trong số 160 học sinh tham gia trả lời phiếu điều tra có 54 em nói sẽ thi vào ngành luật. Sự lựa chọn ngành luật của các em xuất phát từ mục đích gì?

Kết quả trả lời câu hỏi này như sau:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Muốn trở thành cán bộ pháp lý

19

35.19

35.19

2

Ước mơ trở thành thẩm phán, luật sư

29

53.70

88.89

3

Nhận được đảm bảo về việc làm sau này

3

5.56

94.44

4

Chỉ đơn giản là chọn một ngành nghề rồi tính sau

3

5.56

100.00

 

Tổng số

54

100.00

 

 

Bảng C6: Mục đích thi vào ngành luật

Trong 54 học sinh sẽ thi vào ngành luật, có 29 em muốn thực hiện ước mơ sau này trở thành thẩm phán, luật sư; có 19 học sinh muốn trở thành cán bộ pháp lý, làm việc trong lĩnh vực pháp luật. Vậy là phần lớn các em chọn ngành luật theo sở thích cá nhân, theo nguyện vọng và ước mơ phấn đấu để biến ước mơ thành hiện thực. Số còn lại có 3 học sinh chọn thi vào ngành luật vì các em đã nhận được sự bảo đảm về việc làm sau khi tốt nghiệp ra trường, cả 3 em đều đang sống ở nội thành thành phố, trong gia đình có điều kiện kinh tế khá giả; rất có thể bố mẹ các em đang công tác trong ngành luật. Đó là những thuận lợi cơ bản giúp các em thăng tiến xã hội. Chỉ có 3 em không xác định được mục đích một cách rõ ràng khi chọn thi vào ngành luật, đơn giản là chọn một ngành để học rồi sau này ra trường sẽ tính sau. Có thể thấy hầu hết học sinh lớp 12 chọn thi vào ngành luật đã xác định được mục đích một cách rõ ràng: muốn trở thành thẩm phán, luật sư, muốn sau này công tác trong ngành luật. Các em giải thích thêm về tính mục đích của mình:

- Tự thấy tính cách phù hợp với cán bộ pháp lý.

- Bản thân thích ngành luật, bố làm việc ở toà án nên thuận lợi cho sau này xin việc làm.

- Vừa giúp ích cho xã hội, vừa có công ăn việc làm đàng hoàng.

- Ngành luật có nhiều môn học liên quan đến chính trị, văn hoá, xã hội; giúp em nhạy bén, tự tin, năng động với cái mới; cho phép phát huy được năng lực, khẳng định được chỗ đứng của phái nữ trong xã hội.

- Muốn trở thành người bảo vệ quyền lợi cho mọi người, góp phần nhỏ bé trong việc bảo vệ công lý.

- Muốn giúp ích cho đất nước, góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Góp phần nhỏ bé của mình để bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật.

Những lời giải thích trên đây của học sinh lớp 12 cho thấy sự lựa chọn và yêu thích ngành luật của các em đều xuất phát từ những mục đích, mong muốn rất tốt đẹp. Hy vọng rằng ước mơ của các em sẽ trở thành hiện thực.

Để thu thập thêm nhiều thông tin đa dạng, đa chiều, chúng tôi đề nghị học sinh lớp 12 (tham gia trả lời phiếu) cho biết thêm về sự lựa chọn ngành nghề của bạn bè học cùng trường, cùng lớp với họ bằng câu hỏi: Bạn bè cùng trường, cùng lớp có chọn thi vào ngành luật như bạn không? Kết quả là có 27/54 học sinh trả lời rằng bạn bè cùng trường, cùng lớp có chọn thi vào ngành luật như họ; 24 em nói bạn bè không dự thi vào ngành luật và 3 em không quan tâm việc này nên không biết (xem bảng C7).

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

27

50.50

50.50

2

Không

24

44.44

94.44

3

Không quan tâm

3

5.56

100.00

 

Cộng

54

100.00

 

 

Bảng C7: Bạn bè có cùng thi vào ngành luật không?

Nguyên nhân khiến cho những người bạn đó không chọn ngành luật thể hiện trong bảng C8:

 

Mã số

Phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Tỷ lệ cộng dồn

1

Do các bạn đó không thích ngành luật

8

14.81

14.81

2

Do số lượng thí sinh dự thi quá đông

13

24.07

38.89

3

Do sợ khó xin được việc làm khi tốt nghiệp

33

61.11

100.00

 

Tổng số

54

100.00

 

 

Bảng C8: Nguyên nhân không chọn thi vào ngành luật.

Có ba nguyên nhân chính khiến các bạn không chọn thi vào ngành luật: một là, do các bạn đó không thích ngành luật; hai là, do số lượng thí sinh dự thi quá đông; và ba là, do sợ khó xin việc làm khi tốt nghiệp cử nhân luật. Trong ba nguyên nhân đó, chiếm tới 61,11% (33/54 người) các bạn không chọn thi vào ngành luật do sợ khó xin việc làm khi tốt nghiệp ra trường. Họ được chứng kiến thực tế nhiều SV luật ra trường không có việc làm. Có người còn đánh giá một cách bi quan rằng tài năng chỉ là thứ yếu, phải là con cháu của người có chức sắc mới dễ xin việc. Một bộ phận khác (chiếm 24,07%) không dám thi vào ngành luật vì số lượng thí sinh dự thi quá đông. Họ viện dẫn các lý do: tỷ lệ người thi quá đông, điểm chuẩn cao; học luật khó xin việc nhưng số người dự thi vẫn đông. Chỉ có một bộ phận nhỏ (14,81%) không thi vào ngành luật là do không thích ngành luật.

Kết luận: Có nhiều yếu tố tác động tới tư tưởng - tâm lý khiến cho học sinh lớp 12 dù muốn nhưng không dám đăng ký dự thi vào ngành luật, bao gồm: do không thích ngành luật; do số lượng thí sinh dự thi quá đông; do sợ khó xin việc làm khi tốt nghiệp cử nhân luật. Trong đó, tâm lý chung của nhiều người là sợ khó xin việc làm khi tốt nghiệp.

2.8. Thực trạng chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo:

Mục tiêu cơ bản của tiểu dự án là điều tra thăm dò dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Vậy dư luận xã hội trong giới học sinh lớp 12 đánh giá như thế nào về chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân luật?

Kết quả thể hiện ở bảng C9:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất tốt

11

20.37

20.37

2

Tốt

20

37.04

57.41

3

Khá

19

35.19

92.19

4

Trung bình

2

3.07

96.30

5

Chưa tốt

2

3.07

100.00

 

Tổng số

54

100.00

 

 

Bảng C9: Đánh giá về chất lượng đào tạo cử nhân luật


 

Chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân luật được phân chia theo năm mức độ cụ thể: rất tốt, tốt, khá, trung bình và chưa tốt. Các số liệu trong bảng C9 cho thấy 20,37% học sinh đánh giá chất lượng đào tạo rất tốt, 37,04% học sinh đánh giá chất lượng đào tạo tốt và 35,19% học sinh đánh giá chất lượng đào tạo khá. Tính chung, số học sinh lớp 12 đánh giá chất lượng đào tạo  khá, tốt và rất tốt chiếm tới 92,59%. Chỉ có 4 học sinh (7,41%) đánh giá chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt. Những con số nêu trên cho phép khẳng định rằng đại đa số các em tin tưởng vào chất lượng đào tạo tốt của các cơ sở đào tạo luật nên đăng ký dự thi ngành luật.

2.9. Những yếu tố tác động tới chất lượng đào tạo:

Có những yếu tố khác nhau tác động tới chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý, trong đó có những yếu tố tác động từ bên ngoài xã hội tới nhà trường; có những yếu tố thuộc đường lối, chính sách và cơ chế quản lý đào tạo; có những yếu tố nằm trong chính các cơ sở đào tạo. Ở đây chúng tôi chỉ khảo sát những yếu tố “từ bên trong”, bao gồm hai nhóm các yếu tố: các yếu tố giúp cho chất lượng đào tạo đạt loại khá tốt và các yếu tố dẫn tới chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt.

Câu hỏi nếu đánh giá chất lượng đào tạo là khá, tốt hoặc rất tốt thì vì sao? Kết quả xử lý thông tin như sau:

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không trả lời

109

44.13

44.13

1

Có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ mang tính khoa học cao

33

13.36

57.49

2

Do có đội ngũ giảng viên có trình độ cao tâm huyết

44

17.81

75.30

3

Do sinh viên có ý thức cao trong học tập

12

4.86

80.16

4

Do có cơ sở vật chất tốt phục vụ cho giảng dạy và học tập

24

9.72

89.88

5

Do phương pháp đào tạo kết hợp hài hòa lý thuyết với thực tế

25

10.12

100.00

 

Tổng số

247

100.00

 

 

Bảng C10: Các yếu tố làm nên chất lượng đào tạo khá và tốt.

Quan sát các số liệu trong bảng C10 cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho học sinh lớp 12 đánh giá chất lượng đào tạo luật khá, tốt hoặc rất tốt nằm ở cả 5 yếu tố:

a) Do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao. Khi xây dựng được một chương trình đào tạo có kết cấu chặt chẽ, phù hơp với quỹ thời gian đào tao; nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và làm nên chất lượng đào tạo tốt.

b) Do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Có được nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao nhưng còn cần một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề thì mới truyền tải tới sinh viên những kiến thức khoa học xã hội và khoa học pháp lý, tạo cho sinh viên một hành trang kiến thức tốt để họ vững vàng bước vào đời.

c) Do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Công nghệ giảng dạy đại học hiện đại thường lấy sinh viên làm trung tâm của hoạt động đào tạo. Chỉ có thể có chất lượng đào tạo tốt khi sinh viên chủ động tích cực và có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu.

d) Do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Dĩ nhiên cơ sở vật chất tốt chưa phải là tất cả, nhưng các điều kiện vật chất như thư viện, hội trường, thiết bị âm thanh, ánh sáng, giáo trình, tài liệu tham khảo... lại không thể thiếu đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên.

e) Do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn. Muốn có chất lượng đào tạo tốt thì phải có phương pháp đào tạo phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo.

Bảng C10 cho thấy có 109 học sinh không trả lời câu hỏi này vì họ là những người không chọn thi vào ngành luật, do đó cũng không tìm hiểu về trường luật.

Trong 5 nguyên nhân kể trên, nguyên nhân thứ 2 (do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề) được học sinh lớp 12 đánh giá cao nhất với 44 lượt học sinh cập tới nguyên nhân này. Điều đó cho thấy học sinh lớp 12 cũng rất coi trọng vai trò của thầy cô giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Tiếp đến có 33 lượt học sinh lớp 12 đề cập tới nguyên nhân thứ 1 (do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao), có 25 em đề cập tới nguyên nhân thứ 5 (do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn); có 24 học sinh đề cập tới nguyên nhân thứ 4 (do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên). Chỉ có 12 em nói đến nguyên nhân thứ 3 (do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu), điều này nói lên rằng, mặc dù còn chưa thi và chưa trở thành sinh viên nhưng học sinh lớp 12 đã ghi nhận thấy một bộ phận đáng kể sinh viên ngành luật còn thiếu ý thức tự giác trong học tập, lo học đối phó. Giải thích thêm về lý do khiến các em nhận xét như trên, một số học sinh lớp 12 viện dẫn thêm:

- Trường Đại học Luật Hà Nội là trường đầu ngành về đào tạo cán bộ pháp lý, cơ sở vật chất khang trang.

- Học ngành luật được học nhiều kiến thức khác nhau, thầy cô dạy tốt, cơ sở vật chất khang trang.

- Trường Luật đào tạo tốt, có đội ngũ giáo viên tâm huyết với nghề.

Một điểm đáng chú ý là có rất ít học sinh lớp 12 chỉ đề cập đến một nguyên nhân duy nhất. Đa số các em nói đến nhiều nguyên nhân cùng làm nên chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý đạt loại khá, tốt; chứng tỏ học sinh lớp 12 cũng thấy được sự kết hợp của nhiều nguyên nhân mới làm nên chất lượng đào tạo tốt.

Câu hỏi nếu đánh giá chất lượng đào tạo trung binh hoặc chưa tốt thì do nguyên nhân nào?

Dưới đây là bảng số liệu đã được xử lý:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

0

Không trả lời

153

95.62

95.62

1

Nội dung đào tạo chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học

5

3.12

98.75

12

Nội dung đào tạo chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học và đội ngũ cán bộ có trình độ chưa đồng đều

1

0.62

99.38

125

Chọn câu 1,2 và 5

1

0.62

100.00

 

Tổng số

160

100.00

 

 

Bảng C11: Các yếu tố dẫn đến chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt.

Bảng C11 cho thấy có rất ít, chỉ 7 học sinh lớp 12 đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật chỉ đạt mức trung bình hoặc chưa tốt. Cụ thể, có 5 em đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật chỉ đạt mức trung bình hoặc chưa tốt là do nội dung đào tạo ngành luật chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học; một em cho rằng do hai nguyên nhân là nội dung đào tạo ngành luật chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học và đội ngũ cán bộ có trình độ chưa đồng đều; còn lại một em nói đến cả ba nguyên nhân: nội dung đào tạo ngành luật chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học, đội ngũ cán bộ có trình độ chưa đồng đều và phương pháp đào tạo chưa gắn lý thuyết với thực tiễn.

Kết luận: Thực trạng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý của các cơ sở đào tạo luật được dư luận xã hội trong đại đa số học sinh lớp 12 đánh giá là khá, tốt và rất tốt. Đạt được chất lượng tốt là do nhiều nguyên nhân khác nhau: quan trọng nhất là do nhà trường luật có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề; tiếp đến là do nhà trường luật có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao; do nhà trường luật có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tỉễn; do nhà trường luật có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên; cuối cùng là do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Các nguyên nhân này được học sinh lớp 12 nhìn nhận trong sự kết hợp qua lại giữa chúng với nhau, nếu chỉ một nguyên nhân duy nhất thì khó làm nên chất lượng đào tạo tốt. Bên cạnh đó cũng còn vài ý kiến đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân luật chỉ đạt mức trung bình hoặc chưa tốt. Nhìn chung dư luận xã hội trong học sinh lớp 12 có tính thống nhất cao trong các nhận định.

Cơ sở để họ đánh giá về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo của trường luật chủ yếu từ các nguồn: các phương tiện thông tin đại chúng (60,78%); từ sự phản ánh của các sinh viên hiện đang theo học tại các cơ sở đào tạo luật (31,37%) và từ bạn bè học cùng trường, cùng lớp (7,84%).

III. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THĂM DÒ DƯ LUẬN XÃ HỘI TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP XÃ, PHƯỜNG

1. Khái quát về đối tượng được khảo sát:

Thăm dò dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay cần hướng tới nhiều đối tượng xã hội thì lượng thông tin thu thập được mới đa dạng, phong phú và phản ánh được nhiều mặt, nhiều khía cạnh của vấn đề nghiên cứu. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của tiểu dự án, bên cạnh đối tượng thăm dò dư luận xã hội là sinh viên chính quy và học viên tại chức các Trường Đại học Luật (Khoa Luật), học sinh trung học phổ thông lớp 12, chúng tôi còn hướng tới một đối tượng khác là đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã, phường. Mỗi đối tượng xã hội trên đều có những đặc điểm xã hội riêng. Cán bộ quản lý cấp xã, phường là những người gần gũi, tiếp xúc nhiều với các tầng lớp nhân dân, nghe được nhiều thông tin về chất lượng đào tạo cử nhân luật và hiệu quả sử dụng cán bộ pháp lý nên sự đánh giá của họ tương đối khách quan.

Xuất phát từ đặc thù của đối tượng khảo sát là cán bộ quản lý cấp xã, phường nên chúng tôi xây dựng cho họ hai loại mẫu phiếu (Phiếu thăm dò dư luận xã hội và Phiếu phỏng vấn cá nhân) phù hợp với đặc điểm của đối tượng. Sau khi phát phiếu, chúng tôi thu về được 165 phiếu hợp lệ, bao gổm: phiếu thăm dò dư luận xã hội có 108 phiếu, chiếm 65,45%. Phiếu phỏng vấn cá nhân có 57 phiếu, chiếm 34,55%. Các đặc điểm xã hội của cán bộ quản ly cấp xã phường thể hiện như sau:

 

1. Về cơ cấu lứa tuổi được chia theo bốn nhóm tương ứng như sau:

 

Mã số

Nhóm tuổi

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Dưới 30 tuổi

36

21.82

21.82

2

Từ 30 đến 40 tuổi

43

26.06

47.88

3

Từ 40 đến 50 tuổi

54

32.73

80.61

4

Lớn hơn 50 tuổi

32

19.39

100.00

 

Tổng số

165

100.00

 

 

2. Về cơ cấu giới tính

Mã số

Giới tính

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Nam

121

73.33

73.33

2

Nữ

44

26.67

100.00

 

Tổng số

165

100.00

 

 

3. Xét theo cơ cấu về trình độ học vấn gồm bốn nhóm tương ứng dưới đây:

 

Mã số

Trình độ học vấn

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Trung học cơ sở

14

8.70

8.70

2

Trung học phổ thông

55

34.16

42.86

3

Trung cấp

59

36.65

79.50

4

Cao đẳng, đại học

33

20.50

100.00

 

Tổng số

165

100.00

 

 

4. Xét theo chức danh hiện đang đảm nhiệm ở cấp xã, phường gồm có:

 

Mã số

Chức danh

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Bí thư đảng ủy xã phường

8

5.03

5.03

2

Phó bí thư đảng ủy xã phường

6

3.77

8.81

3

Chủ tịch xã phường

8

5.03

13.84

4

Phó chủ tịch xã phường

16

10.06

23.90

5

Cán bộ tư pháp

25

15.72

39.62

6

Chức danh khác

96

60.38

100.00

 

Tổng số

159

100.00

 

 

Các chức danh khác gồm có: Bí thư đoàn xã, phường; Chủ tịch MTTQ xã, phường; Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, phường; Công an xã; Phó chủ tịch HĐND xã, phường; Đội trưởng đội thuế...

5. Xét theo địa bàn đang làm việc hiện nay gồm có:

Thành phố:

Mã số

Thành phố

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Nội thành

94

88.68

88.68

2

Ngoại thành

12

11.32

100.00

 

Tổng số

106

100.00

 

 

Nông thôn:

Mã số

Nông thôn

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Đồng bằng

21

33.33

33.33

2

Trung du

9

14.29

47.62

3

Miền núi

3363

52.38

100.00

 

Tổng số

 

100.00

 

 

Kết luận: Các cán bộ quản lý cấp xã, phường tham gia cuộc khảo sát, thăm dò dư luận xã hội về đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện nay phân bố tương đối đều ở các nhóm tuổi dưới 30 tuổi đến trên 50 tuổi; cán bộ nam chiếm khoảng 3/4 và cán bộ nữ khoảng 1/4. Xét theo trình độ học vấn, chỉ có 8,70% trong số họ tốt nghiệp trung học cơ sở, tập trung hầu hết ở khu vực nông thôn trung du và miền núi; có 20,50% đạt đến trình độ tốt nghiệp cao đẳng và đại học, đa số họ hiện đang làm việc ở khu vực đô thị, tập trung ở phường nội thành; số còn lại tốt nghiệp trung học phổ thông và trung cấp, phân bố đều ở khu vực ngoại thành đô thị và nông thôn đồng bằng. Chức danh mà cán bộ quản lý cấp xã phường hiện đang đảm nhiệm cũng rất đa dạng, chủ yếu là Bí thư, Phó bí thư đảng ủy xã phường; Chủ tịch, Phó chủ tịch xã phường; Cán bộ tư pháp. Ngoài ra còn các chức danh khác như Bí thư đoàn xã, phường; Chủ tịch MTTQ xã, phường; Chủ tịch Hội Phụ nữ xã, phường; Công an xã; Phó chủ tịch HĐND xã, phường; Đội trưởng đội thuế… Những đặc điểm xã hội trên đảm bảo được tính thuần nhất và tính đại diện của đối tượng được khảo sát.

2. Phân tích thực trạng công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý qua dư luận xã hội trong đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã phường

2.1. Vai trò của kiến thức pháp luật đối với cán bộ quản lý cấp xã phường:

Sự đánh giá của dư luận xã hội về một vấn đề xã hội nào đó bao giờ cũng phải dựa trên những cơ sở thực tiễn nhất định của nó. Có như vậy thì sự đánh giá, phán xét đó mới đảm bảo độ tin cậy cao. Tìm hiểu trình độ kiến thức về pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã phường chúng tôi được biết có 53,33% số người được hỏi chưa hề được đào tạo, trang bị kiến thức về pháp luật; số có trình độ sơ cấp chiếm 18,18%, trình độ trung cấp chiếm 112,12%, trình độ đại học luật chiếm 15,15% và có 2 người (1,21%) đạt trình độ sau đại học. Những người có trình độ trung cấp và đại học luật chủ yếu làm việc ở nội thành đô thị. Điều đó cho thấy sự trang bị kiến thức về pháp luật cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã phường tỷ lệ thuận với sự thuận lợi: về địa bàn cơ trú của họ. Càng ở đô thị, nông thôn đồng bằng càng có nhiều cán bộ quản lý cấp xã phường được trang bị kiến thức về pháp luật; ngược lại, càng ở xa đô thị, ở khu vực nông thôn trung du và miền núi càng ít người trang bị kiến thức về pháp luật.

Vậy vai trò của kiến thức pháp luật quan trọng, cần thiết như thế nào đối với cán bộ quản lý cấp xã phường? Thông tin thu được về câu hỏi này như sau:

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất cần thiết

130

78.79

78.79

2

Cần thiết

35

21.21

100.00

 

Tổng số

165

100.00

 

 

Bảng D1. Vai trò của kiến thức pháp luật

Có ba phương án trả lời về vai trò của kiến thức pháp luật: một là rất cần thiết, hai là cần thiết, ba là có cũng được, không có cũng được. Trong ba cấp độ đó, có tới 130/165 người (chiếm 78,79%) khẳng định rằng kiến thức pháp luật rất cần thiết đối với cán bô quản lý cấp xã phường. Trong số này có mặt hầu hết những cán bộ đang công tác ở miền núi, cho thấy vai trò của kiến thức pháp luật là hết sức quan trọng đối với nông thôn miền núi; có 67/130 cán bộ (51,54%) thuộc nhóm chưa được đào tạo kiến thức về pháp luật, tức là càng những cán bộ xã phường chưa có kiến thức về pháp luật càng nhận thức sâu sắc về vai trò của kiến thức pháp luật đối với công việc của họ. Bảng D1 cũng cho thấy có 35/165 cán bộ (21,21%) cho rằng kiến thức pháp luật cần thiết đối với cán bộ quản lý cấp xã phường. Không có ai nói rằng kiến thức pháp luật là không cần thiết hay có cũng được mà không có cũng được.

Như vậy, tất cả cán bộ quản lý cấp xã phường đều khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của kiến thức pháp luật đối với công việc của họ. Điều đó được họ giải thích như sau:

- Cán bộ xã phường thường xuyên tiếp xúc trực tiếp giải quyết công việc với dân, nơi cuối cùng thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, vì vậy cán bộ xã phường cần được trang bị kiến thức pháp luật để giải quyết công việc ở tại địa bàn tốt hơn.

- Nhà nước có chủ trương đổi mới quản lý hành chính Nhà nước, cần phải nâng cao trình độ kiến thức pháp luật cho cán bộ làm tư pháp ở cơ sở, đẩy mạnh công tác tuyên truyển pháp luật trong đời sống nhân dân.

- Dân trí ngày càng cao, đòi hỏi cán bộ xã phường càng phải có trình độ mới đáp ứng nhu cầu làm việc của nhân dân.

- Xã phường là chính quyền địa phương nên người làm công tác xã phường rất cần thiết biết kiến thức pháp luật.

- Nếu cán bộ xã phường có trình độ pháp luật thì giải quyết công việc và thắc mắc của nhân dân được tốt hơn.

- Trình độ kiến thức pháp luật của cán bộ xã phường rất thấp, từ đó dẫn đến tình trạng nhiều khi giải quyết công việc sai nguyên tắc, thậm chí vi phạm pháp luật.

- Mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước đều được thực hiện ở xã phường, vì vậy cán bộ xã phường cần phải được đào tạo kiến thức pháp luật để hướng dẫn nhân dân thực hiện pháp luật tốt hơn. Xã phường là chính quyền địa phương nên người làm công tác xã phường rất cần thiết biết kiến thức pháp luật, nhiều khi công việc không cần đến nhiều ngành, nhiều cấp giải quyết nếu cán bộ có kiến thức pháp luật.

- Cán bộ xã phường là người gần dân nhất, giải quyết công việc của dân nên rất cần kiến thức pháp luật.

- Vùng sâu, vùng xa bà con hiểu biết pháp luật rất thấp, vì vậy cần tăng cường đào tạo cán bộ pháp luật cho vùng sâu, vùng xa.

- Thực tế ở địa phương chỉ làm theo kinh nghiệm mà không theo kiến thức pháp luật

2.2. Thực trạng nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý ở nước ta hiện nay

Cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá thế nào về thực trạng nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý ở nước ta hiện nay? Về vấn đề này chúng tôi đặt câu hỏi: Cán bộ pháp lý ở nước ta có đủ đáp ứng yêu cầu không? Kết quả khảo sát như sau:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Thiếu nhiều so với nhu cầu

71

43.29

43.29

2

Thiếu chút ít so với nhu cầu

10

6.10

49.39

3

Đủ đáp ứng nhu cầu

10

6.10

55.49

4

Thừa chút ít

8

4.88

60.37

5

Thừa nhiều

2

1.22

61.59

6

Chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu

63

38.41

100.00

 

Tổng số

164

100.00

 

 

Bảng D2: Nhu cầu sử dụng cán bộ pháp lý

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Do tốc độ đào tạo không kịp

54

33.13

33.13

2

Do tốc độ đào tạo tương đối phù hợp

18

11.04

44.17

3

Do tốc độ đào tạo lớn

8

4.91

49.08

4

Do không có kế hoạch phân bố hợp lý cán bộ pháp lý ở địa phương

81

49.69

98.77

5

Lý do khác

2

1.23

100.00

 

Tổng số

163

100.00

 

 

Bảng D3: Những căn cứ để đánh giá như ở bảng D2.

Các số liệu trong bảng D2 cho thấy có 71/164 (chiếm 43,29%) người trả lời cho rằng quy mô đào tạo cử nhân luật như hiện nay còn thiếu nhiều và 10 người (chiếm 6,10%) nói là thiếu chút ít so với nhu cầu xã hội. Trong số này có đủ đại diện tương đối đồng đều ở các nhóm tuổi và ở các địa bàn cư trú. Tương ứng với bảng D3, căn cứ để họ đánh giá cán bộ pháp lý còn thiếu nhiều so với nhu cầu xã hội là do tốc độ đào tạo không theo kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; có 33,13% số người trả lời cho là như vậy. Tất nhiên còn một lý do khác để họ đánh giá thiếu nhiều là do không có kế hoạch phân bố hợp lý cán bộ pháp lý ở các vùng, các đại phương. Khi trả lời phỏng vấn cá nhân, họ giải thích thêm như sau:

- Thực ra số cán bộ có trình độ pháp luật trên tổng số dân cư ở nước ta là thấp, tình trạng thừa ở thành phố lớn nhưng vẫn thiếu ở vùng sâu, vùng xa.

- Đào tạo ngành Luật so với nhu cầu hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Sinh viên học xong không chịu về địa phương công tác, cần tăng cường đào tạo cán bộ pháp lý cho cơ sở.

- Chỉ đào tạo ở thành phố, vùng sâu vùng xa còn thiếu nhiều cán bộ.

- Thiếu cán bộ pháp luật là thực tế, còn thừa chỉ là tình trạng giả tạo, nhiều người không muốn làm việc ở những vùng khó khăn.

- Ở địa phương một ngày giải quyết rất nhiều công việc liên quan đến pháp luật, vì vậy cán bộ xã phường rất cần có kiến thức pháp luật.

- Người được đào tạo pháp luật ở nước ta chưa đáp ứng được thực tế, cán bộ làm công tác tư pháp ở địa phương không đáp ứng được công việc dẫn đến nhiều khi làm sai.

Các số liệu trong bảng D2 cũng cho thấy chỉ có 10 người (6,10%) đánh giá số lượng cán bộ pháp lý hiện nay đủ đáp ứng yêu cầu xã hội. Sở dĩ họ đánh giá như vậy là vì thấy tốc độ đào tạo tương đối phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cũng có rất ít (10 người, chiếm 6,00%) cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá số lượng cán bộ pháp lý hiện nay thừa nhiều hoặc thừa chút ít so với nhu cầu xã hội do tốc độ đào tạo lớn hơn so với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhận định này dưa vào các căn cứ sau:

- Quá nhiều cơ sở đào tạo tại chức Luật, đào tạo hệ chuyên tu, tại chức phải chú ý đến chất lượng.

- Nhà nước quan tâm đến đào tạo cán bộ pháp luật nhưng sinh viên ra trường lại không có việc và làm trái ngành nghề.

- Trong thực tế chỉ một số ít cán bộ được đào tạo là được phân công công việc.

Chiếm một tỷ lệ đáng kể (63/164 người, 38,41%) những cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá số lượng cán bộ pháp lý hiện nay đang trong tình trạng là chỗ thừa vẫn thừa mà chỗ thiếu vẫn thiếu. Số này tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn trung du và miền núi, trong nhóm cán bộ chưa được trang bị kiến thức về pháp luật. Sở dĩ họ đánh giá tình trạng chỗ thừa vẫn thừa mà chỗ thiếu vẫn thiếu là do không có kế hoạch phân bố hợp lý cán bộ pháp lý ở các vùng, các địa phương. Khi trả lời phỏng vấn cá nhân, họ giải thích thêm như sau:

- Do bị ràng buộc bởi cơ chế, sự phân công thiếu hợp lý, chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu.

- Sắp xếp cán bộ không đúng với chuyên môn đào tạo.

- Tình trạng thừa cán bộ pháp luật chỉ ở thành phố, còn ở vùng sâu vùng xa vẫn thiếu cán bộ pháp luật.

- Người được đào tạo pháp luật không muốn làm việc ở vùng sâu, vùng xa nên chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu.

- Cán bộ xã phường không phải là công chức, do đó nhiều người đã được đào tạo dù không có việc nhưng cũng không muốn làm việc ở cấp xã phường.

- Trường luật đào tạo nhiều sinh viên nhưng chưa có kế hoạch phân bổ, sinh viên không có việc làm nhưng cán bộ pháp luật ở địa phương vẫn thiếu.

- Cán bộ pháp luật thì thiếu nhiều nhưng sinh viên đào tạo ra vẫn không xin được việc.

- Do sinh hoạt quá chênh lệch giữa nông thôn và thành thị nên sinh viên ra trường không muốn về nông thôn, Nhà nước chưa có chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm việc ở vùng nông thôn.

- Người tốt nghiệp đại học gần như không muốn về nông thôn, chí muốn làm việc ở thành thị dù không đúng chuyên môn đào tạo.

3. Thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của tiểu dự án là điều tra thăm dò dư luận xã hội về công tác đào tạo và chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý. Vậy dư luận xã hội trong đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá như thế nào vể chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân luật ở nước ta hiện nay? Kết quả thông tin thu thập được thể hiện ở bảng D4:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Rất tốt

14

8.59

8.59

2

Tốt

69

42.33

50.92

3

Khá

51

31.29

82.21

4

Trung bình

26

15.95

98.16

5

Chưa tốt

3

1.84

100.00

 

Tổng số

163

100.00

 

 

Bảng D4: Đánh giá về chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật.

Đây là câu hỏi chung được đặt ra với tất cả các đối tượng trả lời bảng hỏi. Do đó, chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo cử nhân luật cũng được chúng tôi phân chia theo năm mức độ cụ thể: rất tốt, tốt, khá, trung bình và chưa tốt. Các số liệu trong bảng D4 cho thấy có 14/163 cán bộ xã phường (chiếm 8,59%) đánh giá chất lượng đào tạo rất tốt; 69/163 người (chiếm 42,33%) đánh giá chất lượng đào tạo tốt và 51 người (31,29%) đánh giá chất lượng đào tạo khá. Tổng cộng, số cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá chất lượng đào tạo khá, tốt và rất tốt chiếm tới 82,21%. Chỉ có 26 cán bộ xã phường (15,95%) đánh giá chất lượng đào tạo trung bình và 3 người (1,84%) đánh giá chất lượng đào tạo chưa tốt.

Như vậy, phần lớn cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay đạt kết quả khá, tốt và rất tốt. Bên cạnh đó còn có một bộ phận nhỏ đánh giá chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt. Vậy đâu là những nguyên nhân đưa tới chất lượng đào tạo tốt và đâu là những nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo bị đánh giá là trung bình hoặc chưa tốt?

4. Các nguyên nhân giúp cho công tác đào tạo luật đạt chất lượng khá tốt

Giống như với các đối tượng xã hội được khảo sát khác, để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đưa ra câu hỏi: Nếu đánh giá chất lượng đào tạo là khá, tốt hoặc rất tốt xin cho biết do nguyên nhân nào? Kết quả trả lời của cán bộ quản lý cấp xã phường như sau:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Do có nội dung và chương trình đào tạo chặt chẽ, khoa học

87

28.43

28.43

2

Do có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao và tâm huyết

118

38.56

66.99

3

Do sinh viên có ý thức cao trong học tập và nghiên cứu

53

17.32

84.31

4

Do có cơ sở vật chất tốt

10

3.27

87.58

5

Do phương pháp đào tạo kết hợp chặt chẽ lý thuyết với thực tế

37

12.09

99.67

6

Nguyên nhân khác

1

0.33

100.00

 

Tổng số

306

100.00

 

 

Bảng D5: Nguyên nhân giúp cho chất lượng đào tạo luật đạt loại khá tốt

Nhìn vào bảng D5 có thể thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá chất lượng đào tạo luật khá, tốt hoặc rất tốt nằm ở cả 5 yếu tố:

a) Do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao. Khi xây dựng được một chương trình đào tạo có kết cấu chặt chẽ, phù hợp với quỹ thời gian đào tạo; nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao thì sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và làm nên chất lượng đào tạo tốt. Có 87/306 (chiếm 28,43%) cán bộ xã phường đề cập tới nguyên nhân này. Đây là một tỷ lệ đáng kể xét trong tương quan với các nguyên nhân khác được đề cập. Nguyên nhân này chủ yếu được xem xét kết hợp với các nguyên nhân khác chứ không phải chỉ một mình nó làm nên chất lượng đào tạo tốt.

b) Do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Có được nội dung đào tạo mang tính khoa học và tính thực tiễn cao nhưng còn cần một đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề thì mới truyền tải tới sinh viên những kiến thức khoa học xã hội và khoa học pháp lý, tạo cho sinh viên một hành trang kiến thức tốt để họ vững vàng bước vào đời. Với 118/306 lượt (chiếm 38,56%) cán bộ xã phường nói đến nguyên nhân này, đây là tỷ lệ cao nhất trong số các nguyên nhân, chứng tỏ cán bộ xã phường cũng rất coi trọng vai trò của thầy cô giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Nói đến nguyên nhân do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề, họ giải thích thêm như sau:

- Dư luận đều cho rằng cán bộ giảng dạy trường luật có trình độ cao, chất lượng tương đối đều nhưng cần chú ý hơn đến kiến thức thực tiễn.

- Nhà nước quan tâm đến giáo viên, do đó giáo viên yên tâm công tác tốt, chất lượng đào tạo cũng được nâng lên.

- Tâm huyết với nghề giúp giáo viên truyền đạt kiến thức đối với sinh viên rất tốt

c) Do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Công nghệ giảng dạy đại học hiện đại thường lấy sinh viên làm trung tâm của hoạt động đào tạo. Chỉ có thể có chất lượng đào tạo tốt khi sinh viên chủ động tích cực và có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Trong số cán bộ xã phường tham gia cuộc khảo sát có 53/306 lượt người (chiếm 17,32%) cho rằng công tác đào tạo đạt chất lượng khá tốt là do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu. Họ cũng cho rằng yếu tố này chỉ có ý nghĩa khi nó nằm trong sự phối kết hợp với các nguyên nhân khác.

d) Do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Dĩ nhiên cơ sở vật chất tốt chưa phải là tất cả, nhưng các điều kiện vật chất như thư viện, hội trường, thiết bị âm thanh, ánh sáng, giáo trình, tài liệu tham khảo... lại không thể thiếu đối với hoạt động giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên. Thực ra nguyên nhân này được rất ít cán bộ xã phường đề cập đến, chỉ có 10/306 lượt người (3,27%) nhắc đến nó. Cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu dạy và học chỉ là yếu tố cần chứ chưa phải đủ để làm nên chất lượng đào tạo tốt.

e) Do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn. Muốn có chất lượng đào tạo tốt thì phải có phương pháp đào tạo phù hợp với nội dung và chương trình đào tạo. Nguyên nhân này được 37/306 lượt người trả lời (chiếm 12,09%) nói đến. Đây là một tỷ lệ thấp, chứng tỏ còn có khoảng cách xa giữa lý luận và thực tiễn trong phương pháp giảng dạy của giảng viên. Cán bộ xã phường giải thích:

- Sinh viên thiếu kiến thức thực tế

- Nội dung đào tạo cần luôn luôn đổi mới phù hợp với thực tế, giáo trình cho sinh viên đầy đủ hơn.

- Có đội ngũ giáo viên nhiệt tình tâm huyết, cơ sở đào tạo tốt, nhưng phương pháp chưa kết hợp lý thuyết với thực tiễn.

- Cán bộ xã phường ở địa phương gần như không ai có bằng chính quy, khi đi học tại chức thì lại quá thiếu kiến thức sát với thực tế.

- Cán bộ đi học kết hợp vừa học vừa làm, do đó học phải đi đôi với thực tiễn.

5. Các nguyên nhân làm cho chất lượng đào tạo bị đánh giá là trung bình hoặc chưa tốt.

Chúng ta biết rằng có tới 82,21% cán bộ xã phường đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo luật đạt loại khá tốt. Bên cạnh đó vẫn còn 17,79% trong số họ cho rằng chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này?

Dưới đây là bảng số liệu minh họa:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Do có nội dung và chương trình đào tạo chưa chặt chẽ và chưa mang tính khoa học cao

6

15.00

15.00

2

Do đội ngũ cán bộ giảng dạy còn thiếu có trình độ chưa đồng đều.

5

12.50

27.50

3

Do sinh viên thiếu ý thức trong học tập và nghiên cứu

5

12.50

40.00

4

Do thiếu cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

2

5.00

45.00

5

Do phương pháp đào tạo chưa kết hợp lý thuyết với thực tế

2

5.00

50.00

6

Lý do khác

1

2.50

52.50

 

Chọn 13

2

5.00

57.50

 

Chọn 14

1

2.50

60.00

 

Chọn 15

1

2.50

62.50

 

Chọn 23

2

5 00

67.50

 

Chọn 24

1

2.50

70.00

 

Chọn 35

5

12.50

82.50

 

Chọn 45

2

5.00

8750

 

Chọn 235

1

2.50

90.00

 

Chọn 245

1

2.50

92.50

 

Chọn 345

2

5.00

97.50

 

Chọn 1235

1

2.50

100.00

 

Tổng số

40

100.00

 

 

Bảng D6: Các nguyên nhân dẫn tới chất lượng đào tạo trung bình và chưa tốt

Các số liệu ở bảng D6 cho thấy nguyên nhân chủ yếu khiến cho một bộ phận cán bộ xã phường đánh giá chất lượng đào tạo luật trung bình hoặc chưa tốt, bao gồm:

a) Do nội dung chương trình đào tạo của nhà trường chưa chặt chẽ và chưa mang tính khoa học cao. Nguyên nhân này được 11/40 lượt người trả lời đề cập tới, chiếm 27,50%.

b) Do đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường còn thiếu và trình độ không đều. Có 11/40 lượt người trả lời đề cập tới nguyên nhân này, chiếm 27,50%.

c) Do sinh viên của trường thiếu ý thức trong học tập, nghiên cứu. Nguyên nhân này được 17/40 lượt người trả lời đề cập tới, chiếm 40,52%.

d) Do thiếu cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Nguyên nhân này được 9/40 lượt người trả lời đề cập tới, chiếm 22,50%.

e) Do phương pháp đào tạo của nhà trường chưa gắn lý thuyết với thực tiễn. Có 15/40 lượt người trả lời đề cập tói nguyên nhân này, chiếm 37,50%.

Một số cán bộ xã phường nhìn nhận hai hoặc ba nguyên nhân cùng kết hợp dẫn tới chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý trung bình hoặc chưa tốt. Có một số ý kiến giải thích thêm về các nguyên nhân đượe đề cập như sau:

- Đầu vào tuyển chọn chưa chặt chẽ, thái độ học tập của sinh viên còn lơ là. Một số sinh viên học đối phó nên ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

- Học viên tại chức kết hợp phải kết hợp vừa học vừa làm nên chưa chuyên tâm học tập, kết quả học tập nhiều khi còn kém.

- Hiện nay quá nhiều cơ sở đào tạo pháp luật chạy theo cơ chế thị trường nên chất lượng đào tạo kém.

- Kiến thức của cán bộ giảng dạy chưa đồng đều, đào tạo không chú ý việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học viên.

Kết luận: Phần lớn cán bộ quản lý cấp xã phường đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo cử nhân luật tại các cơ sở đào tạo luật hiện nay đạt kết quả khá, tốt và rất tốt. Có được kết quả đó là do nhiều nguyên nhân khác nhau, các nguyên nhân chủ yếu bao gồm: một là, do nhà trường có nội dung chương trình đào tạo chặt chẽ và mang tính khoa học cao; hai là, do nhà trường có đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ cao, nhiệt tình và tâm huyết với nghề; ba là, do sinh viên của trường có ý thức cao trong học tập, nghiên cứu; bốn là, do nhà trường có cơ sở vật chất tốt đáp ứng yêu cầu giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên và năm là, do nhà trường có phương pháp đào tạo kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và thực tiễn. Các nguyên nhân này được cán bộ quản lý cấp xã phường nhìn nhận trong sự kết hợp giữa chúng với nhau, nhờ sự kết hợp đó mới giúp cho chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý đạt chất lượng tốt. Bên cạnh đó còn có một bộ phận nhỏ đánh giá chất lượng đào tạo trung bình hoặc chưa tốt vì những nguyên nhân ngược lại với các nguyên nhân kể trên. Điều đó đòi hỏi các cơ sở đào tạo luật cần phát huy hơn nữa các thế mạnh của mình và tìm cách hạn chế những nhược điểm còn tồn tại.

Một yêu cầu hết sức quan trọng đối với các cuộc thăm dò dư luận xã hội là cần phải kiểm tra độ tin cậy của những thông tin thu được. Để kiểm tra độ tin cậy của những thông tin thu được về thực trạng chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý, những nguyên nhân của thực trạng đó qua những nhận định, đánh giá của cán bộ quản lý cấp xã phường, chúng tồi đề nghị cán bộ quản lý cấp xã phường cho biết những nhận định của họ dựa trên cơ sở nào?

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Vì bản thân đã theo học luật

51

21.61

21.61

2

Nghe các sinh viên đang theo học luật về nói lại

66

27.97

49.58

3

Nghe qua dư luận trong nhân dân

51

21.61

71.19

4

Nghe qua đánh giá phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng

56

23.73

94.92

5

Căn cứ khác

11

4.66

99.58

 

Tổng số

236

100.00

 

 

Bảng D7. Cơ sở thông tin để đưa ra các nhận định

Các kết quả trong bảng D7 cho thấy những nguồn thông tin làm cơ sở để cán bộ xã phường đưa ra các nhận định, đánh giá về chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tương đối đa dạng và phân bố tương đối đồng đều ở cả bốn nguồn: bản thân đã theo học luật; nghe các sinh viên đang theo học luật về nói lại; nghe qua dư luận trong nhân dân và nghe qua đánh giá phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy, các thông tin đảm báo chất lượng và có độ tin cậy cao.

6. Sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn

Thực trạng chất lượng đào tạo cán bộ pháp lý tại các cơ sở đào tạo luật còn biểu hiện ở sự áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của họ. Vậy giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn có sự bất cập không? Kết quả là 118/162 người (chiếm 72,84%) cho rằng có sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Chỉ có 30/162 người (chiếm 18,52%) cho là không có sự bất cập. Dựa trên những cơ sở nào mà cán bộ quản lý cấp xã phường có sự đánh giá như trên?

Dưới đây là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng có sự bất cập:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Chương trình đào tạo thiên về lý thuyết, thiếu tính thực tế

56

25.11

25.11

2

Thời gian thực tập của sinh viên chính quy chưa mang lại hiệu quả

25

11.21

36.32

3

Học viên tại chức không được thực tập nên không có thời gian cọ sát thực tế

65

29.15

65.47

4

Một bộ phận không làm đúng chuyên ngành được đào tạo

30

13.45

78.92

5

Nhà nước đào tạo cử nhân luật nhưng chưa chú ý nhiều tới việc sử dụng họ có hiệu quả

47

21.08

100.00

 

Tổng số

223

100.00

 

 

Bảng D8: Những nguyên nhân dẫn đến sự bất cập.

Các ý kiến trả lời trong bảng D8 tập trung vào năm nguyên nhân cơ bản tạo ra sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật:

a) Chương trình đào tạo thiên về lý thuyết, thiếu tính thực tế. Vì lý do này nên nhiều cử nhân luật ra trường được tuyển dụng đã không thể phát huy ngay kiến thức pháp luật vào thực tiễn công việc được giao, lúng túng trước thực tế cuộc sống sôi động. Đó là một biểu hiện của sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Có 56/223 lượt người trả lời (chiếm 25,11%) nói tới nguyên nhân này. Họ giải thích thêm như sau:

- Thực tế và lý thuyết không đi đôi với nhau. Nhiều sinh viên tốt nghiệp trường luật mà chưa hề dự một phiên toà nào, như thế là thiếu thực tế, học viên tại chức thì lại càng thiếu thực tế.

- Nội dung đào tạo thiên về lý thuyết, không có thực tế; cử nhân được đào tạo lĩnh vực pháp luật nhưng lại làm việc ở lĩnh vực khác.

- Thiếu kiến thức thức tiễn nên hiệu quả công việc chưa cao, do không làm đúng chuyên môn được đào tạo nên chất lượng đội ngũ cán bộ chưa tốt.

- Sinh viên ra trường lúng túng trước thực tế.

b) Thời gian thực tập của sinh viên chính quy chưa mang lại hiệu quả. Một số sinh viên chính quy thậm chí còn coi thời gian thực tập là để nghỉ xả hơi sau mấy năm học tập vất vả. Có 25/223 lượt người trả lời nhắc đến nguyên nhân này, chiếm 11,21%.

c) Học viên tại chức không được thực tập nên không có thời gian cọ sát thực tế. Nguyên nhân này được 65/223 lượt cán bộ xã phường nói đến, chiếm 29,15%. Có thêm một số ý kiến giải thích cho nguyên nhân này:

- Đối với sinh viên tại chức không nên dùng hình thức viết khoá luận vì chỉ là sự sao chép của nhau.

- Nhà trường nên liên hệ với các cơ quan pháp luật ở địa phương nơi mở lớp tại chức, đề nghị các cơ quan đó tạo điều kiện giúp đỡ để học viên tại chức tự tìm hiểu, thâm nhập thực tế, nâng cao hiệu quả học tập.

d) Một bộ phận cử nhân luật không làm đúng chuyên ngành được đào tạo. Đây là một bất cập lớn giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Có 30/223 lượt người trả lời nhắc đến nguyên nhân này, chiếm 13,45%. Các ý kiến giải thích như sau:

- Cần đưa kiến thức thực tiễn vào chương trình đào tạo, điều chỉnh cán bộ làm việc cho đúng với chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo.

- Hiện nay đào tạo nhiều nhưng sử dụng không đúng chuyên môn.

- Nhu cầu đào tạo và vấn đề giải quyết việc làm hiện nay là bất cập.

- Phân công công tác không đúng với ngành nghề được đào tạo.

- Nhà nước khi tuyển cán bộ chỉ chú trọng đến bằng cấp mà không chú trọng đến nhiều vấn đề khác, hơn nữa nếu ra trường cứ chờ đúng nghề thì biết đến bao giờ mới xin được việc.

- Sinh viên ra trường không xin được việc nhưng người không có trình độ thì lại có việc sau đó mới đi học luật.

e) Nhà nước đào tạo cử nhân luật nhưng chưa chú ý nhiều tới việc sử dụng họ có hiệu quả. Nguyên nhân này được 47/223 lượt cán bộ xã phường nói đến, chiếm 21,08%. Có thêm một số ý kiến giải thích cho nguyên nhân này:

- Nhà nước bỏ kinh phí để đào tạo nhưng lại không sử dụng hết, thế là lãng phí.

- Ngành nào cũng cần phải có kiến thức pháp luật thì cán bộ mới làm tốt được.

Các yếu tố đảm bảo không có sự bất cập bao gồm:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Vì chương trình đào tạo của nhà trường đã kết hợp lý thuyết với thực tiễn

10

17.54

17.54

2

Vì chất lượng đào tạo đã đáp ứng được yêu cầu sử dụng

16

28.07

45.61

3

Vì cán bộ cử nhân luật đã đáp ứng được công việc hàng ngày

20

35.09

80.70

4

Vì xã hội đánh giá cao vai trò của cử nhân luât

10

17.54

98.25

5

Lý do khác

1

1.75

100.00

 

Tổng số

57

100.00

 

 

Bảng D9: Các yếu tố đảm bảo không có sự bất cập

Chỉ có 33 cán bộ xã phường khẳng định rằng không có sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật, chiếm một tỷ lệ thấp. Các lý do mà họ đưa ra lựa chọn bao gồm:

a) Vì chương trình đào tạo của nhà trường đã kết hợp lý thuyết với thực tiễn. Có 10/57 lượt người trả lời đề cập tới nguyên nhân này, chiếm 17,54%.

b) Vì chất lượng đào tạo đã đáp ứng được yêu cầu sử dụng. Yếu tố này được 16/57 lượt cán bộ xã phường nói đến, chiếm 28,07%. Họ đánh giá chất lượng đào tạo của trường Đại học Luật Hà Nội là tốt.

c) Vì cán bộ cử nhân luật đã đáp ứng được công việc hàng ngày. Có 20/57 lượt người trả lời đề cập tới nguyên nhân này, chiếm 35,09%. Những người này cho rằng cán bộ pháp lý đã sử dụng kiến thức được học để giải quyết công việc. Khi có kiến thức pháp luật thì giải quyết công việc tốt hơn.

d) Vì xã hội đánh giá cao vai trò của cử nhân luật. Yếu tố này được 10/57 lượt cán bộ xã phường nói đến, chiếm 17,54%. Sở dĩ họ đánh giá như vậy vì dân trí càng cao thì vai trò của cử nhân luật càng được đánh giá cao. Nhiều cán bộ tốt nghiệp ngành luật làm tốt công việc, được nhân dân tin cậy.

Kết luận: Phần lớn cán bộ quản lý cấp xã phường tham gia cuộc thăm dò dư luận xã hội (chiếm 72,84%) cho rằng có sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó có năm nguyên nhân cơ bản: một là, nội dung chương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo luật còn thiên về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn; hai là, cuối khoá học sinh viên chính quy được bố trí đi thực tập, nhưng thời gian thực tập của sinh viên chính quy chưa mang lại hiệu quả thiết thực; ba là, do đặc thù của loại hình đào tạo tại chức, học viên tại chức không được đi thực tập nên không có thời gian cọ sát thực tế; bốn là, một bộ phận cán bộ tốt nghiệp ngành luật không làm đúng chuyên ngành được đào tạo nên không phát huy được kiến thức vào công việc được giao; năm là, Nhà nước đào tạo cử nhân luật nhưng chưa chú ý nhiều tới việc sử dụng họ một cách có hiệu quả. Chỉ có 30/162 người (chiếm 18,52%) cho là không có sự bất cập giữa trình độ được đào tạo với việc áp dụng kiến thức pháp luật trong thực tiễn công tác của cán bộ tốt nghiệp ngành luật.

7. Nhà trường cần rèn luyện cho sinh viên những phẩm chất nghề nghiệp gì?

7.1. Một vấn đề có tính bức xúc liên quan tới hiệu quả sử dụng cán bộ tốt nghiệp ngành luật đang được thực tiễn đặt ra là Nhà trường ĐH Luật cần rèn luyện cho sinh viên những phẩm chất nghề nghiệp gì để khi ra trường có thể làm việc tốt? Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đưa ra 4 phẩm chất sau:

a) Có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý.

b) Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.

c) Có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người.

d) Có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản.

Kết quả xử lỷ thông tin như sau:

 

Mã số

Các phương án trả lời

Số lượng

Tỷ lệ

Cộng dồn

1

Có bản lĩnh chính trị vững vàng

143

50.00

50.00

2

Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn

53

18.53

68.53

3

Gó kỹ năng diễn đạt, trình bày vấn đề trước nhiều người

46

16.08

34.62

4

Có kỹ năng tốt trong xây dựng văn bản

44

15.38

100.00

 

Tổng số

286

100.00

 

 

Bảng D10: Các phẩm chất nghề nghiệp cần thiết cho cử nhân luật.

Quan sát các số liệu trong bảng D10 chúng ta thấy các phẩm chất nghề nghiệp được đánh giá như sau:

- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghể nghiệp và lối sống phù hợp với người cán bộ pháp lý. Với 143/286 lượt người trả lời đề cập đến, chiếm 50,00%, đây là phẩm chất nghề nghiệp được nhiều người đánh giá quan trọng nhất. Tính chất quan trọng này được họ giải thích bằng các lý do:

- Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Đảng CS cầm quyền vì vậy những cán bộ nhất là trong ngành pháp luật càng cần phải có đạo đức, phẩm chất chính trị tốt, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng.

- Cán bộ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phải có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực làm việc.

- Nếu không có đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị thì cán bộ dễ bị tha hoá, kỹ năng diễn đạt trình bày là vấn đề không thể thiếu được của cán bộ làm công tác pháp luật.

- Bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp là không thể thiếu được đối với cán bộ pháp luật.

7.2. Đạo đức nghề nghiệp là phẩm chất rất cần cho công việc, mới đảm bảo công bằng xã hội. Thiếu đạo đức nghề nghiệp là mất cái gốc của sự công bằng xã hội. Nếu không có đạo đức nghề nghiệp sẽ làm suy thoái chuẩn mực đạo đức, dẫn đến vi phạm pháp luật.

7.3. Có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Phẩm chất này được 53/286 lượt người trả lời nói đến, chiếm 18,53%. Đây là một tỷ lệ thấp, chứng tỏ ít người coi trọng phẩm chất này. Còn những người đánh giá cao phẩm chất này đề nghị việc đào tạo cán bộ pháp lý cần rèn luyện cho họ có khả năng nghiên cứu và tổng kết thực tiễn. Nâng cao kiến thức thực tế và lý thuyết cho cán bộ làm công tác pháp luật.

7.4. Có kỹ năng diễn đạt, trình bày một vấn đề trước nhiều người. Phẩm chất này chỉ được 46/286 lượt cán bộ xã phường nói đến, chiếm 16,08%. Sự cần thiết của phẩm chất này được giải thích rằng: Là một cán bộ pháp luật thì không những có kiến thức pháp luật mà còn phải biết cách tuyên truyền pháp luật cho mọi người.

7.5. Có kỹ năng xây dựng, soạn thảo văn bản. Phẩm chất này cũng chỉ được 44/286 lượt cán bộ xã phường đề cập đến, chiếm 15,38%. Tính chất cần thiết của phẩm chất này được giải thích thêm: